ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------LƢƠNG HỒNG HẠNH
CHIẾN LƢỢC “TĂNG TRƢỞNG XANH” CỦA
HÀN QUỐC
VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Châu Á học
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------LƢƠNG HỒNG HẠNH
CHIẾN LƢỢC “TĂNG TRƢỞNG XANH”
CỦA HÀN QUỐC
VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học
Mã số: 603150
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lý Xuân Chung
Hà Nội - 2014
LỜI CẢM ƠN
Tính tất yếu của Tăng trưởng xanh đối với Hàn Quốc ................. 20
1.2.1. Nhu cầu hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường và nâng cao chất
lượng cuộc sống cho người dân........................................................ 21
1.2.2. Nhu cầu hạn chế rủi ro về năng lượng ............................................. 24
1.2.3. Nhu cầu về một động cơ tăng trưởng kinh tế mới ............................ 26
Chƣơng 2. Khái quát Chiến lƣợc Tăng trƣởng xanh của Hàn Quốc... 29
2.1. Các chiến lược và kế hoạch trọng điểm ............................................. 29
2.1.1. Gói kích cầu Thỏa thuận xanh mới (Green New Deal) .................... 29
2.1.2. Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh, ít các- bon .................... 31
2.1.3. Kế hoạch 5 năm về Tăng trưởng xanh (giai đoạn 2009 – 2013) ...... 33
2.2. Những lĩnh vực chủ yếu trong Chiến lược quốc gia và Kế hoạch 5 năm
về Tăng trưởng xanh .................................................................................. 36
2.2.1. Biến đổi khí hậu ................................................................................ 36
2.2.2. Hiệu quả năng lượng......................................................................... 41
2.2.3. Năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân ..................................... 43
1
2.2.4. Giao thông vận tải, các thành phố xanh và hiệu quả nhiên liệu ...... 48
2.2.5. Nước và cơ sở hạ tầng sinh thái ....................................................... 52
2.2.6. Công nghệ xanh và động cơ tăng trưởng trong tương lai ................ 54
2.3. Về cơ chế điều hành và thực hiện ...................................................... 59
2.3.1. Ủy ban Tổng thống về Tăng trưởng xanh ......................................... 59
2.3.2. Luật khung về Tăng trưởng xanh, ít các-bon .................................... 61
2.3.3. Cải cách chính sách và cải cách tài chính ........................................ 65
2.3.4. Quy trình và sự tham gia của các tổ chức ........................................ 68
2.4. Chiến lược Tăng trưởng xanh dưới thời Tổng thống Park Geun-hye
CO2e
Carbon Dioxide Equivalent
CO2 tương đương
EF
Ecological Footprint
Dấu chân sinh thái
EPI
Environmental Performance Index
Chỉ số hiệu suất môi trường
ESI
Environmental Sustainability Index
Chỉ số bền vững môi trường
ESS
Energy Storage Systems
Hệ thống lưu trữ năng lượng
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
Information Technology
Công nghệ thông tin
KWh
Kilowatt-hours
Kilôoát giờ
LED
Light Emitting Diode
Đi-ốt phát quang
OECD
Organization for Economic Co-operation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
PCGG
Presidential Committee on Green Growth
Uỷ ban Tổng thống về Tăng trưởng xanh
PPM
Parts Per Million
Một phần triệu
R&D
Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc
UNESCAP United Nations Economic and Social Commission for Asia
and the Pacific
Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương
của Liên hợp quốc
UNFCCC
United Nations Framework Convention on Climate Change
Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
USD
United States Dollar
Đồng đô la Mỹ
WB
World Bank
Ngân hàng Thế giới
5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Hình 1.1: Lượng phát thải
Nguồn: Chỉ số phát triển thế giới (World
CO2 (đơn vị: tấn/ đầu người)
Hình 1.4: Mức tiêu thụ điện
Nguồn: Như trên
của Hàn Quốc (đơn vị: KWh
bình quân đầu người)
Hình 2.1: Ba mục tiêu và 10
Nguồn: Ủy ban Tổng thống về Tăng
định hướng của Tăng trưởng
trưởng xanh.
xanh
Hình 2.2: Ngân sách Tăng
Nguồn: Sang Dae Choi (2014), The
trưởng xanh (đơn vị: Nghìn
Green Growth Movement in The
tỷ won)
Republic
of
Korea:
Tăng trưởng xanh
trưởng xanh.
