ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------***------
LÊ THỊ NGỌC TRANG
SƢ̣ HÌNH THÀ NH VÀPHÁT TRIỂN
CỦA MỸ HỌC MÁC XÍT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------***------
LÊ THỊ NGỌC TRANG
SƢ̣ HÌNH THÀ NH VÀPHÁT TRIỂN
CỦA MỸ HỌC MÁC XÍT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học : PGS. TS Đỗ Văn Khang
Hà Nội - 2015
nhận thức như triết học.
3
Có thể nói, thành tựu lớn nhất của mỹ học từ thời kỳ cổ đại đến nay , đó
là hệ thống quan điểm của mỹ học Mácxít. Hê ̣ thố ng mỹ ho ̣c này là sự kế thừa
những thành tựu của hầ u hế t các quan điể m của mỹ ho ̣c thời kỳ trước đó . Mỹ
học thời kỳ này đã giải thích quá trình phát triển xã hộ
i trên lâ ̣p trường duy
vâ ̣t biê ̣n chứng và duy vật lịch sử , đã phát hiê ̣n mô ̣t cách toàn diê ̣n các mố i
quan hê ̣ thẩ m mỹ với các mố i quan hê ̣ xã hô ̣i khác . Đó là mố i quan hê ̣ liên tu ̣c
giữa hiê ̣n tươ ̣ng và bản chấ t, giữa lich
̣ sử tự nhiên và lich
̣ sử xã hô ̣i.
Ở Việt Nam, mỹ học cũng ra đời từ rất sớm gắn liền với thời kỳ dựng
nước và giữ nước của dân tộc. Tuy nhiên, mỹ học thời kỳ này chưa có hệ thống
quan điểm mà chỉ là ẩn dưới hình thức của văn học nghệ thuật. Mỹ học thật sự
là khoa học triết học chỉ được nghiên cứu từ cuối những năm 50 của thế kỷ
XX. Các nhà mỹ học Việt Nam cũng chủ yếu tiếp thu những thành tựu của mỹ
học Mác – Lênin trong nghiên cứu mỹ học của Nga, Pháp và Trung Quốc.
Để làm sáng rõ những thành tựu của mỹ học Mácxít ở Việt Nam, tôi đã
chọn cho mình đề tài : “Sự hiǹ h thành và phát triể n của mỹ ho ̣c Mác xit́ ở Viê ̣t
Nam hiê ̣n nay” làm tên đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Từ trước đến nay đã có rất nhiều những cuốn sách và công trình nghiên
cứu về mỹ học nói chung như:
LQ TSKH Đỗ Văn Khang: Lịch sử mỹ học, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1984.
LQ TSKH Đỗ Văn Khang và Đỗ Huy: Mỹ học Mác – Lênin, Nxb Đa ̣i
trước Mác và các nhà mỹ học mácxit về sự hiǹ h thành và phát triể n của mỹ
học để qua đó, góp phần tìm ra quan niệm nào là có cơ sở khoa học nhất để
tiếp tục phát triển mỹ học Mácxít ở Việt Nam trong tình hình mới.
Nhiệm vụ:
Tìm hiểu tiề n đề cho sự ra đời của mỹ ho ̣c ở Viê ̣t Nam
Tìm hiểu sự hin
̀ h thành và phát triển của mỹ học Mácxít ở Việt Nam
hiê ̣n nay
5
4. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng:
Vấn đề hình thành và phát triển của mỹ học Mácxít ở Việt Nam: thành
tựu và triể n vo ̣ng.
Phạm vi:
Nghiên cứu các khuynh hướng của các nhà mỹ học trước Mác, các nhà
mỹ học Mácxit và những nhà mỹ học Việt Nam về sự hiǹ h thành và phát triển
của mỹ học Mác xít ở Việt Nam để khẳng định tính khoa học của quan niệm
khoa học của các vấn đề mỹ học.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về sự hình thành của
khoa học nói chung để xác định sự hình thành và phát triể n của mỹ ho ̣c Mác
xít ở Việt Nam nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là phương pháp đồng đại và lịch đại kết hợp
với phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp quy nạp - diễn dịch…
3 giai đoạn: Trước Đông Sơn diễn ra trong thiên kỷ 1 trước công nguyên:
Giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên thuộc sơ kỳ đồng thau.
