Tài liệu Luận văn "Sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam" - Pdf 10



Luận văn "Sự hình thành và phát
triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam" A: LỜI NÓI ĐẦU

Trong thời kì đầu của xã hội loài người từ khi lực lượng sản xuất phát
triển và có nhiều thành tựu mới, con người dần thoát khỏi nền khinh tế tự nhiên
và chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Nền kinh tế hàng hoá phát triển
càng mạnh mẽ và đến đỉnh cao của nó là nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị
trường có những ưu việt của nó , đó là sự thoả mãn tối
đa nhu cầu của con người
vói một khối lượng hàng hoá khổng lồ. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ những hạn chế
, nhất là trong chế độ xã hội TBCN , một chế độ xã hội ở đó chỉ có lợi nhuận
được chú trọng hàng đầu dẫn đến sự phân hoá xã hội sâu sắc và quyền bình đẳng
trong xã hội bị xem nhẹ.
Nước ta sau khi giành được độc lập ở miền Bắc , Đả
ng đã xác định đưa
đất nước lên tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN. Khi miền Bắc
hoàn toàn được giải phóng thì cả nước bước vào thời kì quá độ lên CNXH. Đại
hội Đảng VI (1986) là một bước ngoặt lịch sử của nền kinh tế với đường lối mới
của Đảng để phát triển đất nước. Theo đó ta xây dựng và phát triển nền kinh tế
thị trường có sự qu
ản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Tư tưởng ấy
càng được nhấn mạnh trong các kì đại hội tiếp theo của Đảng.

hàng hoá,lao động của người sản xuất hàng hoá vừa có tính ch
ất tư nhân , cá biệt
, lao động của người sản xuất hàng hoá bao hàm sự thống nhất giữa hai mặt đối
lập là tính chất xã hội và tính chất tư nhân , cá biệt lao động của sản xuất hàng
hoá.Đối với mỗi hàng hoá mâu thuẫn đó được giải quyết trên thị trường.
Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài .
Đầu tiên là sản xuất hàng hoá giản đơn . Sản xuất hàng hoá giả
n đơn là sản xuất
hàng hoá nông dân , thợ thủ công dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và
sức lao động của bản thân họ.
Đây là một kiểu sản xuất nhỏ , dựa trên kĩ thuật thủ công và lạc hậu khi
lực lượng sản xuất phát triển cao hơn ,sản xuất hàng hoá giản đơn chuyển thành
sản xuất quy mô lớn . Quá trình chuyển biến này di
ễn ra trong một thời kì quá
độ từ xã hội phong kiến sang chế độ tư bản.
Trong một nền kinh tế sản xuất hàng hoá chiếm địa vị thống trị thì đó là
nền kinh tế hàng hoá , khi nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường
thì nền kinh tế này là nền kinh tế thị trường
Như vậy nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ

chế thị trường thì nền kinh tế này là nền kinh tế thị trường.Cơ chế thị trường là
tổng thể các nhân tố, quan hệ ,môi trường , động lực và quy luật chi phối sự vận
động của thị trường . Trong cơ chế thị trường động lực hoạt động của các thành
viên là lợi nhuận , lợi nhuận có tác dụng lôi kéo các doanh nghiệp sản xuất mà
xã hội cần . Cơ ch
ế thịa trường dùng lỗ, lãi để quyết định các vấn đề kinh tế cơ
bản. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường là tự vận động tuân theo những quy
luật vốn của nó, như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền
tệ, các quy luật vị trí, vai trò độc lập, song lại có mối liên hệ chặt chẽ, tác động
qua lại lẫn nhau, và tạo ra nhữ

càng phụ thuộc vào quyền lực của một cá nhân.
*Tác dụng:
Sự phân công lao động trong xã hội làm cơ sở chung cho mọi nền sản
xuất hàng hoá, chính sự phân công lao động trong xã hội làm cho sức lao động
trở thành hàng hoá.
Sự phân công lao động đặt cơ sở cho việc hình thành những nghề nghiệp
chuyên môn, những ngành chuyên môn nhằm nâng cao sức sản xuất.
Sự phân công lao động theo vùng với ngành sản xuất chuyên môm hoá
đặc tr
ưng sẽ là yếu tố quyết định sự khai thác có hiệu quả và phát huy thế mạnh
của vùng. Sự phân công lao động trong xã hội khi đã phát triển đến một trình độ
nào đó thì sẽ dẫn đến sự phân công lao động ở tầm vi mô- các xí nghiệp, các
hãng sản xuất - điều này làm cho các giai đoạn sản xuất ra sản phẩm bị chia
nhỏ,sản phẩm được hoàn thiẹn về chất lượng, dễ
dàng ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật .Sự phân công lao động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật làm việc
sản xuất đi vào chuyên môn hoá, nâng cao tay ngề của người sản xuất, tăng năng
suất lao động xã hội.
c. Hướng phân công và việc thực hiện ở nước ta:
Khi sản xuất hàng hoá ra đời, phát triển đến mức cao điển hình là ở xã hội
tư bản thì đòi hỏi sự phân công lao động sâu sắc để đi vào chuyên môn hoá cao,
đáp ứng nhu cầu, yêu cầu của nền kinh tế thị trường, từ trước tới nay trong xã
hội đã xuất hiện ba lần phân công lao đọng xã họi lớn :
Chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt
Xuất hiên nhiều ngành thủ công nghiệp
Xuất hiện thương nghiệp
ở nước ta muốn phát triển kinh tế hàng hoá phải phân công lại lao
động xã
hội cả trên mối quan hệ kinh tế quốc tế và trong nước.
*Đối với trong nước : tất yếu phải tiến hành phân công lao động xã hội

