Đổi mới phương pháp truyết trình trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 12 ở trường THPT chiềng sinh, thành phố sơn la - Pdf 39

LỜI CẢM ƠN
Để khóa luận được hoàn thành, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em còn nhận
được sự hướng dẫn khoa học, sự giúp đỡ chu đáo, nhiệt tình của Ban Giám hiệu,
Phòng Quản lý khoa học và Quan hệ quốc tế, Phòng Đào tạo và các Phòng, Ban chức
năng của Trường Đại học Tây Bắc.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa, các thầy giáo, cô giáo trong
Khoa Lý luận Chính trị, cô giáo chủ nhiệm, tập thể các bạn sinh viên lớp K52 - ĐHGD
Chính trị, gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa
luận.
Bên cạnh đó, em cũng gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo trường THPT
Chiềng Sinh, thành phố Sơn La đã nhiệt tình giúp em hoàn thành khóa luận.
Đặc biệt, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.s Nguyễn Thị Linh
Huyền - Giảng viên Khoa Lý luận chính trị đã hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình
trong suốt quá trình em nghiên cứu để em hoàn thành khóa luận.
Em xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ em hoàn
thành khóa luận lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất.
Em xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện khóa luận
Lường Văn Tài


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CNH, HĐH
ĐC
GDCD

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đối chứng
Giáo dục công dân


Trung bình

THPT
TN

Trung học phổ thông
Thực nghiệm


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .................................................................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài................................................................................ 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài ................................................................................ 5
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................................ 5
6. Giả thuyết khoa học ................................................................................................................ 5
7. Kết cấu của đề tài.................................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG
PHÁP THUYẾT TRÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT
CHIỀNG SINH, THÀNH PHỐ SƠN LA ............................................................................... 6
1.1. Cơ sở lí luận của việc đổi mới phương pháp truyết trình trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở
trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La ............................................................................... 6
1.1.1. Quan niệm phương pháp dạy học ..................................................................................... 6
1.1.2. Phương pháp thuyết trình trong dạy học .......................................................................... 7
1.1.2.1. Các quan niệm về phương pháp thuyết trình trong dạy học .......................................... 7
1.1.2.2. Các hình thức phương pháp thuyết trình trong dạy học ................................................ 8
1.1.2.3. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp thuyết trình ....................................................... 9
1.1.3. Đổi mới phương pháp thuyết trình trong dạy học .......................................................... 10
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc đổi mới phương pháp truyết trình trong dạy học môn GDCD lớp

3.1.1.2. Tổ chức thiết kế và thực hiện bài giảng trên lớp........................................................................ 40
3.1.1.3. Kiểm tra, đánh giá kết quả bài học .............................................................................. 43
3.2. Điều kiện thực hiện việc đổi mới phương pháp thuyết trình trong dạy học môn GDCD lớp
12 ở trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La ................................................................. 44
3.2.1. Đối với các cấp quản lí ................................................................................................... 44
3.2.2. Đối với đội ngũ giáo viên ............................................................................................... 45
3.2.3. Đối với học sinh ............................................................................................................. 47
3.2.4. Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị ........................................................................... 48
KẾT LUẬN ............................................................................................................................. 49
TÀI LỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp đổi mới giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học ở tất cả các bậc đào
tạo, trong đó giáo dục phổ thông giữ vai trò vô cùng quan trọng. Vì vậy, phải thường
xuyên bồi dưỡng tiềm lực GV về nội dung và phương pháp dạy học đối với tất cả các
môn học.
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là
động lực thúc đẩy công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, do vậy cũng rất
quan tâm đến việc đổi mới một cách toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng nhu
cầu phát triển của đất nước, trong đó đổi mới phương pháp dạy học được coi là một
trong những nhiệm vụ chiến lược. Điều này được thể hiện rất rõ ràng trong nghị quyết
Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo:
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi,
cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế,
chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý
của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia

truyền thụ các khái niệm phạm trù, quy luật mang tính trừu tượng và khái quát cao sẽ giúp
cho HS hiểu, nắm vững chúng. Bên cạnh đó phương pháp thuyết trình ngày càng lộ rõ
những hạn chế: không phát huy được tính tích cực, tính độc lập tư duy, óc phê phán, óc
sáng tạo của người học nhất là các yêu cầu mới của thời đại ngày nay, đặc biệt là yêu cầu
tạo ra những con người sáng tạo. Nếu GV không biết sử dụng hoặc sử dụng không tốt
phương pháp thuyết trình sẽ tạo ra sự đơn điệu, HS thụ động tiếp thu bài giảng, gây ức chế
trong quá trình tiếp thu tri thức mới của HS. Do đó, để phát huy ưu điểm, hạn chế tới mức
tối đa nhược điểm thì đổi mới phương pháp thuyết trình đang là yêu cầu cấp thiết đặt ra
trong dạy học nói chung và dạy học môn GDCD ở trường THPT Chiềng Sinh, thành phố
Sơn La nói riêng. Phương pháp này có thể kết hợp với các phương pháp khác để tạo thành
một bài giảng thuyết trình theo hướng đổi mới: bài thuyết trình nêu và giải quyết vấn đề,
bài thuyết trình kết hợp thảo luận nhóm, bài thuyết trình đàm thoại, bài thuyết trình mô tả
phân tích,... Đó sẽ là những bài giảng hiệu quả hơn. Phương pháp dạy học thuyết trình vừa
giữ được vai trò chủ đạo, khắc phục được những hạn chế như đã nêu ở trên.
Nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDCD nói chung và môn
GDCD lớp 12 nói riêng ở các trường THPT, cũng như trường THPT Chiềng Sinh, thành
phố Sơn La, tôi lựa chọn đề tài: "Đổi mới phương pháp truyết trình trong dạy học môn
giáo dục công dân lớp 12 ở trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La”

2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ngay từ thời cổ đại, các nhà giáo dục học đã rất quan tâm đến vai trò tích cực
của người học. Sôrcater (469 – 339 Tr.CN) quan niệm: giáo dục là quá trình người
thầy tổ chức để giúp người học trò tự sinh ra chính mình. Vì thế ông không bao giờ
đem chân lý của mình đặt vào lòng kẻ khác. Khổng Tử (551 – 479 Tr.CN) nhà triết
học, giáo dục học vĩ đại của Trung Quốc cổ đại, đòi hỏi người học phải tìm tòi, suy
nghĩ sáng tạo trong quá trình học tập.
Như vậy, các nhà sư phạm thời cổ đại đã đề cập đến việc làm thế nào để phát

4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu quy trình thực hiện việc đổi mới PPTT trong dạy học môn
GDCD lớp 12 ở trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu việc đổi mới phương pháp thuyết trình
trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La.
Thời gian bắt đầu từ tháng 02 đến tháng 04 năm 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc nghiên cứu khóa luận, tôi đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, so sánh, logic-lịch sử…
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phân tích, tổng hợp, so sánh, trao đổi kinh
nghiệm, điều tra, thực nghiệm sư phạm…
6. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng quy trình về việc đổi mới PPTT vào dạy học môn GDCD lớp 12
sẽ góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội
tri thức của môn học GDCD lớp 12, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn
GDCD ở trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, mục lục, phụ
lục, phần nội dung khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc đổi mới phương pháp thuyết trình
trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La.
Chương 2: Thực nghiệm việc đổi mới phương pháp thuyết trình trong dạy học
môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La.
Chương 3: Quy trình và điều kiện đổi mới phương pháp thuyết trình trong dạy

Phương pháp dạy học phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức con người
nhằm đạt được mục đích học tập.
Phương pháp dạy học phản ánh cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động nhận
thức của người dạy như: kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức các hoạt động nhận
thức và kiểm tra – đánh giá kết quả nhận thức của người học.