Hình 3.1: Ngân sách Tăng Nguồn: Sang Dae Choi (2014), The
trưởng xanh (đơn vị: nghìn tỷ Green Growth Movement in The
won)
Republic
of
Korea:
Option
or
necessity? (Phong trào Tăng trưởng
xanh tại Hàn Quốc: lựa chọn hay tất
yếu?), World Bank, Korea green
growth partnership (Đối tác Tăng
trưởng xanh Hàn Quốc).
Hình 3.2: Ngành công nghiệp
Nguồn: Như trên
năng lượng tái tạo (đơn vị: tỷ
đô la Mỹ)
Hình 3.3: R&D xanh và đầu
sách theo khu vực
Hình 3.7: Tỷ lệ tăng trưởng
Nguồn: Như trên
GDP thực tế (đơn vị: %)
8
MỞ ĐẦU
Lý do lựa chọn đề tài
Kể từ năm 2012, khi Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn
Dũng chính thức phê duyệt “Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh thời
kỳ 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2050”, thuật ngữ Tăng trưởng xanh đã
trở nên không còn xa lạ đối với người dân Việt Nam. Tăng trưởng xanh đã
được đề cập trên các phương tiện thông tin đại chúng và trở thành chủ đề
khoa học của nhiều hội thảo, hội nghị, đề tài nghiên cứu các cấp...
Trong khi đó, Hàn Quốc – một quốc gia cũng thuộc châu Á – lại được
đánh giá là một trong những quốc gia đi đầu về Tăng trưởng xanh trên thế
giới. Xét từ góc độ những gần gũi về địa lý, văn hóa giữa hai nước và nền
tảng “Đối tác hợp tác chiến lược” từ năm 2009, việc Việt Nam tìm hiểu và
học hỏi những kinh nghiệm của Hàn Quốc trong quá trình thực hiện Tăng
trưởng xanh là cần thiết, có giá trị khoa học và thực tiễn nhất định.
Tính đến thời điểm này, Hàn Quốc đã xây dựng được một hệ thống cơ
sở lý luận về Tăng trưởng xanh, đồng thời cũng đã hoàn thành Kế hoạch 5
năm về Tăng trưởng xanh giai đoạn đầu tiên (từ năm 2009 đến năm 2013). Vì
vậy, việc nghiên cứu chiến lược Tăng trưởng xanh của Hàn Quốc không chỉ
góp phần củng cố cơ sở lý luận về Tăng trưởng xanh cho Việt Nam, mà còn
có thể đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam trong tiến trình thực thi Chiến lược
Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam; Sang Dae Choi (2014), “The Green
Growth Movement in The Republic of Korea: Option or necessity?”, The
World Bank, Korea green growth partnership…
Bên cạnh đó, còn có những tài liệu khác nghiên cứu sâu hơn vào các
vấn đề, lĩnh vực cụ thể trong chiến lược Tăng trưởng xanh của Hàn Quốc, như
10
chính sách cho Tăng trưởng xanh, luật Tăng trưởng xanh, vai trò của công
nghệ đối với Tăng trưởng xanh hay vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu... Ví
dụ: Kim Chung In (2009), 저탄소녹색성장과 향후 정책 방향 (Tăng trưởng
xanh, ít các-bon và phương hướng chính sách), 정책과 지식 포럼 446 회,
행정대학원, 서울대학교; Quốc hội Hàn Quốc (2009), 저탄소 녹색성장
기본법 (Luật khung về Tăng trưởng xanh, ít các-bon); Jones, R. S. and B.
Yoo, OECD Economics Department Working Papers No. 798 (2011), Korea's
Green Growth Strategy: Mitigating Climate Change and Developing New
Growth Engines; Mark A. Dutz, Siddharth Sharma, Policy Research Working
Paper 5932 (2012), Green Growth, Technology and Innovation;...
Tuy nhiên, những tài liệu này vẫn chưa tổng hợp được một cách đầy đủ
về những thành công cũng như trở ngại trong quá trình Hàn Quốc thực hiện
chiến lược Tăng trưởng xanh; đồng thời cũng chưa nêu lên được những thay
đổi của chiến lược Tăng trưởng xanh từ thời Tổng thống Lee Myung-bak đến
đời Tổng thống Park Geun-hye.
Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là đưa ra cái nhìn tổng quan về chiến lược Tăng
trưởng xanh của Hàn Quốc, đồng thời, chỉ ra những thành công cũng như trở
ngại của Hàn Quốc trong quá trình thực hiện Tăng trưởng xanh. Từ đó đưa ra
một số nhận xét và gợi ý cho Việt Nam.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong chương này, người viết sẽ nêu lên những thành tựu cũng như trở
ngại của Hàn Quốc trong quá trình thực thi Tăng trưởng xanh đến nay. Từ đó,
đưa ra một số bài học kinh nghiệm đáng lưu ý và một số gợi ý cho Việt Nam
trong tiến trình thực hiện Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh.
12
Chƣơng 1. Khái niệm Tăng trƣởng xanh và tính tất yếu của Tăng
trƣởng xanh đối với Hàn Quốc
1.1.
Khái niệm Tăng trưởng xanh (Green Growth/ 녹색성장)
1.1.1. Nguồn gốc khái niệm
Theo Matthew Dornan, nghiên cứu viên tại Trung tâm Chính sách
phát triển, trực thuộc Trường Chính sách công Crawford (Úc), “Tăng trưởng
xanh” tuy là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi hiện nay nhưng lịch sử của
nó lại rất ngắn. Thuật ngữ này hầu như không được sử dụng trước năm 2008,
cho đến khi Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (United Nations
Environment Programme, sau đây gọi tắt là UNEP) dẫn Sáng kiến nền kinh
tế xanh (Green Economy Initiative). [12]
Vì vậy, nếu truy nguyên nguồn gốc, ta cần nhận định một cách thận
trọng rằng, khái niệm Tăng trưởng xanh bắt nguồn cùng với sự đề xuất ý
tưởng “phát triển bền vững”. Vậy thuật ngữ “phát triển bền vững”
(Sustainable Development) xuất hiện từ khi nào?
Cuốn sách Những giới hạn đối với tăng trưởng (The limits to Growth)
do Câu lạc bộ Rome (Club of Rome) xuất bản năm 1972 công bố rằng, trong
vòng một thế kỷ tới, thế giới sẽ phải đối mặt với các giới hạn đối với tăng
trưởng. Từ đó, nhận thức về ô nhiễm môi trường và sự quan tâm đối với phát
Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị
về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc (UN Environment and
Development Conference) đã xác nhận lại khái niệm này và gửi đi một
thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ thông qua Tuyên bố
Rio (Rio Declaration) về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh
tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường. Tuyên bố này xác định rằng
bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế không nên bị tách ra trong quá
trình phát triển bền vững.
14
Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững
(còn gọi là Hội nghị Rio+10 hay Hội nghị Thượng đỉnh Johannesburg)
nhóm họp tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà
lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần
200 quốc gia, đã đánh giá những thành tựu của Chương trình nghị sự 21
(Agenda 21) và thảo luận về mục tiêu tương lai cũng như những kế hoạch
hành động cụ thể. Khái niệm về phát triển bền vững, đã được thảo luận trong
một thời gian dài trước đó, bao gồm ba hệ thống kết nối với nhau: tính bền
vững môi trường, tính bền vững xã hội và tính bền vững kinh tế.
Tuy nhiên, có một số chỉ trích cho rằng khái niệm phát triển bền vững
quá đơn giản và trừu tượng. (Peter Bartelmus, 1999) Do đó, khái niệm mới
về “Tăng trưởng xanh”, một khái niệm cụ thể hơn và áp dụng được cả với
hai đối tượng là các nước phát triển và các nước đang phát triển, đã được đề
xuất. [33]
Thuật ngữ “Tăng trưởng xanh” được công bố lần đầu tiên vào năm
2000 trên Tạp chí Economist. Sau đó, nó bắt đầu được thảo luận nghiêm túc
trong cộng đồng quốc tế kể từ Hội nghị Bộ trưởng về Môi trường và Phát
triển châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 5, vào năm 2005, do Ủy ban Kinh tế
thế hệ tương lai. [44]
Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Liên
hợp quốc (UN ESCAP) định nghĩa “Tăng trưởng xanh là chiến lược tìm
kiếm sự tối đa hóa sản lượng kinh tế trong khi tối thiểu hóa gánh nặng sinh
thái. Cách tiếp cận mới này cho phép tìm kiếm sự hài hòa giữa tăng trưởng
kinh tế và tính bền vững môi trường bằng việc thúc đẩy những thay đổi căn
bản trong phương thức sản xuất và tiêu dùng xã hội”.