các quốc gia trong từng khu vực .
+ Tăng cường hợp tác và nhất thể hoá kinh tế thế giới, đặc biệt là phạm vi
từng khu vực
Là một quốc gia phát triển , Việt Nam có những lợi thế can bản để có thể
tham gia tích cực vào phân công lao động khu vực và quốc tế. Những l
ợi thế đó
trước hết là :
- Vị trí địa lý thuận lợi : Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa , tự nhiên
Việt Nam rất phong phú và đa dạng , khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ ở Tây
á , Đông phi , Tây phi. Đặc điểm này có tác động sâu sắc đến cơ cấu, quy mô và
hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam . Việt Nam nằm ở rìa đông bán
đảo Đông Dương , gần trung tâm Đông Nam á có vùng biển chủ quyền rộng lớn
và giàu ti
ềm năng, dễ dàng phát triển kinh tế - thương mại, văn hoá và khoa học
kỹ thuật với các nước trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam nằm trong khu
vực diễn ra các hoạt động sôi động nhất thế giới trước thế kỷ 21, các nước
ASEAN mà Việt Nam là thành viên chính thức kể từ tháng 7/95 đang ngày càng
chiếm địa vị cao trong nền kinh tế thế giới/
- Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng.
- Nguồn tài nguyên nhân vă
n phong phú bao gồm bản thân con người và
hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển lịch sử dân
tộc . Đường lối đổi mới và chính sách mở cửa do Đảng ta đề ra từ đại hội thứ
sáu đã mang lại kết quả rất uan trọng , tạo ra môi trường thuận lợi để Việt Nam
tham gia ngày càng tích cực vào phân công lao động trong khu vực và quốc tế ,
nhanh chóng hoà nhập vào thị trường quốc tế.
Để nâng cao vai trò và vị
trí của Việt Nam trong hệ thống phân công lao
động khu vực quốc tế , đòi hỏi phát huy tinh thần tự lục tự cường và những lợi
thế nói trên.

ước
đối với hình thức sở hữu này .Hiến pháp này xác định có 3 hình thức rở hữu :sở
hữu toàn dân , sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Hơn nữa, cả ba hình thức đều
được nhà nước bảo hộ . Quốc hữu hoá quyền sở hữu tư nhân đều bị cấm và việc
trưng dụng cần thiết tài sản phải được đền bù , quyền thừa kế
và quyền chuyển
nhượng cũng đfược bảo hộ .
Quyền sở hữu tư nhân ,yếu tố cần thiết cho nền kinh tế thị trường , đã bắt
đầu phát triển rất lâu trước khi hiến pháp được sửa vào năm 1992. Chúng ta có
thể thấy rõ bằng chứng về hoạt động của khu vực tư nhân tăng trong những năm
trước , tuy nhiên đứng trên góc độ hệ thống pháp lý mà xét , vi
ệc tạo cơ sở rõ
ràng cho sở hữu và chuyển nhượng tài sản có tầm quan trọng vì hai lý do .Thứ
nhất ,luật chấp nhận chính thức điều này sẽ là dấu hiệu cho những người có thể
trở thành nhà kinh doanh tư nhân và các nhà đầu tư thấy rằng hoạt động kinh tế
tư nhân là chính thức được phép và khuyến khích. Khi chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường , lo
ại khuyến khích chính thức này có thể
có trọng lượng đôi chút . Thứ hai , những cá nhân khởi sự hoạt động kinh tế tư
nhân trên cơ sở chính thức được phép có thể dựa vào pháp luật để bảo vệ hoạt
động kinh doanh của họ trong tương lai . Điều cần chú ý ở đây là hiến pháp của
Trung Quốc cũng có điều khoản về sở hữu tương tự như hiến pháp n
ăm 1990
của Việt Nam , nhưng năm 1988 Trung Quốc phải bvan hành những điểm bổ
xung hiến pháp để bảo vệ quyền sở hữu tư nhân một cách rộng rãi.
Một mặt của hoạt động thương mại cần có cơ cấu khung về pháp lý có
hiệu lực trong điều kiện kinh tế thị trường là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ để thúc
đẩy việ
c tạo ra mặt hàng và những quy trình sản xuất mới là mới ở Việt nam và
sử dụng hàng hoá và quy trình sở hữu có chủ sở hữu được tạo ra ở nơi khác