Giai đoạn văn hóa Đồng Đậu thuộc trung kỳ đồng thau.
Giai đoạn văn hóa Gò Mun thuộc hậu kỳ đồng thau.
Đến văn hóa Đông Sơn thì các loại hình địa phương vẫn tồn tại nhưng
tính thống nhất văn hóa trở nên bao trùm và chi phối . Dù thuộc di tích nào , ở
địa phương nào , văn hóa Đông Sơn vẫn mang những đặc trưng chung biểu
thị trong các loại hình di vật văn hóa gồm công cụ
(rìu, cuốc, xẻng, lưỡi
cày...) vũ khi (rìu chiến, dao găm, mũi giáo, mũi tên...), đồ dùng và trang sức
7
(thạp, thổ, vòng tay, khuyên tai...) trong kỹ thuật chế tác và trong nghệ thuật
trang trí.. Văn hóa Đông Sơn vừa có cội rễ bản địa, vừa qua giao lưu và hội
nhập, tiếp thụ một số ảnh hưởng văn hóa bên ngoài từ phương Bắc và từ
phương Nam.
Quá trình thống nhất văn hóa Đông Sơn cũng là quá trình liên kết các
nhóm cư dân Việt cổ - người Lạc Việt và người Âu Việt - thành một cộng
đồng quốc gia với một hình thái nhà nước sơ khai. Đó là nước Văn Lang đời
Hùng Vương và tiếp theo là nước Âu Lạc đời An Dương Vương.
Nước Văn Lang và Âu Lạc ra đời trên một nền tảng kinh tế đã phát
triển, chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước đạt đến trình độ dùng lưỡi cày
bằng đồng thau và sức kéo của trâu, bò. Chăn nuôi có chó, lợn, gà, vịt, trâu,
bò, voi. Nghề thủ công có đúc đồng, luyện sắt, làm đồ gốm, đan lát , mộc, dệt,
sơn... Nhà cửa, trang phục, nhiều phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa còn
được ghi lại bằng hình ảnh trên các di vật Đông Sơn, nhất là trên trống đồng.
những biến đổi ít nhiều trong các nghi lễ nhưng tính chất căn bản của nó vốn
có từ thời Văn Lang, Âu Lạc vẫn được bảo lưu.
Trong các gia đình người Việt từ xa xưa đã định hình một quan hệ ứng
xử đẹp đẽ như thờ cúng tổ tiên, kính trọng ông bà, cha mẹ, anh em thuận hòa
và nhường nhịn nhau. Nho Hán và văn hóa Hán truyền bá vào Việt Nam
nhưng vẫn không thể làm thay đổi truyền thống văn hóa đó của dân tộc. người
Việt vẫn từ chối tư tưởng gia trưởng nặng nề, xem khinh phụ nữ của người
Hán. Nhìn chung, dưới thời Bắc thuộc, chữ Hán và Nho giáo cùng với toàn bộ
hệ tư tưởng phong kiến Trung Hoa không xâm nhập và không ảnh hưởng
nhiều đến các làng xóm người Việt cổ.
Trong cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp để bảo vệ di sản văn hóa truyền
thống thời Bắc thuộc, nhân dân ta đã biết tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa
của văn hóa ngoại nhập phù hợp với đặc tính, tâm hồn Việt Nam để làm
phong phú thêm văn hóa truyền thống. Điều này được thể hiện ở chỗ trong
hơn một nghìn năm đô hộ, tiếng nói của dân tộc Việt Nam đã trải qua một quá
trình đơn âm tiết hóa và thanh điệu hóa. Bởi vậy, bên cạnh những âm tiết
thuần Việt còn có nhiều âm tiết Hán - Việt.