1.1.3. Định nghĩa của Hàn Quốc
Theo tài liệu “Chiến lược thực hiện Tăng trưởng xanh, ít các-bon” của
Văn phòng Thủ tướng Chính phủ Hàn Quốc, Tăng trưởng xanh được hiểu là
16
một chiến lược bắt đầu bằng sự từ bỏ quan niệm lạc hậu là phát triển kinh tế
và bảo vệ môi trường không thể song hành với nhau, từ đó, hướng tới tối đa
hoá sự kết hợp giữa hai phạm trù này. [49]
Để hiểu rõ định nghĩa này, ta cần nhìn lại những quan điểm trong quá
khứ. Trước đây, những chính sách về môi trường thường tập trung vào
những giải pháp “hậu tăng trưởng” với tiêu chí “tăng trưởng trước, dọn sạch
sau” (grow first, clean up later). Vì vậy, rất nhiều lần, những chính sách này
bị rơi vào những cuộc tranh cãi không có hồi kết giữa một bên là lợi nhuận
kinh tế và một bên là giá trị môi trường. Nguyên nhân chính là do từ trước
tới nay, phần đông giới kinh doanh vẫn quen với lập luận rằng, không phải
bao giờ xu hướng thân thiện với môi trường cũng song hành với việc kiếm
tìm lợi nhuận; và xã hội cũng cho rằng “công nghệ xanh” chỉ là biểu hiện
“Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp” (Corporate Social Responsibility)
chứ có thể không liên quan gì tới lợi nhuận kinh doanh, thậm chí có khi còn
gây ảnh hưởng tiêu cực. [3]
Đây là một quan điểm phiến diện. Khi cho rằng phát triển kinh tế và
hiện nay ta đang sử dụng vốn thiên nhiên ở mức dưới-giá (under-priced), tức
là vốn thiên nhiên đang bị định giá quá thấp và việc điều tiết những thiếu sót
về giá thị trường sẽ dẫn đến việc sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực, và do
đó, kinh tế tăng trưởng (quan điểm kinh tế Pigouvian).
-
Công nghiệp hóa xanh - được cho là để thúc đẩy “cải tiến xanh”
và tạo "việc làm xanh" (cơ bản là một quan điểm theo Schumpeter, mặc dù
quan điểm này thường sa lầy trong các cuộc thảo luận theo “thuyết trọng
thương” về lợi thế người đi đầu (first-mover advantage), đặc biệt là liên
quan đến sự thành công của Trung Quốc trong việc xây dựng lĩnh vực sản
xuất “xanh”)
Những ý tưởng này đại diện cho một giải thích tham vọng hơn về
Tăng trưởng xanh, phù hợp với mô tả của Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban
Ki-moon, trong đó Tăng trưởng xanh là "một mô hình mới".
Mặc dù còn một số tranh cãi như trên nhưng việc sử dụng rộng rãi
thuật ngữ “Tăng trưởng xanh” được cho rằng có thể phát động một làn sóng
mới trong công việc nghiên cứu và phát triển các hoạt động về vấn đề môi
trường ở các nước đang phát triển. Và điều này là vô cùng cần thiết.
1.2.
Tính tất yếu của Tăng trưởng xanh đối với Hàn Quốc
20
Chiến lược Tăng trưởng xanh nhằm chuyển đổi mô hình phát triển
hiện hành, vốn tăng trưởng thiên về số lượng và phụ thuộc vào nguyên liệu
hoá thạch, sang một mô hình tăng trưởng hướng đến chất lượng, trong đó,
đến năm 2008 là 1,7oC (Nghiên cứu của Viện khí tượng quốc gia Hàn Quốc,
2009), vượt xa sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu từ năm 1906 đến
năm 2005 là 0,74oC (theo Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu/ IPCC,
2007). Mực nước biển ở đảo Jeju cũng tăng khoảng 22cm trong vòng 40
năm, gấp 3 lần so với mức tăng mực nước biển toàn cầu. Ô nhiễm không khí
và ô nhiễm nguồn nước cũng gia tăng nhanh chóng, cùng với đó, tần suất
của hạn hán, lũ lụt theo dự đoán sẽ tăng lên.
Đặc biệt, lượng phát thải khí các-bon của Hàn quốc đã gia tăng đáng
kể trong suốt 15 năm qua khiến hiện nay, Hàn Quốc là một trong những
quốc gia có lượng phát thải khí các-bon tăng nhanh nhất thế giới.
Hình 1.1: Lƣợng phát thải CO2 (đơn vị: tấn/ đầu người)
Nguồn:
Chỉ
số
phát
triển
thế
giới
(World
Development