LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Kế hoạch phát triển kinh tế của
Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” là nghiên cứu của tôi. Những
phần tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong danh mục tài liệu tham khảo.
Các số liệu, kết quả trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi
xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của Khoa và Học viện.
Sinh viên
Ngô Thị Thu
1
MỤC LỤC
2
ANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Bộ TC : Bộ Tài chính
Bộ KH&ĐT : Bộ Kế hoạch và Đầu tư
BQ : Bình quân
EPB : Ủy ban Kế hoạch Kinh tế
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
IMF : Quỹ Tiền tệ thế giới
IT : Công nghệ thông tin
KDI : Viện Phát triển Hàn Quốc
KHH : Kế hoạch hóa
KHPT : Kế hoạch phát triển
KT-XH : Kinh tế - xã hội
MCRET : Họp báo cáo xu hướng kinh tế
MECEP : Họp mở rộng xúc tiến xuất khẩu hàng tháng
MOSF : Bộ Chiến lược và Tài chính
MTEF : Khung khổ chi tiêu trung hạn
NFMP : Kế hoạch quản lý tài chính quốc gia
NIC
s
coi kế hoạch hóa quốc gia là cơ chế tổ chức duy nhất giúp họ vượt qua những trở
ngại to lớn đối với sự phát triển và duy trì tăng trưởng kinh tế cao. Sự phát triển
kinh tế nhanh của Hàn Quốc được biết đến trong những năm 1960-1970 cũng là nhờ
thực hiện thành công các kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm. Như Peter Drucker
nhận xét: “Hàn Quốc cho chúng ta một ví dụ quan trọng về một quốc gia kém phát
triển, không có tài nguyên thiên nhiên nhảy vọt thành một xã hội công nghiệp, làm
cho chúng ta không thể thảo luận về lịch sử phát triển kinh tế của thế kỷ XX mà
không bàn đến sự phát triển kinh tế kỳ diệu của Hàn Quốc”. Tăng trưởng GDP năm
2010 gấp hơn 500 lần, kim ngạch thương mại gấp hơn 300 lần năm 1970; là nước
đầu tiên trên thế giới từ một nước nhận viện trợ trở thành nước viện trợ.
Cùng là một đống tro tàn còn lại sau chiến tranh, nhưng nền kinh tế Hàn
Quốc đã vươn lên mạnh mẽ sau 35 năm với 5 kế hoạch phát triển kinh tế. Có thể
nói, Hàn Quốc ví dụ tiêu biểu để chúng ta học tập kinh nghiệm phát triển kinh tế
nói chung và công tác kế hoạch hóa nói riêng.Chính vì vậy, tôi chọn đề tài khóa
luận là: “Kế hoạch phát triển kinh tế của Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam”.
Với đề tài này, tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn TS. Nguyễn
Thị Ái Liên – Đại học Kinh tế Quốc dân và các anh chị trong ban Tổng hợp – Viện
6
Chiến lược Phát triển, đặc biệt ThS. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đã giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu cách thức lập kế hoạch
hóa của Hàn Quốc và Việt Nam giai đoạn 1960-2010.
Về mục đích nghiên cứu:
- Cách thức lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra/giám sát, đánh giá kế hoạch
của Hàn Quốc;
- Công tác kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam;
- Trên cơ sở so sánh kế hoạch của Việt Nam và Hàn Quốc để đưa ra những gợi ý
chính sách, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kế hoạch ở Việt Nam.
trợ nước ngoài để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người dân, cũng như tài trợ để
phục hồi nền kinh tế.