Dưới sự tác động c
ủa khoa học công nghệ làm biến đồi về chất lực lượng
sản xuất theo hướng thực hiện từng bước chiến lược đồng bộ hoá giữa tư liệu
sản xuất hiện đại với con người hiện đại nhằm nâng cao trình độ xã hội hoá sản
xuất . Đến lượt nó , sự đồng bộ hoá này lại tác động làm biến đổi sở hữu và cơ
chế
thị trường ở nước ta theo hướng độc quyền , độc tôn sang sở hữu hỗn hợp đa
dạng , từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý
vĩ mô của nhà nước.
Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ theo hướng
đã xác định làm cho nền kinh tế thị trường nước ta từng bước thích nghi với tốc
độ
nhanh của tính chất mới của nền kinh tế thị trường thế giới.
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua sự phân công lao động làm thay
đổi từng bước cơ cấu ngành vùng , thay đổi chiến lược kinh doanh , thay đổi cơ
cấu giá trị hàng hoá nhất là trong ngành công nghệ mới .
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nâng cao năng lực tích luỹ từ nội bộ nền
kinh tế tạo điều ki
ện thay đổi chiến lược tái sản xuất giản đơn sang phát triển cả
về chiều rộng lẫn chiều sâu .
*Sự tác động của kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã đối
với sự phát triển của khoa học- công nghệ ở nước ta .
Nền kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tác động tích cực
đến sự phát triển củ
a khoa học công nghệ
Kinh tế thị trường sẽ thúc đẩy sự thay đổi trong cơ cấu của lực lượng sản
xuất , điều này được thể hiện ở chỗ công nghệ , đối tượng lao động , cơ cấu lao
động phát triển theo hướng công nghệ nhiều trình độ , những công nghệ mũi
nhọn. Dưới tác động của nền kinh tế thị trường , đối tượng lao độ
ng được khai

-Trên cơ sở vai trò then chốt của cách mạng khoa học công nghệ và vai
trò động lự
c của nó đối với lực lượng sản xuất , Nhà nước cần có chính sách
khoa học công nghệ hữu hiệu : Nhà nước cần cung cấp những điều kiện cần thiết
cho nghiên cứu khoa học , coi trọng lao động trí tuệ - vốn quý nhất trong vốn
quý lao động,sớm có những chính sách có tác dụng kích khích các chủ thể sản
xuất , kinh doanh ở tất cả các hình thức sở hữu tring và ngoài nước đầu tư sức
người sức người sức của vào việc trang bị công nghệ hiện đại .
Việc chuyển giao công nghệ hiện đại trên thế giới so với trước tuy có
những thuận lợi nhất định , song cũng không kém phần phức tạp . Do vậy , khi
tiếp nhận công nghệ mới phải thận trọng , tránh những sai lầm đắt giá vừa qua ,
nâg cao năng lực tiếp nhận sao cho tránh được hao mòn tài sản cố định do nh
ập
công nghệ lạc hậu và các nguyên nhân khác gây ra. Đồng thời thực hiện chủ
nghĩa tư bản nhà nước để thu hút đầu tư nước ngoài.
- Xây dựng đồng bộ các loại thị trường , thực hiện chiến lược thị trường
hướng ngoại , dùng nó để kích thích sự phát triển khoa học - công nghệ và thị
trường nội địa.
- Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục đào tạo trong sự
gắn bó khoa học - công
nghệ và kinh tế thị trường , coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố
con người , động lực trực tiếp của sự phát triển.
- Tạo lập thị trường cho các hoạt động khoa học công nghệ . Thúc đẩy các
doanh nghiệp lớn của nhà nước đổi mới công nghệ , thu hút lực lượng nghiên
cứu và triển khai về các doanh nghiệp .
- Kết hợp hài hoà giữa quy luật phát triển tuần tự và quy luật phát triể
n
nhảy vọt , thông qua chính sách mở cửa vừa để sử dụng có hiệu quả lợi thế để
phát triển khoa học công nghệ và kinh tế thị trường.
3. Các bước phát triển của kinh tế thị trường