6


Phương pháp dạy học đòi hỏi có sự tương tác tất yếu giữa GV và HS đến đối
tượng nghiên cứu mà kết quả là HS lĩnh hội được nội dung học tập.
Như vậy, bất cứ phương pháp dạy học nào cũng là hệ thống những hành động
có mục đích của GV, là hoạt động nhận thức và thực hành có tổ chức của HS nhằm
đảm bảo cho trò lĩnh hội được nội dung học tập.
Tùy theo quan niệm và hướng nghiên cứu có thể đưa ra các khái niệm khác
nhau về phương pháp dạy học. Nếu đứng trên góc độ dạy học tích cực theo Hà Thế
Ngữ: “Phương pháp dạy học là một hệ thống tác động liên tục của giáo viên nhằm tổ
chức các hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh để học sinh lĩnh hội vững
chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã định” [7; 51].
Từ các quan điểm trên chúng ta có thể hiểu: phương pháp dạy học là cách thức
hoạt động có trình tự, có sự phối hợp tương tác của GV và HS để đạt được mục đích
dạy học.
1.1.2. Phương pháp thuyết trình trong dạy học
Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học bằng lời nói sinh động của
GV để trình bày một tài liệu mới hoặc tổng kết những tri thức mà HS đã thu lượm
được một cách có hệ thống.
1.1.2.1. Các quan niệm về phương pháp thuyết trình trong dạy học
Có nhiều cách hiểu và quan niệm khác nhau về phương pháp thuyết trình:
- Theo tác giả Vũ Đình Bảy: “Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy
học trong đó giáo viên dùng lời nói để trình bày, thuyết minh, khai thác, phân tích một

* Hình thức giảng giải
Giảng giải là phương pháp thuyết trình trong đó GV dùng lời nói để HS hiểu
các khái niệm, phạm trù, quy luật sự vận dụng của chúng.
Trong giảng bài thường gặp những từ ngữ, khái niệm khó thì GV phải kết hợp
để giải thích. Khi giải thích GV nên dùng các từ điển chính trị - xã hội, từ điển triết
học và thậm chí cả từ điển của các môn khoa học khác làm cơ sở tin cậy cho giải
thích. GV phải vừa giải thích khái niệm vừa giảng ý nghĩa của nó. Nghĩa đen, nghĩa
bóng, nghĩa triết học, nghĩa thông thường. Khác với tri thức của các môn học khác, tri
thức của môn GDCD vừa trừu tượng nhưng lại gắn chặt với cuộc sống đời thường. Vì
thế, học sinh sẽ hoặc là không hiểu, hoặc là hiểu không đúng tri thức bộ môn, nếu
không được GV giảng giải cặn kẽ, rõ ràng.
* Hình thức diễn giảng
Diễn giảng là phương pháp thuyết trình trong đó tri thức được truyền thụ theo
hệ thống logic chặt chẽ bao gồm khối lượng tri thức lớn và thực hiện trong thời gian
tương đối dài thông qua lời giảng của GV. Diễn giảng được thực hiện khi chủ đề của
bài giảng được đặt ra người GV nêu ra luận cứ, phân tích, minh họa, chứng minh luận
8


cứ. Các thao tác đó chính là diễn giảng. Diễn giảng tức là tiếp tục phát triển các nội
dung của chủ đề theo hệ thống tri thức nhất định.
Diễn giảng thường được áp dụng đối với những bài có nội dung tri thức phức
tạp, khó hiểu, trừu tượng và khái quát cao. Diễn giảng tiến hành theo các trình tự sau:
Mở đầu: GV có thể nêu kiến thức cũ để chuyển sang bài mới, nêu lên tầm quan
trọng của nội dung bài giảng hoặc đặt ra tình huống có vấn đề để vào bài.
Trình bày nội dung chính: đây là phần trọng tâm của bài, GV cần khai thác hết
nội dung tri thức để diễn giảng theo logic chặt chẽ, đi từ đơn giản đến phức tạp.
Kết thúc: đòi hỏi giáo viên phải khái quát, nhấn mạnh nội dung cơ bản mà học
sinh cần hiểu và nắm vững.
Giảng giải và diễn giảng có hiệu quả cần phải được thực hiện đan xen với các