Từ đống tro tàn của Chiến tranh Triều Tiên, Hàn Quốc được biết đến với tên
gọi “Kỳ tích sông Hàn”. Tốc độ tăng trưởng GNP từ năm 1961 đến năm 2000 đặt
8,7% mỗi năm. Thu nhập bình quân đầu người (theo giá hiện hành) tăng từ dưới
100 USD (năm 1960) lên gần 10.000 USD (năm 2000). Tăng trưởng kinh tế cao bền
vững biến Hàn Quốc từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một
nước công nghiệp mới năng động; Seoul từ một thành phố đổ nát sau chiến tranh đã
hoàn toàn chuyển mình thành một thành phố toàn cầu, một trung tâm kinh doanh và
thương mại lớn ở châu Á có hạ tầng công nghệ tiên tiến. Để đạt được những thành
tựu to lớn như vậy, không thể phủ nhận vai trò của kế hoạch phát triển kinh tế, một
công cụ để Chính phủ Hàn Quốc can thiệp vào nền kinh tế nhằm khắc phục những
khuyết tật của thị trường, đồng thời là công cụ để huy động và phân bổ nguồn lực
khan hiếm cùng hướng tới mục tiêu trong những thời kỳ nhất định.
1.2. Cơ quan lập kế hoạch – Ủy ban Kế hoạch Kinh tế
1.2.1. Sự hình thành Ủy ban Kế hoạch Kinh tế
Khi Tổng thống Park Chung Hee lên nắm quyền vào năm 1961, Hàn Quốc là
một trong những nước nghèo nhất thế giới với gần một nửa dân số sống dưới mức
nghèo khổ tuyệt đối.Mối quan tâm lớn nhất của Tổng thống Park là xóa đói giảm
8
nghèo, ông xác định chỉ có thể đạt được mục tiêu đó nhờ vào tăng trưởng kinh tế.
Với những điều kiện ban đầu không mấy thuận lợi, Tổng thống cho rằng để phát
triển kinh tế thì cần thiết phải có sự can thiệp mạnh mẽ của Chính phủ trong phân
bổ nguồn lực, tức là, cần có một kế hoạch phát triển (KHPT) do Chính phủ định
hướng. Để lập KHPT và thực hiện kế hoạch hiệu quả, ông bắt đầu cải cách hành
chính nhà nước bằng cách thành lập một cơ quan kế hoạch được gọi là Ủy ban Kế
hoạch Kinh tế (EPB) vào năm 1961.
EPB là sự kết hợp giữa Văn phòng Ngân sách thuộc Bộ Tài Chính (Bộ TC),
Cục Thống kê thuộc Bộ Nội vụ và chức năng lập kế hoạch của Bộ Tái thiết. Tổng
thống Park trao cho EPB nhiều quyền lực, do đó Ủy ban này có thể ban hành các
Tổng thống Park đã chủ trì tất cả các cuộc họp của Hội đồng báo cáo xu
hướng kinh tế, cung cấp những hỗ trợ chính trị đáng kể cho EPB trong việc thực
hiện các KHPT và phối hợp các chính sách kinh tế tổng thể.
- Một diễn đàn tương tự khác, Họp mở rộng xúc tiến xuất khẩu hàng tháng
(MECEP), cũng được Tổng thống Park chủ trì, góp phần rất lớn vào thúc đẩy xuất
khẩu và tăng trưởng kinh tế.
Nhiệm vụ của Họp mở rộng xúc tiến xuất khẩu là đẩy mạnh các chính
sách định hướng xuất khẩu, phân tích, theo dõi và đánh giá kết quả của các
chính sách này.
Họp mở rộng xúc tiến xuất khẩu không chỉ diễn ra trong nội bộ Chính phủ
mà còn cho phép khu vực tư nhân tham gia vào các hoạt động liên quan đến xuất
khẩu trên thị trường quốc tế.
1.3. Các kế hoạch phát triển lớn của Hàn Quốc
1.3.1. Giai đoạn trước kế hoạch
Đầu tháng 3/1959, Chính phủ đã công bố giai đoạn 3 năm đầu tiên của kế
hoạch phát triển kinh tế 7 năm (1960-1966). Đây là kế hoạch phát triển dài hạn
đầu tiên được Chính phủ Hàn Quốc xây dựng. Tuy nhiên, kế hoạch được xây
dựng bởi Hội đồng phát triển Công nghiệp và lại được Bộ Tái thiết thực hiện, kế
hoạch gần như không thể thực hiện được do khâu chuẩn bị không chu đáo và
Cách mạng sinh viên năm 1960.