phẩm với sản phẩm công nghệ, mà cả giữa các sản phẩm nhà nước với nhau.
Sự phát triển của công nghiệp và nông nghiệp, sự hình thành trung tâm
công nghiệp, sức hút của chúng đối với dân cư ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống
nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp hàng hoá phát triển.
Những người sản xuất ở những vùng khác nhau có những điều kiệ
n tự
nhiên khác nhau, có khả năng và ưu thế trong sản xuất những sản phẩm khác
nhau có hiệu quả hơn. ngay trong một vùng, một địa phương, những người sản
xuất cũng có những khả năng, điều kiện và kinh nghiệm sản xuất khác nhau.
Mỗi người sản xuất chỉ tập trung sản xuất sản phẩm nào mà mình có ưu thế, đem
sản phẩm của mình trao đổi (mua và bán) lấy những sản phẩm cần thiết cho sản
xuất và đời sống của mình. Họ trở thành những người sản xuất hàng hoá. Trao
đổi, mua bán, thị trường, tiề
n tệ ra đời và phát triển .
Sản xuất hàng hoá ra đời, lúc đầu dưới hình thức sản xuất hàng hoá nhỏ,
giản đơn, nhưng là một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại.
3.2. Từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển sang nền kinh tế tự do cổ
điển.
Quá trình chuyển từ nền kinh tế giản đơn sang nền kinh tế tự do cổ điể
n
được thực hiện qua ba giai đoạn phát triển cả về lực lượng sản xuất, cả về quan
hệ sản xuất mới thích ứng với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất .
Kỹ thuật thủ công dựa trên lao động hiệp tác giản đơn:
Hiệp tác giản đơn tư bản chủ nghĩa dựa trên cơ sở kỹ thuật thủ
công, với quy mô
lớn hơn so với tổ chức sản xuất phường hội và sản xuất nhỏ cá thể. Trong giai
đoạn hiệp tác giản đơn, công nhân phụ thuộc vào nhà tư bản về kinh tế nhưng
vẫn còn độc lập về mặt kỹ thuật. Để tổ chức hiệp tác lao động, bước đầu tiên
phải tập trung tư liệu sản xuất, trên cơ sở đ
ó tập trung sức lao động.Tập trung

trình phát triển, chủ nghĩa tư
bản tự tạo cho nó một cơ sở kỹ thuật tương ứng là
máy móc, đưa chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn công trường thủ công lên giai đoạn
đại công nghiệp cơ khí. Máy móc được sử dụng phổ biến trong xã hội thông qua
cuộc cách mạng công nghiệp. Đó là cuộc các mạng kỹ thuật thay thế lao động
thủ công bằng lao động sử dụng máy móc. Công cuộc cơ khí hoá ở
một ngành
dẫn đến việc thúc đẩy quá trình cơ khí hoá ở một ngành có liên quan. Cơ khí hoá
trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp thúc đẩy cơ khí hoá ở các ngành liên
quan. Cơ khí hoá trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp thúc đẩy cơ khí hoá
ngành giao thông vận tải… cơ khí hoá bắt đầu từ ngành công nghiệp nhẹ đến các
ngành công nghiệp nặng. Máy móc và đại công nghiệp có tác dụng chủ yếu làm
năng suất lao động xã hội tăng vọt, xã hội hoá lao động và sản xuất ngày càng
cao, mở
rộng thị trường, thúc đẩy sự ra đời của các trung tâm công nghiệp và
những thành thị lớn; đồng thời, tạo ra những tiền đề vật chất kỹ thuật .
3.3. Từ nền kinh tế thị trường tự do chuyển sang nền kinh tế thị trường
hỗn hợp.
Xuất phát từ những khuyết tật của cơ chế thị trường:
Do chạy theo lợi nhuận cho nên các doanh nghi
ệp thường gây ô nhiễm
môi trường, thường khai thác tài nguyên một cách bừa bãi dẫn tới làm mất cân
bằng sinh thái mà doanh nghiệp không phải đền bù một khoản thiệt hại nào.
Cơ chế thị trường dễ làm xuất hiện căn bệnh: khủng hoảng kinh tế, thất
nghiệp, lạm phát và suy thoái.
Cơ chế thị trường dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo, dễ phát sinh những tiêu
cực xã hội .
Kinh tế thị trường là m
ột bước phát triển sau của kinh tế tự nhiên và khi
kinh tế hàng hoá phát triển tới trình độ cao thì đó chính là kinh tế thị trường.