một cuốn tài liệu. Vì vậy, những bài thuyết trình hay có thể giúp nhiều cho người học
định hướng và cấu trúc khi đọc tài liệu.
Thứ sáu, giúp HS nắm bắt được cách tư duy logic, cách đặt và giải quyết vấn đề
khoa học, cách sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt những vấn đề khoa học một cách chính
xác, rõ ràng, xúc tích thông qua cách trình bày của GV. Tạo điều kiện phát triển năng
lực chú ý và kích thích tính tích cực tư duy của HS, giúp HS hiểu và nghi nhớ bài học.
* Hạn chế của phương pháp thuyết trình
Thứ nhất, thu được rất ít thông tin phản hồi từ phía người học, do dạy học chủ
yếu là truyền thụ một chiều.
Thứ hai, mức độ lưu giữ thông tin của người học rất ít. Do trí nhớ ngắn hạn và
trí nhớ làm việc của người nghe thường xuyên bị quá tải, vì vậy, cần thiết phải có
phương tiện hỗ trợ ghi nhớ.
Thứ ba, tính cá thể hóa trong dạy học thấp, do GV phải dùng một số biện pháp
chung cho cả nhóm HS.
Thứ tư, làm cho HS trở nên thụ động, chỉ sử dụng chủ yếu đến thính giác cùng
với tư duy tái hiện, do đó dễ làm cho HS chóng mệt mỏi.
Thứ năm, làm cho HS thiếu tính tích cực trong việc phát triển ngôn ngữ nói,
người học gần như thụ động tiếp nhận thông tin từ phía người thuyết trình, ít có cơ hội
thể hiện và áp dụng các ý tưởng của mình đối với tài liệu học tập. Do đó bài học dễ
dẫn đến đơn điệu, nhàm chán.
Thứ sáu, thời gian thu hút và duy trì sự chú ý của người học vào nội dung bài
học thấp hơn các phương pháp khác.
Thứ bảy, thiếu điều kiện cho phép GV chú ý đầy đủ đến trình độ nhận thức
cũng như kiểm tra đầy đủ sự lĩnh hội tri thức của từng HS.
1.1.3. Đổi mới phương pháp thuyết trình trong dạy học
Để phương pháp thuyết trình thể hiện được vai trò quan trọng trong giảng dạy
10


môn GDCD, nhất là trong giai đoạn hiện nay, thì cần phải kết hợp phương pháp thuyết

hợp tác với nhau để hoàn thành một công việc chung, đánh giá tính logic và quan điểm
11


của người khác và của chính mình, góp phần hình thành tư duy phê phán. Mặt khác
thảo luận còn giúp HS nhận thức và thuyết trình một vấn đề khoa học của bộ môn
trước tập thể, khắc phục những nhược điểm của bản thân như: rụt rè, tùy tiện phát
biểu, nói năng không có luận cứ, thiếu suy nghĩ. Sử dụng phương pháp thảo luận còn
giúp GV có những phản hồi nhanh về tình trạng nắm tri thức bộ môn của HS , phát
hiện những sai sót để uốn nắn, điều chỉnh hoạt động của họ. Đồng thời GV cũng thu
được những thông tin ngược về phía mình để tự đánh giá, tự điều chỉnh, hoàn thiện
hoạt động giảng dạy.
Trong quá trình đổi mới PPDH theo hướng tích cực, phương pháp thảo luận trở
thành cách dạy chủ yếu đòi hỏi GV phải thành thạo về kỹ năng tổ chức và điều khiển
thảo luận, biết rõ lợi ích, các điều kiện thực hiện thảo luận và biết có thể áp dụng hình
thức dạy học này cho những loại mục tiêu nhất định.
* Kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp đàm thoại
Phương pháp đàm thoại được xem như là quá trình tương tác giữa người dạy
với người học, được thực hiện thông qua hệ thống các câu hỏi và câu trả lời tương ứng
về một chủ đề nhất định do người dạy và người học đặt ra. Kết quả là dưới sự dẫn dắt
của người dạy, người học thể hiện được ý tưởng của mình; khám phá và lĩnh hội đối
tượng học tập.
Thông thường có hai hình thức đàm thoại:
Đàm thoại có chủ đích. Hình thức đàm thoại mà câu hỏi của người dạy được
sắp xếp theo một hệ thống nhất định hướng vào chủ đề. Hình thức đàm thoại này có 3
loại: Đàm thoại diễn giải (giảng giải các khái niệm, phạm trù), đàm thoại dẫn dắt (giúp
HS nắm từng đề mục và toàn bài); đàm thoại tìm tòi (buộc HS phải tìm tòi, tổng hợp,
giải đáp, rút ra kiến thức mới).
Đàm thoại tự do (gợi mở) hình thức chuyển tải và hình thức lĩnh hội tri thức của
GV và HS. Nhưng ở đây dựa trên cơ sở nội dung bài học, GV và HS cùng đặt ra