Chính phủ Đảng Dân chủ Hàn Quốc nhậm chức vào tháng 8 đã dành ưu
tiên hàng đầu để phát triển kinh tế đất nước và đưa ra một kế hoạch dài hạn
10
nhằm phát triển kinh tế dựa vào các dự án chiến lược. Kế hoạch 5 năm (1961-
1965) này đã bị bỏ rơi sau khi cuộc đảo chính quân sự tháng 5/1961. Tuy nhiên,
kế hoạch này trở thành cơ sở của KHPT kinh tế 5 năm đầu tiên, được soạn thảo
bởi Chính phủ Park vào năm 1962.
1.3.2. Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất (1962-1966)
Hàn Quốc phải đối mặt với nghèo đói và tuyệt vọng sau cuộc nội chiến
(1950-1953): hệ thống kinh tế bị tê liệt, thiếu cơ sở hạ tầng công nghiệp, vốn và
Bảng 1.1. Một số chỉ tiêu kinh tế trong kế hoạch phát triển lần thứ nhất
Chỉ tiêu 1962 1963 1964
196
5
196
6
BQ
Tốc độ tăng trưởng (%) 2,1 9,1 9,6 5,7 12,2 7,8
Giá bán sỉ (%) 9,3 20,8 34,7 10,0 8,8 16,5
Tài khoản vãng lai
(100 triệu USD)
0,6 -1,4 0,3 0,1 -1,0 _
Nguồn: Ủy ban Kế hoạch Kinh tế, Hàn Quốc
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 44%/năm, gấp đôi mục tiêu kế
hoạch nhờ vào đẩy mạnh xuất khẩu mạnh các mặt hàng công nghiệp. Bên cạnh đó,
các ngành công nghiệp trọng điểm quốc gia đã được xây dựng như than đá, phân
bón, năng lượng và xăng dầu.
Bảng 1.2. Kết quả của hoạt động xuất khẩu trong
kế hoạch phát triển lần thứ nhất
1962 1967
Tổng kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) 55 320
Tỷ lệ xuất khẩu/GNP (%) 2,4 7,4
Tỷ trọng trên thị trường thế giới (%) 0,04 0,16
Cơ cấu xuất khẩu theo ngành (%)
- Sản phẩm sơ cấp 63,0 27,5
- Sản phẩm công nghiệp 27,0 72,5
Nguồn: Các thống kê tài chính quốc tế, Quỹ tiền tệ thế giới
Tốc độ xuất khẩu tăng đáng kể, bình quân tăng 38,6%/năm, trong khi nhập
khẩu tăng 18,7%/năm trong cùng thời kỳ. Tỷ lệ xuất khẩu/GNP là 2,4% (năm
1962)tăng lên 7,4% (năm 1967).Trong cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm công
công nghiệp thay thế nhập khẩu)
- Là công cụ hiệu quả để Hàn Quốc có nền kinh tế
độc lập.
Tăng cường hỗ trợ đầu tư
phát triển các ngành công
nghiệp cơ bản nhằm xây
dựng nền kinh tế độc lập
- 48% tổng vốn đầu tư được phân bổ vào các dự
án cơ sở hạ tầng công nghiệp.
- Phát triển “kế hoạch ngân sách đầu tư quốc gia”,
trong đó mô tả các khoảng chi tiêu hàng năm của
cả khu vựcnhà nước và tư nhân.
- Cải cách thuế diễn ra mạnh mẽ.
Ban hành tỷ giá hối đoái
thả nổi (tháng 3/1965) và
chuẩn hóa lãi suất (tháng
9/1965)
- Các nguồn lực tài chính được đảm bảo
- Đẩy mạnh xuất khẩu
Phát triển kế hoạch chống
lạm phát
- Kế hoạch chống lạm phát được sửa đổi, khi giá
tiêu dùng tăng mạnh trong nửa đầu những năm
1960 do các khoản vay và đầu tư lớn, cũng như tín
dụng ngân hàng mở rộng, giảm dự trữ ngoại hối
và sự mất mùa năm 1962-1963.
- Phát triển kinh tế đi kèm với lạm phát trong quá
trình phát triển.