hàng hoá, với môi trường cạnh tranh, động lực là lợi nhuận. Các bộ phận hợp
thành cơ chế thị trường này có mối quan hệ mật thiết với nhau, như là những
khâu trong guồng máy. Giá cả là cái nhân của thị tr
ường, cung cầu là trung tâm
và cạnh tranh là linh hồn là sức mạnh của thị trường .
4.1. Cung - cầu hàng hoá:
Cầu hàng hóa: là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả
năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong cùng một thời gian.
Cung hàng hoá: là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người bán có khả
năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.
Như vậy để có cầu hàng hoá phải có ba điều kiện: mong muốn mua, có
khả năng mua và mức giá.
Để có cung hàng hoá cũng phải có ba điều kiện: mong muốn sản xuất, có
khả năng sản xuất và mức giá.
Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả của hàng hoá giảm. Và ngược lại khi cầu
lớn hơn cung thì giá cả của hàng hóa sẽ tăng. Và đến khi cung về hàng hoá nào
đó trên thị trường vừa đúng bằng cầu của hàng hoá thì lúc đó cung - cầu ở trạng
thái cân bằng, xác định m
ức giá cả là giá cả cân bằng. Song vì cung và cầu luôn
biến động nên cân bằng cung - cầu luôn biến động theo. Giá cả thị trường của
hàng hoá là do tương quan của cung và cầu trên thị trường quyết định. Nhưng
đồng thời khi giá cả biến động thì nó cũng tác động tới việc thu hẹp hay mở
rộng quy mô sản xuất.
Những tác động của cung - cầu đối với thị trường:
Quan hệ cung cầu góp phần
đính chính giá cả thị trường và lập lại, khôi
phục lại sự cân đối của nền kinh tế
Quan hệ cung - cầu còn trực tiếp làm ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của
người sản xuất và người tiêu dùng; người bán và người mua.
4.2. Giá cả:

Các chức năng của cạnh tranh:
Cạnh tranh có thể điều chỉnh một cách nhanh chóng các hành vi sản xuấ
t
tiêu dùng của xã hội .
Cạnh tranh thúc đẩy sự tiến bộ của kỹ thuật .
Cạnh tranh thoả mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng.
Cạnh tranh tạo chính sách cho việc phân phối thu nhập ban đầu nghĩa là các
doanh nghiệp nào thắng trong cạnh tranh thì sẽ thu được lợi nhuận hơn đối phương.
.Các loại cạnh tranh gồm có:
Cạnh tranh trong nước và cạnh tranh trên thị trường nước ngoài.
Cạnh tranh giữa những ng
ười sản xuất hàng hoá với nhau theo ba hướng:
giá cả, chất lượng hàng hoá và thực hiện các dịch vụ trước, trong và sau khi bán
hàng.
Cạnh tranh giữa một bên là những người bán và một bên là những người
mua.
Cạnh tranh giữa những người mua với nhau. Trên thương trường không
có chuyện "đơn phương độc mã" mà là "buôn có bạn, bán có phường".
Cạnh tranh kích thích tính năng động, tính tự chủ của các doanh nghiệp,
vì thế nó làm cho kinh tế thị trường phát triển rất năng động (hoàn toàn khác với
nền kinh tế tự nhiên, nền kinh tế trong thời kì bao cấp).
Cạnh tranh huy động đượ
c mọi nguồn lực của xã hội vào việc phát triển
kinh tế .
Cạnh tranh thúc đẩy được cải tiến kỹ thuật và sử dụng công nghệ mới.
Cạnh tranh hiệu quả là công cụ hữu hiệu nhất để đảm bảo sự phân bổ tối
ưu các nguồn lực và hệ quả mà nó mang lại là năng suất tối ưu.Cạnh tranh thúc
đẩy các nguồn lực di chuyển tới nơ
i nào có hiệu quả nhất bởi người sản xuất
muốn sử dụng chúng để đem lại lợi nhuận càng nhiều, càng tốt.

sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Họ mong
muốn chi phí cho các đầu vào ít nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để sau
khi trừ đi các chi phí còn số dư dôi để không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tái
sản xuất mở rộng, không ngừng tích luỹ phát triển sản xuất, củng cố và tăng
cường vị trí của mình trên thị trường .
Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợ
p, phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu
quả của quá trình kinh doanh kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường,
chuẩn bị và tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, đến khâu tổ chức bán hàng và
dịch vụ cho thị trường. Nó phản ánh cả về mặt lượng và mặt chất của quá trình
kinh doanh.
Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí
Như vậy, lợi nhuận là
động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển sản xuất
kinh doanh.
5. Các quy luật của kinh tế thị trường
5.1 Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá. ở đâu có
sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị là quy luật chi phối cơ chế thị trường và chi phối các quy
luật kinh tế khác, các quy lu
ật kinh tế khác là biểu hiện yêu cầu của quy luật giá
trị mà thôi
Quy luật giá trị quy.ết định giá cả hàng hoá, dịch vụ, mà giá cả là tín hiệu
nhạy bén nhất của cơ chế thị trường .
Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được tiến
hành trên cơ sở của việc hao phí lao động xã hội cần thiết: Trong sản xuất
nó đòi hỏi người sả
n xuất luôn luôn có ý thức tìm cách hạ thấp hao phí lao động
cá biệt xuống nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết.

