ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------
NGUYỄN PHƢƠNG DUNG
THƠ PHẠM TIẾN DUẬT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
THI PHÁP HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận Văn học
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN PHƢƠNG DUNG
THƠ PHẠM TIẾN DUẬT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
THI PHÁP HỌC
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận Văn học
Mã số: 60220120
Người hướng dẫn khoa học: TS. Diêu Thị Lan Phƣơng
Hà Nội - 2014
2.2.1. Thời gian nghệ thuật....................... Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Không gian nghệ thuật ................... Error! Bookmark not defined.
TIỂU KẾT .................................................... Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 3. PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN .. Error! Bookmark not defined.
3.1. Cấu tứ trong thơ Phạm Tiến Duật ......... Error! Bookmark not defined.
3.2. Ngôn ngữ và giọng điệu ........................ Error! Bookmark not defined.
3.2.1 Ngôn ngữ ......................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.1.1 Ngôn ngữ giản dị đời thường, tự nhiênError! Bookmark not defined.
3.2.1.2. Ngôn ngữ sáng tạo, tài hoa ......... Error! Bookmark not defined.
3.2.2 Giọng điệu ....................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.2.1. Giọng điệu hóm hỉnh, ngang tàngError! Bookmark not defined.
3.2.2.2. Giọng điệu tâm tình, ngọt ngào ... Error! Bookmark not defined.
3.2.2.3. Giọng điệu triết lí, suy tư ............. Error! Bookmark not defined.
TIỂU KẾT .................................................... Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ..................................................... Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................. 11
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tên tuổi Phạm Tiến Duật xuất hiện trên thi đàn Việt Nam từ năm 1969
gắn liền với Bài thơ tiểu đội xe không kính - tác phẩm giành giải nhất cuộc thi
thơ của tuần báo Văn Nghệ. Sau đó, ông dần trở thành một trong những nhà
thơ cách mạng tiêu biểu của thơ ca chống Mỹ cứu nước.
Trong điếu văn đọc tại lễ truy điệu nhà thơ Phạm Tiến Duật, nhà thơ
Hữu Thỉnh viết: “Cảm ơn Phạm Tiến Duật đã để lại cho chúng ta niềm kiêu
hãnh sống, niềm kiêu hãnh sáng tạo và dâng hiến. Ngọn lửa tài năng và trí tuệ
của Anh đã thắp sáng trên văn đàn, đã cầm trong tay trong cuộc chạy đường
Phạm Tiến Duật có thơ đăng báo từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX,
nhưng thơ ông lúc này vẫn còn lẫn trong thơ nhiều người. Phải đến cuộc thi
thơ do báo Văn nghệ tổ chức vào năm 1969 -1970, ông mới thực sự ghi được
tên tuổi của mình vào làng thơ Việt Nam. Chùm thơ đoạt giải nhất của ông
gây được ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về một phong cách thơ độc đáo. Bắt
đầu từ đây, nhiều cây bút, nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học đã quan
tâm đánh giá thơ ông. Một trong những bài viết đầu tiên về thơ Phạm Tiến
Duật là Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ. Nhị Ca cho rằng chùm thơ
được giải bốn bài của Phạm Tiến Duật thực sự gây được ấn tượng với độc giả
về một phong cách thơ "rất lạ", lạ từ chất liệu, thi liệu đến giọng điệu. Ông chỉ
ra rằng, đây là một hồn thơ "được nuôi dưỡng bằng chất liệu sống thực, tươi
trẻ thở hết không khí mặt trận dữ dội và tự tin, có thời gian ngẫm nghĩ về cuộc
chiến đấu quyết liệt, dũng cảm"[1]. Nhị Ca cũng rất quan tâm đến việc tạo
dựng câu thơ, một trong những yếu tố làm nên sự mới mẻ của Phạm Tiến
Duật so với các nhà thơ khác là "dáng dấp xốc vác, xô bồ, cứng cáp hơn, như
hạt gạo đỏ đồng chiêm vừa chắc dạ, vừa béo ngọt". Bên cạnh đó, Nhị Ca đã
có ý kiến nhận xét khá xác đáng về những thành công cũng như hạn chế qua
việc phân tích một số bài thơ tiêu biểu của tập Vầng trăng quầng lửa.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu có bài Người viết trẻ giữa cánh rừng già
cho rằng: "Sự xuất hiện của Phạm Tiến Duật đã làm xôn xao đời sống thơ ca
2
vốn có. Thơ Phạm Tiến Duật đã cổ vũ cho cuộc chiến đấu theo cách riêng của
mình và đã đón nhận được sự quan tâm đặc biệt từ nhiều phía".