Nguồn: Ủy ban Kế hoạch Kinh tế, Hàn Quốc
* Đánh giá kế hoạch
* Mục tiêu và chính sách chủ yếu
Sự đột phá của KHPT kinh tế 5 năm lần thứ 2 là mở rộng các cơ sở công
nghiệp để thực hiện chiến lược thay thế sản phẩm nhập khẩu và xúc tiến xuất
khẩu (phương pháp tiếp cận 2 tầng). Vào thời điểm đó, khu vực bên ngoài đã
trở thành mối quan tâm lớn của kế hoạch.Hàn Quốc thực hiện chiến lược hướng
ra thị trường quốc tế,hay nói cách khác, mục tiêu xây dựng quốc gia dựa vào
hoạt động xuất khẩu.
Mục tiêu chính của kế hoạch này là: hiện đại hóa cơ cấu công nghiệp và xây
dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ.
Chính sách chủ yếu để đạt mục tiêu kế hoạch là:
(1) Tự lực trong sản xuất lương thực và phát triển lâm nghiệp, thủy sản;
(2) Xây dựng cơ sở hạ tầng công nghiệp;
15
(3) Cải thiện cán cân thanh toán với mục tiêu xuất khẩu 70 triệu USD;
(4) Tăng việc làm, thực hiện KHH gia đình và kiểm soát dân số;
(5) Đa dạng hóa các loại cây trồng và tăng thu nhập cho nông dân;
(6) Cải tiến công nghệ và năng suất thông qua thúc đẩy khoa học công nghệ và phát
triển nguồn nhân lực.
KHPT kinh tế lần thứ hai dựa trên ba kế hoạch trụ cột đó là Kế hoạch tổng
thể, Kế hoạch ngành công nghiệp và Kế hoạch vốn đầu tư. Kế hoạch tổng thể dựa
trên mục tiêu thu nhập quốc dân, tài chính, ngân hàng và các tài khoản thương mại.
kế hoạch ngành công nghiệp được phát triển bằng cách phân loại tất cả các ngành
công nghiệp thành các ngành chi tiết và bằng cách dự kiến mức sản lượng dựa trên
Bảng cân đối đầu vào – đầu ra. Kế hoạch vốn đầu tư đã được phát triển bằng cách
kiểm tra tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư, hiệu quả biên của giá trị gia tăng và hiệu
quả biên của tài khoản thương mại.
Trong thời kỳ kế hoạch, Tổng thống Park đã chủ chì các Họp báo cáo xu
hướng kinh tế và Họp mở rộng xúc tiến xuất khẩu tổ chức hàng tháng.Hai cuộc
họp này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện kế hoạch và tạo ra sự đồng
thuận quốc gia về phát triển kinh tế.Các cuộc họp là một không gian cho phép
từ các khoản nợ nước ngoài (40% vốn đầu tư là nguồn vốn từ nước ngoài).
Nền kinh tế tăng trưởng quá nóng đã gây ra nhiều vấn đề. Lạm phát cao trở
thành một trở ngại nghiêm trọng kiềm hãm thực hiện chính sách kinh tế ở tất cả các
khu vực kinh tế. Trong thời kỳ kế hoạch, tỷ lệ lạm phát là 14,9%. Năng suất của khu
vực nông nghiệp giảm mạnh; các phong trào Công đoàn yêu cầu tăng lương đã đe
dọa đến lợi thế về giá của Hàn Quốc.