và hoạt động một cách khách quan. Cung - cầu tác động lẫn nhau:
Cầu xác định cung và ngược lại cung xác định cầu. Cầu xác định khối
lượng, chất lượng và chủng loại cung về hàng hoá. những hàng hoá nào được
tiêu thụ thì mới được tái sản xuất. Ngược lại, cung tạo ra cầu, kích thích tăng cầu
thông qua phát triển số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá, hình thức, quy
cách và giá cả của nó.
Cung - cầ
u tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả. Đây là sự
tác động phức tạp theo nhiều hướng và nhiều mức độ khác nhau.
Quy luật cung - cầu tác động khách quan và rất quan trọng. Nếu nhận thức
được chúng thì chúng ta vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất kinh
doanh theo chiều hướng có lợi cho quá trình tái sản xuất xã hội. Nhà nước có thể
vận dụng quy luật cung - cầu thông qua các chính sách, các bi
ện pháp kinh tế
như: giá cả, lợi nhuận, tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cơ cấu tiêu
dùng. Để tác động vào các hoạt động kinh tế theo quy luật cung - cầu, duy trì
những tỷ lệ cân đối cung - cầu một cách lành mạnh và hợp lý.
5.3. Quy luật canh tranh:
Cạnh tranh là sự tác động lẫn nhau giữa các nhóm người, giữa người mua
và người bán hay giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Hai nhóm này tác
động lẫn nhau với tư
cách là một thể thống nhất, một hợp lực. ở đây cá nhân chỉ
tác động với tư cách là một bộ phận, một lực lượng xã hội, là một nguyên tử của
một khối. Chính dưới hình thái đó mà cạnh tranh đã vạch rõ cái tính chất xã hội
của sản xuất và tiêu dùng.
Bên canh tranh yếu hơn cả cũng đồng thời là cái bên mà ở đó mỗi cá nhân
đều hoạt động một cách
độc lập với đông đảo những người cạnh tranh với mình
và thường thường là trực tiếp chống lại những người đó. Chính vì sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa một người cạnh tranh cá biệt với những người khác lại càng thêm

tiền tệ có quan hệ chặt chẽ với tiền - hàng, mua - bán, giá cả - tiền tệ.
Kinh tế hàng hoá trên một ý nghĩa nhất định có thể gọi là kinh tế tiền tệ,
quyết định cơ chế lưu thông tiền tệ.
Mặt khác cơ chế lưu thông tiền tệ còn phụ thuộc vào cơ chế
xuất nhập
khẩu, cơ chế quản lý kim loại quý, cơ chế kinh doanh tiền của ngân hàng.
Nếu quy luật canh tranh, quy luật cung - cầu làm giá hàng hoá vận động,
san bằng thì quy luật lưu thông tiền tệ giữa mối liên hệ cân bằng giữa hàng và
tiền.
Ngoài ra còn một số loại quy luật khác như: quy luật tỷ suất lợi nhuận có
xu hướng giảm, quy luật khủng hoảng kinh tế , quy luật tâm lý… cũng
ảnh
hưởng đến cơ chế thị trường.
II.SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨAỞ VIỆT NAM
1. Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở nước ta :
Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam sẽ được phát triển theo định hướng
XHCN. Sự định hướng của xã hội hùng mạnh lấy cơ sở “nhân dân lao động làm
chủ, con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng
lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có đIều kiện phát
triển toàn diện cá nhân”. Xã hội có nền kinh tế phát triển cao trên cơ sở khoa học
công nghệ và lực lượng sản xuất hiện đại.
Sự định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta là cần thiết và
có tính khách quan. Xây dựng nền kinh tế thị trường không có gì mâu thuẫn với
định hướng XHCN. Đại h
ội đảng VIII đã khẳng định: “ cơ chế thị trường đã
phát huy tác dụng đến sự phát triển kinh tế xã hội. Nó chẳng những không đối
lập mà còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát triển
đất nước theo con đường XHCN ”