Dưới quan điểm văn nghệ phục vụ chính trị như vậy, nhà nghiên cứu văn
học Nguyễn Ngọc Thiện với bài viết Chỗ mạnh và chỗ yếu trong thơ Phạm
Tiến Duật đã khẳng định: "hồn thơ Phạm Tiến Duật phóng khoáng, rộng mở,
cái đẹp của cuộc sống chiến đấu đi vào thơ ông tự nhiên và rất thật"[39]. Ông
với nhan đề Phạm Tiến Duật, người "chứa được Trường Sơn nhiều nhất"...
trong Tạp chí Nhà văn, số 12, năm 2007. Vũ Văn Sỹ đánh giá cao vị trí của
Phạm Tiến Duật trong hành trình thơ trữ tình cách mạng. Ông cho rằng "Thơ
Phạm Tiến Duật đã lưu lại trong lịch sử văn học dấu mốc của thơ trữ tình Việt
Nam trên hành trình đi tìm cái đẹp trên các sự kiện và biến cố in đậm chất sử
thi của một thế kỉ đầy biến động."[38]. Bên cạnh đó có thể kể đến các bài của
Thiếu Mai, Mai Hương, Hồ Phương, Hoàng Kim Ngọc... đăng tải trên các báo
và tạp chí.
Phạm Tiến Duật cũng từng được nhắc đến và giới thiệu trong các công
trình tiểu luận và nghiên cứu như Dọc đường văn học (Nxb Văn học, H,
1996); Nhà văn Việt Nam thế kỉ XX, tập III (Nxb Hội nhà văn, H, 2000); Từ
điển tác giả văn học Việt Nam thế kỉ XX (Nxb Hội nhà văn,H, 2003). Hầu hết
các cuốn sách đều tập trung phân tích, nghiên cứu những giá trị mới mẻ mà
thơ Phạm Tiến Duật đưa lại.
Nhìn chung, các bài viết và các công trình nghiên cứu về Phạm Tiến
Duật đều cho rằng, đó là một hiện tượng lạ của thơ ca Việt Nam. Sự xuất hiện
của Phạm Tiến Duật trên thi đàn đã làm cho thơ ca của thế hệ trẻ thời chống
Mỹ có vị trí và có cá tính.
Trong công trình này, chúng tôi kế thừa các ý kiến gợi ý của những
người đi trước, tập trung phân tích thi pháp thơ Phạm Tiến Duật một cách có
hệ thống, có tính thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng và
phương thức nghệ thuật nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của Phạm
Tiến Duật.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ của Phạm Tiến Duật dưới góc
độ thi pháp học. Luận văn chủ yếu xuay quanh các vấn đề liên quan đến Thi
pháp như ngôn ngữ, nhịp điệu, hiệp vần, hình tượng, điểm nhìn...
4
(Nghệ thuật thơ ca) của Aristote nhưng Thi pháp học với tư cách là một bộ
môn khoa học, một phương pháp nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học thì
mới hình thành vào đầu thế kỷ XX ở Nga rồi dịch chuyển sang Mỹ và phổ
biến khắp thế giới.
Các công trình, tiểu luận về thi pháp học hoặc nghiên cứu văn học theo
hướng thi pháp học đều khẳng định thuật ngữ thi pháp xuất hiện từ thời cổ
đại, trong công trình “kinh điển” của Aristote Nghệ thuật thơ ca (cách đây
hơn 2300 năm). Thuật ngữ thi pháp (poetics, póetique) có nội hàm khởi thủy
là cách, biện pháp, phương thức mô phỏng, bắt chước để sáng tạo văn học.