Trọng tâm của công nghiệp hóa trong thời kỳ này là tập trung vào lĩnh vực
thép, máy móc và hóa chất.Các ngành phi nông nghiệp được kỳ vọng sẽ có tốc
độ tăng trưởng cao hơn (bình quân 8%/năm) ngành nông - lâm - thủy sản (bình
quân 5%/năm), tỷ trọng ngành khai khoáng và chế biến/GNP dự kiến tăng từ
22% đến 27%. Trong năm 1972, ngành công nghiệp khai thác mỏ cuối cùng cũng
phát triển mạnh hơn so với các ngành nông - lâm - thủy sản.Chính phủ tập trung
vào các ngành công nghiệp xương sống của quốc gia và kết quả là sự thành lập
tập đoàn POSCO và đường cao tốc Seoul-Busan đã đi vào hoạt động (năm
1970). Năm 1963 là năm đánh dấu quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế mở cửa
và các chính sách định hướng tăng trưởng. Do đó, giai đoạn 1966-1971 được
xem như một thời kỳ quá độ để Hàn Quốc trở thành một nước có cơ cấu kinh tế
17
tiến bộ hơn.Nền kinh tế Hàn Quốc đã trải qua quá trình công nghiệp hóa rất
nhanh trong suốt những năm 1960.
Chính phủ Hàn Quốc cũng tập trung vào phát triển khu vực nông thôn. Ví
dụ như, khai hoang và trồng trọt trên các vùng đất trống, đưa ra các dự án đặc
biệt để nông dân kiếm thêm thu nhập, trợ giá sản phẩm nông nghiệp, khuyến
khích chăn nuôi, các dự án chống xói mòn và trồng rừng, tài trợ cho các khu
định cư, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân thông qua các dự án cải tiến giống.
Trong thời kỳ này, Hàn Quốc có thể bảo hộ các ngành công nghiệp địa phương
và phát triển kinh tế tương đối dễ dàng do nhận được sự đối xử đặc biệt của
GATT đối với các nước đang phát triển.
* Đánh giá kế hoạch
KHPT kinh tế 5 năm lần thứ hai được đánh giá cao, là một kế hoạch có hệ
thứ 3 là:
(1) Tăng trưởng hài hòa, ổn định và công bằng;
(2) Đạt được một cơ cấu kinh tế độc lập thông qua chuyển dịch cơ cấu công nghiệp,
cải thiện cán cân thanh toán và tự cung cấp được lương thực, thực phẩm (ngũ cốc);
(3) Phát triển cân đối giữa các khu vực.
Để thực hiện được mục tiêu đó, các chính sách lớn nhấn mạnh vào:
(1) Tự cung cấp lương thực, thực phẩm;
(2) Cải thiện môi trường sống tại các vùng nông thôn và vùng biển;
(3) Cải thiện cán cân thanh toán với mục tiêu xuất khẩu 3,5 tỷ USD;
(4) Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp nặng và hóa dầu;
(5) Phát triển khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực;
(6) Thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong nước;
(7) Phát huy tối đa nguồn lực;
(8) Cải thiện môi trường và nâng cao phúc lợi người dân.
* Kế hoạch phát triển công nghiệp nặng, hóa dầu
Năm 1973, Chính phủ đã công bố kế hoạch phát triển công nghiệp nặng và
hóa dầu với tổng vốn đầu tư khoảng 9,6 tỷ USD để xây dựng 6 ngành công nghiệp
nặng và hóa dầu. Các ngành công nghiệp chiến lược là đóng tàu, ô tô, thép, máy
móc, kim loại và hóa dầu. Chiến lược cũng bao gồm chương trình xây dựng các
cụm công nghiệp lớn như khu phức hợp Chanwon, khu phức hợp khí hóa Yocho,
Khu phức hợp Điện tử Kumi
19
Chính phủ đã chi một khoản vốn lớn để xây dựng các cụm công nghiệp và
phát triển công nghiệp nặng, hóa dầu bởi Chính phủ cho rằng khó có thể xuất
khẩu hàng hóa thâm dụng lao động sang thị trường các nước đang phát triển, do
mức thuế nhập khẩu cao và tiền lương trong nước tăng nhanh.Hơn nữa, phát
triển ngành công nghiệp quốc phòng sẽ tăng cường khả năng tự vệ của Hàn
Quốc.Và nhằm cải thiện cán cân thanh toán (do nhập khẩu hàng hóa trung gian
có thể làm thâm hụt cán cân vãng lai).