sở hữu không quyết định trực tiếp thể chế kinh tế, thông qua cơ cấu quyền sở
hữu tài sản được hình thành bởi một chế độ sở hữu nào đó, tác động gián tiếp
đến thể che kinh tế. Vì vậy, trong điều kiện chế độ công hữu XHCN, xã hộ
i có
thể thực hiện đượcthể chế kinh tế thị trường, nếu sở hữu nhà nước được phân
giảI thành các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt ( Trong đó nhà
nước đại diện cho chủ sở hữu nắm giữ quyền chiếm hữu còn quyền sử dụng kinh
doanh trao cho doanh nghiệp ) sẽ hình thành nền kinh tế thị trường. Tuy vậy,
trong việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, vấn đề đặt ra là
giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, rút
ngắn khoảng cách phân hoá giầu nghèo, giảm bớt thất nghiệp…
2- Các giai đoạn hình thành phát triển kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN ở Việ
t Nam
Quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá theo định
hướng XHCN ở nước ta là một quan hệ phức tạp, nhiều khó khăn, không nên
quan niệm giản đơn và nóng vội cần phải tuân thủ những quy luật của quá trình
hình thành và phát triển kinhtế thị trường. Gồm các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn quá độ chuyển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phầntheo
định hướng XHCN:
Về mặt lịch sử giai đoạn này bắt
đầu từ năm 1979 với mốc lịch sử rất
quan trọng là nghị quyết BCHTW lần VI ( khoá IV ), tháng 9 năm 1979. Về mặt
logic thì bắt đầu từ việc hình thành và củng cố những đơn vị sản xuất hàng hoá
theo đúng nghĩa nhằm tạo ra mối quan hệ vừa tự chủ vừa lệ thuộc lẫn nhau giữa
các chủ thể sản xuất. Giai đoạn nằy mang nội dung chủ
yếu là khắc phục tính
hiện vật trong quan hệ trao đổi, hình thành quan hệ hàng hoá tiền tệ. cùng với
nội dung ấy là các giải pháp chủ yếu sau:
- Hình thành và củng cố những đơn vị sản xuất hàng hoá nhằm chuyển

trình độ thị trường là phản ánh trình độ phát triển của cơ chế hàng hoá, thúc đẩy
sản xuất hàng hoá phát triển hơn. Nó vừa là đI
ều kiện vừa là môi trường của sản
xuất
- Hoàn thịên và tăng cừng vận dụng các chính sách tài chính và tiền tệ.
- Bồi dưỡng và đào tạo càn bộ quản lý doanh nghiệp theo yêu cầu của
kinh tế thị trường.
- Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước nhằm phát huy những ưa thế
khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường.
+ Giai đoạn hình thành và phát tri
ển kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN:
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là tiền tệ hoặc các quan hệ kinh tế,
tạo lập cơ sở kinh tế cho các quy luật kinh tế của kinh tế thị trường phát huy tác
dụng một cách đầy đủ, phát triển kinh tế trong nước và hoà nhập với kinh tế thế
giới vơí các giải pháp là:
- Phát triển cơ cấu kinh tế mở nhằ
m hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân.Đây
là giải pháp mang tính thời đại.Dựa trên lợi thế so sánh và chủ quyền nước ta.
- Hoàn thiện và phát triển kinh tế thị trường và các yếu tố sản xuất nhằm
đáp ứng nhu cầu về vốn, sức lao động và các đIều kiện vật chất khác cho sản
xuất.
- Thiết lập cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà n
ước-giải pháp quyết
định đến sự hình thanh và phát triển nền kinh tế thị trưởng nước ta.
- Lựa chọn chính sách khoa học, công nghệ vì mục tiêu phát triển nhằm
khắc phục sự khan hiếm các nguồn lực đưa nền kinh tế phát triển theo chiều sâu,
trong đólao đọng trí tuệ trở thành đặc trưng nổi bật. Như vậy phải đòi hỏi có một
đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thu
ật đông đảo và tài năng, tận tuỵ với sự nghiệp

kiện để tham gia và được hưởng những thành quả tương xứng với sức lực, khả

năng và trí tuệ của họ bỏ ra, bảo đảm cơ bản cơ hội của người dân tham gia các
hoạt động kinh tế - xã hội .
3.2. Đặc trưng về thể chế kinh tế :
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thể chế của các
chủ thể kinh tế tự do, tự chủ kinh doanh theo pháp luật. Kinh tế thị trường nước
ta t
ồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh
tế vừa cạnh tranh, vừa liên kết, hợp tác với nhau nhằm phát triển đạt trình độ xã
hội hoá cao. Trong đó khu vực kinh tế Nhà nước có vai trò chủ đạo trong một số
lĩnh vực và một số khâu quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh
tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa củ
a đất nước.
Các thành phần kinh tế có sự cạnh tranh bình đẳng, mỗi thành phần như
vậy có xu hướng phát triển khác nhau, lợi ích khác nhau thậm chí đối lập nhau.
Vì thế Nhà nước phải có biện pháp hạn chế xu hướng phát triển tự phát, và định
hướng cho nó phát triển theo xã hội chủ nghĩa .
Các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường nước ta tồn tại ba loại
hình sở hữu cơ bản: sở h
ữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Từ ba
hình thức sở hữu đó hình thành nên nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ
chức sản xuất kinh doanh. Do đó không chỉ ra sức phát triển các thành phần kinh
tế thuộc chế độ công hữu, mà còn phải khuyến khích phát triển các thành phần
kinh tế thuộc sở hữu tư nhân để hình thành nền kinh tế thị trường rộng lớn bao
g
ồm các đơn vị kinh tế thuộc chế độ công hữu, các đơn vị kinh tế tư doanh, các
hình thức hợp tác liên doanh giữa trong và ngoài nước, các hình thức đan xen và
thâm nhập vào nhau giữa các thành phần kinh tế đều có thể tham gia thị trường
với tư cách chủ thể thị trường bình đẳng.