Nội hàm này được Aristote đề xuất: “Sử thi, bi kịch thì cũng như hài kịch và
thơ ca tụng tửu thần, đại bộ phận nhạc sáo, nhạc đàn lục huyền – tất cả những
cái đó, nói chung đều là những nghệ thuật mô phỏng, giữa chúng có ba điểm
khác nhau; hoặc thực hiện sự mô phỏng bằng cái gì hoặc mô phỏng cái gì;
hoặc mô phỏng như thế nào - cho nên không phải lúc nào cũng giống nhau”.
Về sau, các nhà nghiên cứu thường dịch là nghệ thuật thơ ca, phép làm thơ.
Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên hiểu thi pháp là phương pháp, qui
tắc làm thơ [tr.95]; Sổ tay từ Hán Việt do Phan Văn Các, Lại Cao Nguyên
biên soạn năm 1989 hiểu thi pháp có hai nghĩa: 1. Phép làm thơ, 2. Nghệ thuật
thơ văn. Còn Từ điển của Pháp 1998 cho biết thi pháp xuất phát từ động từ
tiếng Hi Lạp nghĩa là “làm” và nó có ba nghĩa: 1. Nghệ thuật cấu tạo thơ. 2.
Lý thuyết thuộc về bên trong của văn bản. 3. Toàn bộ những lựa chọn thuộc
về văn học được nhà văn thực hiện trong tác phẩm. Như thế thuật ngữ thi
6
pháp từ khởi thủy tới hiện đại được bổ sung, mở rộng nội hàm. Tuy vậy, thuật
ngữ này luôn bảo lưu hai nét nghĩa: 1. Cách làm thơ. 2. Tính nghệ thuật được
nhà văn lựa chọn để sáng tác văn chương.
Ở Trung Quốc, thuật ngữ thi pháp thường được các học giả từ đời Tống
trở đi nói tới: Thế kỷ XIII có sách Thi pháp chính tông của Yết Khê Tư; thế
Nếu như nội dung thuật ngữ thi pháp được hiểu khá thống nhất thì khái
niệm thi pháp học cho đến nay còn nhiều sự khác biệt. Điều này có thể xuất
phát từ chính sự mở rộng biên độ nội hàm của đối tượng nghiên cứu. Vì thế,
dẫn đến sự mở rộng phạm vi nghiên cứu của thi pháp học. Hơn nữa, sự tiếp
cận, nghiên cứu thi pháp học của các học giả phần lớn đều dựa trên những
tiền đề khoa học, triết học, phê bình khác nhau. Chủ nghĩa cấu trúc, hiện
tượng học, phân tâm học, chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa hình thức, ngôn
ngữ học, dẫn đến những định nghĩa, khái niệm chưa đồng nhất.
Hiện nay, có nhiều cách hiểu về Thi pháp học. Có thể hiểu, thi pháp
học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào văn bản là chính, không chú
trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh
sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội… Thi pháp
học chỉ chú ý đến những yếu tố hình thức tác phẩm như: hình tượng nhân vật
- không gian - thời gian, kết cấu - cốt truyện - điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại…
Nội dung trong tác phẩm phải được suy ra từ hình thức, đó là “hình thức
mang tính nội dung”. Phương pháp chủ yếu của Thi pháp học là phương pháp
hình thức. Chúng ta hiểu, phương pháp hình thức là phương pháp phân tích
các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa
thẩm mỹ của nó. Nghiên cứu, phê bình theo hướng thi pháp học nghĩa là
nghiêng về phân tích hình thức nghệ thuật tác phẩm, nó đối lập với lý thuyết
Phản ánh luận trước đây là nội dung quyết định hình thức.
