1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
HOÀNG HÀ
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CÁC TRƯỜNG THÀNH VIÊN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2016
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
HOÀNG HÀ
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CÁC TRƯỜNG THÀNH VIÊN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang
Trang bìa
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt trong luận án
Danh mục các biểu bảng trong luận án
Danh mục các biểu đồ trong luận án
Phần mở đầu
1
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
4
1.1 Quan điểm, đường lối cuả Đảng, Nhà nước về công tác giáo
4
dục thể chất và thể thao trường học
1.2 Vai trò giáo dục thể chất đối với mục tiêu giáo dục con người
8
toàn diện
1.2.1. Những khái niệm
8
1.4.3. Yếu tố cơ chế chính sách
28
1.4.4. Yếu tố chương trình
30
1.5 Đặc điểm tâm sinh lý và phát triển thể lực lứa tuổi 18-22
33
5
1.5.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 18-22
33
1.5.2. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 18-22
34
1.5.3. Đặc điểm phát triển tố chất thể lực lứa tuổi 18-22
36
1.6 Giới thiệu về Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
38
46
2.2.3. Phương pháp kiểm tra sư phạm
46
2.2.4. Phương Pháp kiểm tra Y học
46
2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
48
2.2.7. Phương pháp toán học thống kê
48
2.3 Tổ chức nghiên cứu
49
2.3.1. Địa điểm nghiên cứu
49
2.3.2. Kế hoạch nghiên cứu
49
3.2.1. Cơ sở lý luận đề xuất giải pháp
94
3.2.2. Xây dựng nội dung các giải pháp
99
3.2.3. Phỏng vấn các chuyên gia, nhà quản lý, giảng viên giáo dục
104
thể chất
3.3 Đánh giá hiệu quả giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo
122
dục thể chất của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
3.3.1. Xây dựng chương trình, kế hoạch thực nghiệm
122
3.3.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm
125
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
138
Cao đẳng Sư phạm Thể dục Trung ương
CĐ TDTT
Cao đẳng Thể dục Thể thao
CBQL
Cán bộ quản lý
CLB
Câu lạc bộ
ĐC
Đối chứng
ĐH, CĐ và THCN
Đại học, Cao đẳng và Trung học Chuyên nghiệp
ĐH BK
Đại học Bách Khoa
ĐH KHTN
Đại học Khoa học Tự nhiên
Thể dục thể thao
TBTCVN
Trung bình thể chất Việt Nam
Tp
Thành phố
TP. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TN
Thực nghiệm
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
8
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Tên
Số
trường thuộc ĐHQG-HCM.
Thực trạng về chương trình giảng dạy GDTC nội
khóa tại các trường thuộc ĐHQG-HCM
Thực trạng về chương trình giảng dạy ngoại khóa
GDTC tại các trường thuộc ĐHQG-HCM
Bảng tổng hợp chế độ công tác đối với giảng viên
Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên
ĐHQG-HCM (n = 1232)
So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể
chất nam sinh viên ĐHQG-HCM với nam sinh viên
TP.HCM 19 tuổi và TBTCVN 19 tuổi
So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể
chất nữ sinh viên ĐHQG-HCM với nữ sinh viên
TP.HCM 19 tuổi và TBTCVN 19 tuổi
Đánh giá thể lực nam sinh viên năm thứ nhất ĐHQGHCM theo quyết định 53/2008/BGD&ĐT
Đánh giá thể lực nữ sinh viên năm thứ nhất ĐHQGHCM theo qui định 53/2008/BGD&ĐT
Chỉ số KMO and Bartlett's Test lần 1
Bảng ma trận xoay các nhân tố lần 1 (Rotated
Component Matrixa)
Chỉ số KMO and Bartlett's Test lần 2
Bảng ma trận xoay các nhân tố lần 2 (Rotated
Component Matrixa)
Chỉ số KMO and Bartlett's Test lần 3
Bảng ma trận xoay các nhân tố lần 3 (Rotated
Component Matrixa)
Phân tích độ tin cậy nội tại (Reliability Statistics)
Phân tích tổng quan các mục hỏi
Thống kê nhân khẩu học sinh viên tham gia khảo sát
Kết quả phỏng vấn sinh viên của các trường ĐHQGHCM đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất
Sự khác biệt về kết quả khảo sát sinh viên trong đánh
9
3.23
3.24
3.25
3.26
3.27
3.28
3.29
3.30
3.31
3.32
3.33
3.34
3.35
3.36
3.37
3.38
3.39
Kết quả khảo sát về những trở ngại, khó khăn của SV
khi học GDTC thực trạng công tác giáo dục thể chất
Mục đích của SV tham gia học GDTC
thể lực của NỮ sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm
đối chứng sau thực nghiệm
Kết quả đánh giá của sinh viên về chương trình GDTC
mới
Sự khác biệt về kết quả khảo sát sinh viên trong đánh
giá nội dung chương trình GDTC mới theo từng nội
dung thực nghiệm
So sánh kết quả khảo sát sinh viên trong đánh giá nội
dung chương trình GDTC mới theo giới tính
78
79
80
81
82
100
Sau
tr.104
Sau
tr.125
Sau
tr.125
Sau
tr.126
Sau
tr.126
Sau
tr.126
Sau
3.11
3.12
3.13
3.14
3.15
3.16
3.17
So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu hình thái nam
sinh viên ĐHQG TP. Hồ Chí Minh với TBTCVN 19