tế, bỏ, nuôi dưỡng và phát triển các nguồn lực. Hướng hoạt động của các chủ thể
kinh tế thị trường vào các mục tiêu được Nhà nước hoạch định, tạo môi trường
kinh tế - xã hội, khung khổ pháp lý thuận lợi và duy trì môi trường hoà bình ổn
định cho các hoạt động sả
n xuất kinh doanh, bù đắp sự bất lực của thị trường
bằng cách cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công cộng, xây dựng các định chế
kinh tế.
3.4. Đặc trưng về quan hệ phân phối:
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện chủ
yếu cơ chế phân phối theo lao động và hiệu quả, đồng thời phân phối theo mức
đ
óng góp vốn và trí tuệ vào sản xuất kinh doanh. Nhà nước có chính sách điều
tiết để tái phân phối hợp lý thông qua phúc lợi xã hội và thực hiện các chính
sách xã hội theo phương châm gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng
xã hội trong các giai đoạn phát triển của nền kinh tế .
Nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất khác
nhau do đó có nhiều thành phần kinh tế và tương ứng với mỗi thành phần kinh tế
đó thì sẽ có các nguyên tắc và hệ thống phân phối phù hợp. Cho nên ở nước ta
có nhiều hình thức phân phối. Để đạt tới công bằng trong phân phối thu nhập,
chúng ta thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập: phân phối theo kết quả
lao động và hiệu quả kinh tế, hiệu suất công tác, phân phối theo mức đóng góp
vốn và các nguồn l
ực khác vào sản xuất kinh doanh, phân phối thông qua các
quỹ phúc lợi xã hội, trong đó hình thức phân phối theo kết quả lao động và hiệu
quả kinh tế là chủ yếu, đi đôi với chính sách điều tiết thu nhập một cách hợp lý
nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo, vừa khuyến khích lao độn,
vừa bảo đảm những phúc lợi xã hội cơ bản.
3.5. Đặc trưng về vai trò quảnlý của Nhà nước :
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được quản lý ( Tổ
chức, hướng dẫn, nuôi dưỡng, giám sát bởi Nhà nước của dân, do dân, vì dân)

phục những yếu kém của
4. Một số giải pháp để tiếp tục giữ vững định hướng XHCN trong phát triển
kttt của nước ta trong giai đọan tới:
4.1. Các biện pháp đảm bảo định hướng XHCN trong phát triển kinh
tế thị trường.
Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là một tiến trình
phức tạp lâu dài và khó khăn. khi hình thành nền kinh tế thị trường cơ cấu xã hội
trở nên phức tạp và khó nắm bắt, đồng thời nếu như không định hướng tốt thì cơ
chế thị trường sẽ bị chệch hướng. Do đ
ó để tiếp tục giữ vững định hướng XHCN
trong khi đổi mới cơ chế cần thực hiện một số giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo
sự phát triển bền vững của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời phaỉ giữ đúng hướng
đi của nền kinh tế. Giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu trên chính là việc
đề cao vai trò của kinh t
ế nhà nước, bên cạnh đó là các thành phần kinh tế tư
nhân, cá thể được phát triển mạnh, cần phát huy tính tích cực định hướng nền
kinh tế của các thành phần kinh tế nhà nước.
Muốn làm được những điều ấy cần:
Một là: Giữ vững quyền sở hữu trong tay nhà nước- chỉ nhà nước là
duy nhất có chủ quyền sở hữu toàn bộ lãnh thổ quốc gia.
Hai là: Nhà nước xác đị
nh rõ những ngành kinh tế, những lĩnh vực mà
kinh tế quốc doanh cần dữ vai trò chủ đạo. Đó là những ngành, những lĩnh vực
đảm bảo sự chi phối hoạt động thống nhất của toàn bộ nền kinh tế quốc dân,
đảm bảo cho an ninh quốc gia và an toàn xã hội như: hệ thống cảng biển, sân
bay, đường sắt, quản lý mạng lưới đường quốc lộ, hệ thống phân phối
đIện quốc
gia, liên lạc viễn thông, hệ thống quỹ dự trữ quốc gia, các cơ sở kinh tế phục vụ
quốc phòng an ninh, những cơ sở phục vụ công cộng đảm bảo nhu cầu sinh hoạt
thường xuyên của nhân dân…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status