phương pháp này là người thầy coi học trò là chiếc bình rỗng để mình rót kiến thức đã
được chuẩn bị vào bằng cách độc thoại, đọc cho trò chép. Sau khi trò chép xong, thầy
dừng lại phân tích, giảng giải những nội dung mà trò đã ghi. Sau đó về nhà học thuộc
lòng và đến khi thầy độc quyền đánh giá cho điểm cố định.
* Thuyết trình thuần túy có sử dụng mô hình hóa
Thầy vẽ lại mô hình hóa lên bảng phụ và phân tích, giảng giải cho HS hiểu, sau
đó thầy đọc những ý chính và HS ghi chép lại. Hình thức này chỉ thay đổi cách trình
bày bảng của thầy, còn nội dung kiến thức vẫn theo kiểu thầy đọc trò chép.
* Thuyết trình có phát vấn và thảo luận.
Đây cũng vẫn là hình thức thuyết trình thuần túy theo kiểu thầy đọc trò chép.

13


Tuy nhiên, trước khi đọc cho HS chép, thầy có nêu ra câu hỏi hoặc nêu ra vấn đề gì đó
liên quan đến nội dung bài học. HS thảo luận và trả lời câu hỏi, trình bày cách hiểu vấn
đề đã nêu. Cuối cùng thầy đưa ra kết luận và đọc cho trò chép.
1.2.2. Thực trạng dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Chiềng Sinh,
thành phố Sơn La
Để đánh giá đúng thực trạng giảng dạy bộ môn GDCD trường THPT và môn
GDCD lớp 12 ở trường THPT Chiềng sinh. Tôi đã tiến hành điều tra các GV giảng dạy bộ
môn GDCD, và GV đang trực tiếp giảng dạy môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Chiềng
Sinh, thành phố Sơn La.
Trong thời gian qua, giáo viên trường THPT Chiềng sinh, thành phố Sơn La chủ
yếu vẫn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống, phương tiện phục vụ dạy học còn
đơn điệu, học sinh học thụ động, thiếu sự sáng tạo. Do đó phải cần thiết đổi mới phương
pháp dạy – học. Thay vì sử dụng phương pháp thuyết trình thuần túy theo kiểu thầy đọc,
trò chép trong dạy học là chủ yếu như trước đây, cần vận dụng phối hợp nhiều phương
pháp khác nhau thùy theo nội dung cụ thể của mỗi bài giảng, đối tượng học sinh để việc
dạy – học có hiệu quả tối đa.

0

0

7

70

3

30

Kết quả từ bảng 1 cho thấy:
Mức độ sử dụng thường xuyên chiếm 0 %; thỉnh thoảng chiếm 70 %; chưa bao giờ
chiếm 30 %. Điều này cho thấy các GV đã nhận thức được hiệu quả và vai trò của việc sử
dụng phương pháp thuyết trình tuy nhiên mức độ sử dụng còn hạn chế.
14