Về phương diện định nghĩa, khái niệm, Từ điển thuật ngữ văn học do
Lê Bá Hán chủ biên có ghi: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp,
tức hệ thống các phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật
trong sáng tác văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống
8
hóa yếu tố của văn học nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ
đến Trường Sơn lại càng nhiều điều mới mẻ, Phạm Tiến Duật không khỏi
ngạc nhiên khi đặt chân tới cái "vùng rừng không dân" ấy. Đó là sự ngạc
nhiên về âm thanh, ngạc nhiên về cảnh thiên nhiên, và ngạc nhiên hơn cả là
những con người đang sống, chiến đấu ở đây. Cá tính ấy của hồn thơ Phạm
Tiến Duật đã tìm đúng được mảnh đất riêng của mình - đường Trường Sơn
trong những năm tháng chống Mỹ. Và hồn thơ ấy chỉ có thể phát triển mạnh
mẽ, trở nên cường tráng trên mảnh đất hiện thực này.
Đường Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh trong những năm tháng
chống Mỹ là điển hình của cuộc sống sôi động ấy. Nếu không có nó, Phạm
Tiến Duật không thể cất lên giọng điệu thơ đích thực của mình. Chính Phạm
Tiến Duật trong lời Tự bạch đã khẳng định: "Nếu không có cuộc sống với
những con người đa dạng ồn ào bao quanh với xô bồ chi tiết trôi chảy từng
phút từng giờ, thì hình như tôi không có thơ". Trong lời giới thiệu tuyển thơ
chống Mỹ cứu nước 1965 - 1967, nhà thơ Chế Lan Viên rất quan tâm tới sự
xuất hiện của các nhà thơ trẻ. Ông đã nhắc tên một số cây bút "có hay chưa có
bài trong tuyển tập", nhưng tuyệt nhiên, Phạm Tiến Duật vẫn không hề được
nhắc đến. Chỉ đến khi Phạm Tiến Duật đoạt giải nhất cuộc thi thơ của tuần
báo Văn nghệ 1969 - 1970 với chùm bốn bài thơ: Lửa đèn, Bài thơ về tiểu đội
xe không kính, Nhớ, Gửi em cô thanh niên xung phong, tên Phạm Tiến Duật
mới gây được sự chú ý đặc biệt, khẳng định tiếng nói trữ tình của thế hệ thơ
trẻ thời kỳ chống Mỹ.
Viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ là đòi hỏi của dân tộc và thời đại,
đồng thời cũng chính là đòi hỏi của chính nền thơ chống Mỹ. Nhiều nhà thơ
trẻ có tên tuổi thuộc nhiều thế hệ đã viết về chiến tranh bằng cách nhìn riêng,
in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của mình. Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh về
cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn cứ còn thiếu hụt một mảng, và người đọc
vẫn khao khát được đọc những vần thơ của những người trực tiếp cầm súng những vần thơ như còn vương bụi đất chiến trường và nồng nặc mùi lửa
10
11
16. Mã Giang Lân (2001), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
17. Nguyễn Ngọc Thiện (1974), Chỗ mạnh và chỗ yếu trong thơ Phạm
Tiến Duật, Tạp chí Văn học, số 4.
18. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và Trung
học chuyên nghiệp, Hà Nội.
19. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
20. Nguyễn Đăng Điệp (1994), Giọng điệu thơ trữ tình, Tạp chí Văn học,
số (1).
21. Nguyễn Trọng Hoàn (1995), Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
22. Nguyễn Đăng Mạnh (1983), Nhà văn, tư tưởng và phong cách, Nxb
Văn học, Hà Nội.
23. Nguyễn Đăng Mạnh (1996), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật
của nhà văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội
24. Nhiều tác giả (1997), Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội.
25. Nhiều tác giả (1999), Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật,
Nguyễn Duy, Nxb Giáo dục, Hà Nội
26. Phan Cự Đệ - Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975,
Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
27. Phạm Tiến Duật (1970), Vầng trăng quầng lửa, Nxb Văn học, Hà
Nội.
28. Phạm Tiến Duật (1971), Thơ một chặng đường, Nxb QĐND, Hà Nội
29. Phạm Tiến Duật (1973), Tôi làm thơ dài, Tạp chí Văn nghệ Quân
43. Xuân Sách (1970), Thơ bộ đội 1965 - 1969, Tạp chí Văn nghệ Quân
đội, số 6.
13