Tuy nhiên, vấn đề cơ bản để thúc đẩy các dự án là việc huy động các nguồn
và công nghiệp đáp ứng nhu cầu trong nước; (2) Sự mất cân bằng giữa nông nghiệp
và công nghiệp; (3) Nới lỏng khoảng cách giữa các công ty lớn và công ty vừa/nhỏ;
(4) Thâm hụt cán cân thanh toán do cuộc khủng hoảng dầu 1973-1974; (4) Cuộc
khủng hoảng dầu đã trì hoãn việc thực hiện các dự án công nghiệp nặng và hóa
dầu.Để giải quyết những vấn đề phát sinh đó, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện
một loạt các biện pháp nhằm:Đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu và thị trường; Thâm
nhập vào thị trường xây dựng Trung Đông; Tăng vốn đầu tư nước ngoài để tăng thu
nhập và tăng trưởng kinh tế.
* Đánh giá kế hoạch
Sau thành công của hai kế hoạch liên tiếp, quy mô nền kinh tế Hàn Quốc đã
mở rộng và khu vực tư nhân đã phát triển nhanh chóng.Kế hoạch đã chuyển đổi
sang nhấn mạnh cơ chế thị trường và kích thích hoạt động của khu vực tư nhân với
các chính sách ưu đãi khác nhau.
Trong kế hoạch lần thứ 3, Chính phủ chuẩn bị Nguồn ngân sách tổng thể để
duy trì chỉ đạo thực hiện kế hoạch và phản ứng nhanh chóng với thay đổi của môi
trường; đồng thời tăng cường "hệ thống đánh giá đầu tư" để tối đa hóa hiệu quả sử
dụng các nguồn lực và liên kết các mục tiêu kế hoạch với quá trình thực hiện kế
hoạch. Chính phủ cũng đã nhấn mạnh vai trò của công tác lập kế hoạch và hoạt
động khảo sát để nâng cao chất lượng thống kê, phối hợp hợp lý giữa kế hoạch,
chính sách và thực hiện kế hoạch.
Tuy nhiên, chỉ tiêu của kế hoạch thứ ba không thể đạt được như dự đoán chủ
yếu là do khủng hoảng dầu mỏ và thay đổi đột ngột của môi trường nội bộ và thế
giới. Để đối phó với những thay đổi đó, Chính phủ đã ban hành một loạt các chính
sách như:Nghị định khẩn cấp về “Ổn định kinh tế và tăng trưởng” (3/8/1972); Luật
bình ổn giá (năm 1973); Nghị định khẩn cấp của Tổng thống: “Ổn định cuộc sống
của nhân dân" (năm 1974); “Giải pháp kinh tế đặc biệt " (năm 1974); và các giải
21
pháp đặc biệt khác về tài chính; tất cả các biện pháp này đều liên kết chặt chẽ với hệ
thống hỗ trợ phát triển công nghiệp nặng và hóa dầu.
Tuy nhiên, việc giới thiệu đột ngột các biện pháp chính sách đặc biệt trong
kỳ thứ hai của kế hoạch, Hàn Quốc trải qua cuộc khủng hoảng dầu thứ hai, suy
thoái kinh tế thế giới và suy thoái thương mại thế giới; ngoài ra, do bất ổn chính trị -
xã hội (năm 1981 xảy ra ám sát Tổng thống Park); mất mùa trong nông nghiệp.
Tốc độ tăng trưởng bình quân dự kiến là 9,2%/năm, tỷ lệ lạm phát khoảng
9%/năm. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng thực tế là 5,8%/năm, thấp hơn nhiều so
mức tăng trưởng mục tiêu và thâm hụt tài khoản vãng lai do cú sốc dầu lần thứ
hai, lạm phát trong nước, làm giảm khả năng cạnh tranh xuất khẩu và tăng nghĩa
vụ nợ. Năm 1981, kim ngạch xuất khẩu là 20,881 triệu USD trong khi nhập khẩu
là 24,299 triệu USD. Tỷ lệ lạm phát tăng lên 11,6% (năm 1978) và 18,8% (năm
1979). Với tác động của các cuộc khủng hoảng dầu thứ hai, tỷ lệ lạm phát đã
tăng lên 38,9% (năm 1980).
Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong lĩnh vực phi nông nghiệp còn chậm và sản
xuất lương thực giảm do mất mùa.
Nhiều vấn đề đã phát sinh trong thời gian này đã làm kế hoạch bất khả thi
trước sự thay đổi nhanh chóng của môi trường trong và ngoài nước.Ngay từ năm
1977, sự phát triển của các ngành công nghiệp nặng và hóa dầu kèm theo các chính
sách tiền tệ và tài khóa mở rộng làm lạm phát gia tăng nhanh chóng. Việc đầu tư
quá mức vào các dự án khu công nghiệp nặng và hóa dầu đã bóp méo sự phân bổ
nguồn lực và sản xuất, nhiều công ty phá sản. Các công ty xuất khẩu gặp khó khăn
với thị trường thế giới.
Vì vậy, Chính phủ chuyển từ chính sách tăng trưởng tối đa sang chính sách
bình ổn kinh tế để kiềm chế lạm phát cao và thâm hụt cán cân thanh toán. Cuối
cùng, ổn định kinh tế và khắc phục thâm hụt cán cân thanh toán đều đạt được trong
thời gian kế hoạch. Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng xã hội (cảng, sân bay, nhà
kho và đường giao thông…) đều không thực hiện được trong năm 1980.
* Đánh giá kế hoạch
Kế hoạch phát triển kinh tế lần thứ tư nhấn mạnh vai trò của cơ chế thị
trường trong việc nâng cao hiệu quả của nền kinh tế thị trường, đa dạng cơ cấu
23
kinh tế và các hoạt động kinh doanh trong khu vực tư nhân cũng đã được mở
24
(2) Thúc đẩy các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh;
(3) Tiếp tục hỗ trợ chiến lược hướng ra thị trường quốc tế;
(4) Cải thiện môi trường sống;
(5) Phát triển xã hội;
(6) Thúc đẩy chức năng thị trường thông qua cạnh tranh;
(7) Đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân và khuyến khích phát triển xã hội.
Trong kế hoạch này, Chính phủ có sự phân biệt rõ ràng giữa vai trò của khu
vực tư nhân và Chính phủ. Đối với khu vực tư nhân, Chính phủ chỉ hướng dẫn và
chỉ đạo; hạn chế can thiệp trực tiếp; và gián tiếp sử dụng nhiều chính sách ưu đãi để
khuyến khích nỗ lực sáng tạo của khu vực tư nhân. Thay vào đó, Chính phủ can
thiệp tích cực duy nhất trong lĩnh vực liên quan đến các nhu cầu cơ bản của người
dân như giáo dục, nhà ở và sức khỏe để bổ sung chức năng của thị trường. Đối với
phát triển công nghệ và nguồn nhân lực, Chính phủ chuẩn bị một kế hoạch đầu tư
chi tiết trong ràng buộc ngân sách.
Đồng thời, Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt và cung tiền ổn
định, hỗ trợ khả năng cạnh tranh quốc tế của ngành công nghiệp.Chính sách này
làm suy yếu đầu cơ vào bất động sản.Hơn nữa, Chính phủ tăng tiết kiệm bằng cách
hỗ trợ tăng của lãi suất thực lên đến một mức hợp lý. Những nỗ lực này đã góp phần
làm thặng dư cán cân thanh toán.
Điều đáng chú ý trong kế hoạch này là sự hạn chế can thiệp của Chính
phủ, Chính phủ chỉ can thiệp nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường.
Định hướng này đã góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nền kinh tế thị
trường tại Hàn Quốc.
* Kết quả của kế hoạch
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội lần thứ năm mang lại hiệu quả kinh tế
cao nhất trong các kế hoạch trước đó (kế hoạch đã giải quyết thâm hụt cán cân
thanh toán kinh niên và lạm phát dai dẳng). Tốc độ tăng trưởng bình quân dự
kiến là 7,6%/năm, nhưng tốc độ tăng trưởng thực tế bình quân 9,8%/năm. Tốc độ
tăng trưởng công nghiệp khai khoáng và chế tạo trung bình là 11,8%/năm. Năm