Để tìm hiểu những khó khăn trong việc sử dụng phương pháp thuyết trình dẫn
đến GV mức độ sử dụng chưa cao, chúng tôi sử dụng phiếu câu hỏi số (2)
Khi sử dụng phương pháp thuyết trình trong dạy học thầy (cô) thường gặp những
khó khăn:
- Kích thích được hứng thú học tập của HS nhưng mất nhiều thời gian trong việc
đặt và giải quyết vấn đề.
- Trình độ nhận thức và năng lực khái quát của HS còn hạn chế.
Kết quả thu được như sau:
Bảng 2: Những khó khăn thường gặp của GV khi sử dụng phương pháp thuyết
trình trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Chiềng Sinh,
thành phố Sơn La

HS dân tộc nên năng lực khái quát và trình độ nhận thức của HS còn hạn chế. Tuy nhiên
đó là những khó khăn hoàn toàn có thể hạn chế và khắc phục được. Hơn nữa, sự kết hợp
này vừa kích thích được hứng thú học tập của HS vừa giúp GV chuyển tải tri thức cho HS
một cách có hệ thống, nội dung, phương pháp giảng dạy để tạo nên sức hấp dẫn của
môn học, nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của người học.
1.2.3. Thực trạng học tập môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Chiềng Sinh,
thành phố Sơn La
Hiện nay, trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La có tất cả: 805 HS, trong đó
có 463 nam, 342 nữ được phân thành 27 lớp với số lượng cụ thể theo từng khối lớp như
sau: khối 10 có: 08 lớp, với 330 HS; khối 11 có: 07 lớp, với 271 HS; khối 12 có: 05 lớp,
với 204 HS.
15


Tôi đã tiến hành điều tra 132 HS thuộc 3 lớp 12 với mục đích tìm hiểu thực trạng học
tập môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La.
Kết quả thu được như sau:
Bảng 3: Nhận thức của HS về tầm quan trọng của môn GDCD lớp 12 ở trường
THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La
Mức độ

Số lượng

Phần trăm (%)

Rất quan trọng

18

13,6 %

trong truyền thụ tri thức của GV dạy môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Chiềng
Sinh, thành phố Sơn La tôi đưa ra câu hỏi số (3):
Em đánh giá như thế nào về cách truyền đạt kiến thức của GV dạy học môn
GDCD lớp 12 ?
Kết quả thu được như sau:
Bảng 4: Đánh giá của HS về cách truyền đạt kiến thức của GV dạy học môn
GDCD lớp 12 ở trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La
Mức độ

Số lượng

Phần trăm (%)

Rất dễ hiểu

13

9,8 %

Dễ hiểu

17

12,9 %

Bình thường

72

54,5 %

kiểu thuyết trình thuần túy thầy đọc trò chép xen kẽ phát vấn, nặng về thông báo. Do
đó giờ học GDCD bị khô cứng, đơn điệu, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của HS.
PPTT đã và đang được sử dụng phổ biến trong dạy học môn GDCD là do chính
yêu cầu, nội dung của môn học quy định. PPTT tỏ ra có ưu thế trong việc truyền đạt có
hiệu quả những nội dung lý luận tương đối khó, trừu tượng, phức tạp, chứa đựng nhiều
thông tin mà HS không dễ dàng tự tìm hiểu được. Thậm chí có không ít người phê
phán hoặc chê bai nhưng PPTT vẫn đang tồn tại và phát triển trong dạy học hiện nay
và mai sau. Đơn giản không phải vì bản thân nó mà là do nội dung dạy học quy định
sự tồn tại của nó. Thực tế cho thấy việc dạy học bằng PPTT đã trở thành thói quen, tập
quán. Nếu loại bỏ hoàn toàn phương pháp này để thay thế bằng phương pháp khác
chưa chắc đã đạt hiệu quả cao hơn. Vì vậy, vấn đề không phải là xem phương pháp
này tốt hay không tốt mà là xác định những điều kiện để sử dụng nó có hiệu quả.
Trong thực tiễn không có phương pháp nào tồn tại độc lập. Trong quá trình dạy
học cụ thể, tùy theo mục đích và nội dung dạy học, các PPDH được sử dụng phối hợp
với nhau thành hệ thống theo chức năng của mỗi phương pháp, nhằm tăng cường mặt
mạnh và giảm thiểu hạn chế của nó. Đây là hệ thống cơ động, trong đó tại một thời
điểm, ứng với nội dung dạy học xác định, có một phương pháp giữ vai trò chủ yếu,
còn các phương pháp khác hỗ trợ. Khi chuyển nội dung dạy học sẽ dẫn đến chuyển vai
trò của các phương pháp trong hệ thống đó. Vì vậy, việc sử dụng đơn điệu một PPDH,
dù đó là phương pháp tốt nhất, cũng mang lại hiệu quả không cao. Bên cạnh đó, việc
17