9
Trên cơ sở ý thức dân tộc và tinh thần tự cường nhưng không bảo thủ,
đóng kín, nhân dân ta đã biết kết hợp giữa truyền thống và cách tân cho phù
hợp với hoàn cảnh lịch sử, đã tiếp thu một số cái hay, cái đẹp của văn hóa
ngoại nhập. Đó là sự tiếp thu có chọn lọc, có ý thức, có sự dung hợp. Điều
này được thể hiện ở nhiều lĩnh vực như từ tập quán giã gạo bằng tay đã
chuyển sang lối giã gạo bằng cối đạp từ đầu Công nguyên; từ tập tục ở nhà
sàn, dần dần người Việt chuyển sang ở nhà nền đất nện; trong trang phục, y
phục, nghệ thuật cũng phong phú, đa dạng và phát triển cao hơn trên cái căn
bản của nền văn hóa cổ truyền.
Nhìn chung, những thay đổi trên đây về tư tưởng văn hóa cũng đã dẫn
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Huy Hùng và Y Minh (1990): Mỹ học là gì ?, Nxb Văn hóa – Nghệ thuật,
Hà Nội.
7. Thế Hùng (2006): Mỹ học đại cương, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
8. Đỗ Huy (1970) : “Mấy suy nghĩ về nội dung tính Đảng trong Văn nghệ
theo quan điểm của Đảng ta”, Thông báo triết học, số 16, tháng 4
9. Đỗ Huy (1970) : “Sự không phù hợp giữa nội dung và hình thức trong
nghệ thuật”, Tạp chí mỹ thuật, số 9.
10. Đỗ Huy (1971): “Vấn đề nguồn gốc và bản chất của cái đẹp dưới ánh
sáng của Đảng ta”, Thông báo triết học, số 22.
11. Đỗ Huy (1984): Cái đẹp – một giá trị, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội.
12. Đỗ Huy (1996): Mỹ học với tư cách là khoa học, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
13. Đỗ Huy, Nguyễn Chương Nhiếp (2000): Tìm hiểu tư tưởng văn hoá thẩm
mỹ và nghệ thuật của Đảng trong thời kỳ đổi mới , Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh.
14. Đỗ Huy, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Ngọc Long (2000): Giáo trình Mỹ
học Mác Lênin, Khoa Triết học. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
15. Đỗ Huy (2000) : Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển văn
hóa mới ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
11
16. Đỗ Huy, Vũ Trọng Dung (2001): Giáo trình Mỹ học Mác Lênin, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
17. Đỗ Huy (2001): Mỹ học khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội.
18. Đỗ Huy (2002): Đạo đức học – mỹ học và đời sống văn hóa nghệ thuật,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
36. Phương Lựu (1979): Học tập tư tưởng văn nghệ của V.I.Lênin, Nxb Văn
học, Hà Nội.
37. V.I.Lênin (1963): Về văn học nghệ thuật, Nxb Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội.
38. C. Mác – Ănghen (1958) : Về văn học và nghệ thuật, Nxb Sự thật, Hà Nội.
39. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995): Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 6.
41. Phan Ngọc (1944) : Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, Nxb Văn
hóa, Hà Nội.
42. Phạm Quỳnh : Thượng chi văn tập, tập 1
43. Bùi Văn Nam Sơn(2007) : Phê phán năng lực phán đoán, Nxb Tri thức,
Hà Nội.
44. Vũ Minh Tâm (1998): Mỹ học và giáo dục thẩm mỹ, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
45. Như Thiết (1970) : “Mấy vấn đề về tính dân tộc của văn nghệ”, Thông
báo triết học, số 16, tháng 4
46. Như Thiết (1986) : Đưa cái đẹp vào cuộc sống, Nxb Sự thật, Hà Nội.
47. Lê Ngọc Trà, Lâm Vinh (1984) : Đi tìm cái đẹp, Nxb TP Hồ Chí Minh.
48. Tsécnưxépski (1962): Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực,
Nxb Văn hóa – Nghệ thuật, Hà Nội.
49. />50. />
13