tuổi và sinh viên
So sánh giá trị trung bình chỉ tiêu công năng tim của
nam sinh viên ĐHQG TP. Hồ Chí Minh nam SV
TP.HCM và TBTCVN 19 tuổi
So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể lực
của nam SV ĐHQG-HCM với nam SV TP.HCM và
TBTCVN 19 tuổi
Sự chênh lệch các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nam
sinh viên ĐHQG-HCM nam SV TP.HCM và
TBTCVN 19 tuổi
So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu hình thái nữ
sinh viên ĐHQG-HCM 19 tuổi với TBTCVN nữ 19
tuổi và sinh viên
So sánh giá trị trung bình chỉ tiêu công năng tim của
nữ sinh viên ĐHQG-HCM nữ SV TP.HCM và
TBTCVN 19 tuổi
So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể lực
của nữ sinh viên ĐHQG-HCM nữ SV TP.HCM và
TBTCVN 19 tuổi
Sự chênh lệch các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nữ
63
64
64
66
67
75
79
80
81
101
110
111
11
3.18
3.19
3.20
3.21
3.22
3.23
3.24
3.25
3.26
3.27
3.28
So sánh nhịp tăng trưởng trung bình của các test đánh
giá thể lực cho nữ sinh viên nhóm đối chứng và 3
nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm
Kết quả khảo sát sinh viên về các nội dung của
chương trình GDTC mới sau thực nghiệm
111
112
113
114
127
128
129
130
131
132
133
134
135
12
PHẦN MỞ ĐẦU
Năm 1992, Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: “Cùng với khoa học và công
nghệ, giáo dục và đào tạo phải được coi là quốc sách hàng đầu” [30, tr.23].
Trong báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, ngày 10 tháng 4
năm 2006 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 05 năm (2006 –
2010) nêu rõ: “Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương
15
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục thể
chất và thể thao trường học.
Công tác Thể dục thể thao nói chung, GDTC và Thể thao trường học nói riêng
được Đảng và nhà nước ta quan tâm chỉ đạo bằng việc hoạch định đường lối, quan
điểm Thể dục thể thao và được thể hiện xuyên suốt trong các chủ trương, đường lối
của Đảng.
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa từ năm 1960 đã khẳng định: "Nhà
nước chú trọng đặc biệt giáo dục thanh niên về đạo đức, trí tuệ và thể dục". Hiến pháp
năm 1980 nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 41 nêu rõ: "Nền Thể dục
thể thao Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và nhân dân, được phát triển mạnh mẽ,
cân đối, nhằm tăng cường sức khỏe và bồi dưỡng thể lực của nhân dân để xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc". Đến Hiến pháp năm 1992 thì làm rõ hơn vị trí, trách
nhiệm của công tác giáo dục thể chất. Điều 41 Hiến pháp (1992) quy định: "Nhà nước
quản lý thống nhất công tác Thể dục thể thao, quy định các chế độ giáo dục thể chất bắt
buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tập luyện Thể
dục thể thao tự nguyện của nhân dân..." [21, tr.21].
Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công. Tháng 01/1946 Bác Hồ ra Sắc
lệnh số 14 thành lập Nha Thể dục Trung ương để gây dựng phong trào tập luyện thể
dục, tăng bổ sức khỏe đại chúng, cải tạo giống nòi [72]. Từ năm 1956, khi miền Bắc
bắt đầu quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm phát triển phong trào Thể dục thể
thao, đưa các hoạt động Thể dục thể thao và công tác giáo dục thể chất ở các địa
phương đi vào nề nếp, Thủ tướng chính phủ đã ra Chỉ thị lập cơ quan Thể dục thể
thao ở các thành phố và các tỉnh (21/12/1956). Tháng 3/1957, Thủ tường chính phủ
ban hành Nghị định thành lập Ban Thể dục thể thao trung ương trực thuộc Thủ tướng
Chính phủ. Đến tháng 7/1961, Ban TDTT được nâng lên thành Ủy ban TDTT trực
thuộc Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo công tác Thể dục thể thao theo
quyết đã chỉ rõ: "Giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong học sinh, sinh viên
chưa thường xuyên và kém hiệu quả" [52]. Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 "Phấn
đấu 90% học sinh sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể", Nghị quyết đã đề ra các
giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong
trường học.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển Thể dục thể thao nước nhà, ngày
07/3/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 133/TTg về việc xây dựng quy
hoạch phát triển ngành Thể dục thể thao. Chỉ thị đã giao cho ngành Giáo dục và đào
tạo: "Cần đặc biệt coi trọng việc giáo dục thể chất trong nhà trường, cải tiến nội dung
giảng dạy Thể dục thể thao nội khóa, ngoại khóa, quy định rèn luyện thân thể cho
học sinh ở các cấp học, có quy chế bắt buộc các trường học phải có sân bãi, phòng
18
tập Thể dục thể thao, có định biên hợp lý và có kế hoạch đào tạo đội ngũ giáo viên
Thể dục thể thao, đáp ứng nhu cầu của các cấp học" [59].