dạy học không chỉ đảm bảo tính hệ thống của PPDH, mà còn phải nâng lên mức hệ
thống PPDH học hiện đại. Tức là phải đáp ứng được yêu cầu và xu thế phát triển của
mục đích và nội dung dạy học; phải khai thác được tối đa sự phát triển của các phương
tiện khoa hoc kỹ thuật vào trong dạy học, đặc biệt là công nghệ điện tử và thông tin.
Mặt khác cũng không chỉ dừng lại ở mức các biện pháp kỹ thuật, mà phải nâng lên
mức thủ pháp nghệ thuật dạy học của phương pháp.

thực trạng dạy học môn GDCD ở trường THPT Chiềng Sinh, chúng tôi đi tới kết luận.
PPTT vẫn giữ vai trò chủ đạo và phát huy tác dụng trong dạy học môn GDCD.
Để khắc phục những hạn chế của PPTT, phù hợp với yêu cầu của dạy học hiện đại
phải đổi mới PPTT. Giải pháp để đổi mới PPTT là kết hợp với các phương pháp khác
để tạo thành bài giảng thuyết trình theo hướng đổi mới: bài thuyết trình nêu và giải
quyết vấn đề, bài thuyết trình kết hợp thảo luận nhóm, bài thuyết trình đàm thoại, bài
thuyết trình đàm thoại phân tích,… Do đó bài giảng sẽ hiệu quả hơn.

19


CHƯƠNG 2
THỰC NGHIỆM VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH
TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT CHIỀNG SINH,
THÀNH PHỐ SƠN LA
2.1. Kế hoạch thực nghiệm
2.1.1. Giả thuyết thực nghiệm
Đổi mới PPTT theo hướng kết hợp PPTT với các PPDH khác, được thực hiện
thành công sẽ góp phần nâng cao tính tích cực học tập cũng như phát huy tính tự giác,
chủ động của HS, đẩy mạnh quá trình tương tác giữa thầy và trò, huy động tối đa điểm
mạnh của PPTT.
2.1.2. Mục đích thực nghiệm
Để có được kết quả phù hợp với giả thuyết và với mục đính nghiên cứu, tôi đã
lựa chọn 04 lớp không có sự khác nhau đáng kể về các điều kiện dạy học và khả năng
nhận thức của HS.
2.1.3. Nội dung thực nghiệm
Tôi tiến hành soạn 2 bài giáo án và giảng dạy cho 4 lớp: 2 lớp thực nghiệm và 2
lớp đối chứng.
Giáo án bài 5: “Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo”, và bài 6: “Công
dân với các quyền tự do cơ bản” (Sử dụng sách giáo khoa GDCD lớp 12, của Bộ Giáo

- Phân biệt được những việc làm đúng hay sai trong việc thực hiện quyền bình
đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo.
- Biết xử sự phù hợp với quy định của pháp luật và quyền bình đẳng giữa các dân
tộc, tôn giáo.
3. Về thái độ
- Ủng hộ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà Nước về quyền bình đẳng
giữa các dân tộc, tôn giáo.
- Có ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc,
tôn giáo và phê phán những hành vi gây chia rẽ giữa các dân tộc, tôn giáo.
II - Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
1. Chuẩn bị của giáo viên
- Sách giáo khoa, sách giáo viên GDCD lớp 12.
- Sách thiết kế bài dạy GDCD lớp 12 theo chuẩn kiến thức kỹ năng.
- Tài liệu tham khảo, đồ dùng trực quan.
2. Chuẩn bị của học sinh
- Học bài cũ, chuẩn bị bài mới.
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status