Quyết định số 2160/QĐ- TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt “Quy hoạch phát triển Thể dục thể thao Việt Nam đến năm 2020, định hướng
đến năm 2030”. Quyết định đã có những chỉ tiêu về đội ngũ, đất đai cho công tác
GDTC trong trường học đến năm 2015, quy hoạch đến 2020 và định hướng đến năm
2030 [62].
Sau khi pháp lệnh được ban hành tháng 11/2006 Quốc hội đã thông qua Luật
thể dục thể thao, ghi dấu ấn mới cho sự phát triển Thể dục thể thao của nước nhà.
Luật Thể dục thể thao đã dành riêng một mục (mục 2) gồm 6 điều để quy định về
công tác giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường, đây là cơ sở pháp lý để Nhà
nước, Chính phủ và các bộ ngành tăng cường trách nhiệm đối với công tác Thể dục
thể thao nói chung, hoạt động Giáo dục thể chất và thể thao trong trường học nói
riêng [22]. Nhằm đưa công tác Giáo dục thể chất trong nhà trường trở thành một bộ
phận quan trọng của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, cũng như xác định đúng đắn về
11/7/2003 về việc Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường, lớp năng
khiếu TDTT trong giảo dục phổ thông. Qua đó giúp các trường lớp năng khiếu TDTT
trong trường phổ thông có điều kiện phát triển [8].
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo:
“Từng bước tăng cường đội ngũ giảng viên, giáo viên thể dục thể thao trong trường học,
... đáp ứng yêu cầu và nâng cao hiệu quả việc dạy và học môn thể dục, thúc đẩy ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực thể thao và giáo dục thể chất” [10, tr.32].
1.2. Vai trò giáo dục thể chất đối với mục tiêu giáo dục con người toàn diện
1.2.1. Những khái niệm
Thể chất
Theo Nôvicốp A.Đ, Matveep L.P: “Thể chất là thuật ngữ chỉ chất lượng của
cơ thể con người. Đó là những đặc trưng về hình thái và chức năng của cơ thể được
thay đổi và phát triển theo từng giai đoạn và các thời kỳ kế tiếp nhau theo qui luật
sinh học. Thể chất được hình thành và phát triển đo bẩm sinh di truyền và những
điều kiện sống tác động” [54, tr 10], [55, tr. 28].
Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn: “Thể chất chỉ chất lượng thân thể con
người. Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể
được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả
giáo dục, rèn luyện)” [64, tr.18]. Các tác giả cho rằng: thể chất bao gồm hình thái
(thể hình), chức năng và năng lực vận động.
20
Theo Lê Văn Lẫm, Phạm Xuân Thành, Thể chất là chỉ chất lượng của cơ thể.
Đó là những đặc trưng tương đối ổn định, có tính tổng hợp bao gồm các yếu tố về
hình thái cơ thể, chức năng tâm – sinh lí và tố chất thể lực được biểu hiện trên cơ sở
di truyền và hậu dưỡng [49, tr.295].
Phát triển thể chất
Theo Nôvicốp A.Đ, Matveep L.P: “Phát triển thể chất của con người là quá
có định hướng rõ của thể dục thể thao trong xã hội, một quá trình có tổ chức truyền
thụ và tiếp thu những giá trị của thể dục thể thao trong hệ thống giáo dục – giáo
dưỡng chung (chủ yếu trong nhà trường) [18, tr.28].
Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn: “Giáo dục thể chất là một loại hình
giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có
chủ định các tố chất vận động của con người” [64, tr. 22]. Từ quan niệm trên ta có
thể coi phát triển thể chất là một phần hệ quả của giáo dục thể chất. Quá trình phát
triển thể chất có thể chỉ là bẩm sinh tự nhiên (sự phát triển thể chất tự nhiên của trẻ
khi đang lớn) hoặc còn có thêm tác động có chủ đích, hợp lý của GDTC mang lại.
Giáo dục thể chất là quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục, giáo
dưỡng mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình
sư phạm, vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động tương ứng với các
nguyên tắc sư phạm nhằm hoàn thiện thể chất, nhân cách, năng lực vận động và nâng
cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người.
Giáo dưỡng thể chất
Theo P.Ph.Lexgaphơtơ (1837 – 1909), nhà bác học Nga nổi tiếng, nhà sư
phạm, nhà hoạt động xã hội, người sáng lập học thuyết giáo dưỡng thể chất, bản chất
của giáo dưỡng thể chất là làm sao để học, tách riêng các cử động ra và so sánh
chúng với nhau, điều khiển có ý thức các cử động đó và thích nghi với các trở ngại,
đồng thời khắc phục các trở ngại đó sao cho khéo léo và kiên trì nhất [56, tr 45].
Hoàn thiện thể chất
Theo Aulic: “Hoàn thiện thể chất là tổng hợp các ý niệm về phát triển thể chất
cân đối ở mức độ hợp lý và về trình độ huấn luyện thể lực toàn diện của con người”
[1, tr. 44].
Sức khỏe
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), sức khỏe được hiểu là trạng thái hài hòa về
thể chất, tinh thần xã hội, mà không chỉ có nghĩa là không có bệnh hay thương tật,
cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ
được lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả [24].
là một trong những mặt cơ bản của giáo dục. Sự kết hợp trí tuệ, thể dục với lao động sản
xuất “không chỉ là một phương tiện để nâng cao sản xuất xã hội mà còn là phương thức
duy nhất để tạo ra những con người phát triển toàn diện” [51, tr.44].
23
Lý tưởng về phát triển con người toàn diện được Các – Mác và Ăng – Ghen xác
định rõ nội dung cụ thể và gắn liền nó với thực tiển đấu tranh cách mạng, nhằm xây
dựng một xã hội mới theo nguyên lý chủ nghĩa cộng sản. Trên cơ sở nghiên cứu một
cách sâu sắc các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, Các – Mác và Ăng –
Ghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo dục vào điều kiện sống vật chất, khám phá
ra bản chất xã hội và giai cấp của giáo dục, đồng thời còn chỉ rõ rằng, trong xã hội
Cộng sản chủ nghĩa tương lai, con người phát triển toàn diện là một tất yếu khách
quan, bởi vì đó là nhu cầu của xã hội. Các – Mác nhấn mạnh rằng giáo dục trong
tương lai sẽ “Kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục. Đó không những là biện
pháp để tăng thêm sức sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo
con người phát triển toàn diện” [51, tr.53].
Lê Nin còn khẳng định tính biện chứng của sự phát triển hài hoà giữa thể chất
và tinh thần rằng: “Tinh thần khoẻ mạnh phụ thuộc vào thân thể khoẻ mạnh”.
Các mối quan hệ biện chứng giữa các mặt giáo dục, cho chúng ta thấy được tầm
quan trọng của giáo duc thể chất và các hoạt động thể thao. Các- Mác nhấn mạnh:
“Trong nền giáo dục của xã hội tương lai, lao động và khoa học sẽ chiếm một vị trí
ngang nhau, bởi vì đó là phương pháp duy nhất để phát triển con người toàn diện và
cũng là phương pháp tin cậy nhất để tăng cường sức sản xuất cho xã hội” [51, tr.34].
Ngày 27/03/1946, Bác Hồ lại gởi thư kêu gọi nhân dân tập luyện Thể dục để
giữ gìn sức khỏe. Người chỉ cho nhân dân thấy rằng: “Giữ gìn dân, xây dựng nước
nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công” và người đã
chỉ rõ, muốn có sức khỏe thì “nên tập luyện thể dục” và coi đó là “bổn phận của mỗi
người dân yêu nước” [25, tr.13].
tư tưởng chỉ đạo cho GDTC trong giáo dục toàn diện, cũng như mối quan hệ biện
chứng giữa thể dục, đức dục và trí dục [81].
Phát triển TDTT và nâng cao thể lực cho sinh viên chính là mục tiêu quan
trọng, nhằm tạo ra con người đầy đủ trí và lực, đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi
ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Bằng những
hoạt động phong phú của mình, Giáo dục thể chất góp phần quan trọng trong việc
rèn luyện, hình thành và phát triển cho sinh viên những phẩm chất ý chí, lòng dũng
cảm, tính quyết đoán kiên trì, ý thức tổ chức kỷ luật, cũng như giáo dục cho sinh viên
lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, tập thể, tín trung thực thẳng thắn và cao
thượng, tạo nên nếp sống lành mạnh vui tươi, đẩy lùi xoá bỏ những hành vi xấu và
các tệ nạn xã hội. Như vậy, mục tiêu của hệ thống Giáo dục thể chất trong các trường
Đại học và Cao đẳng là đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá
xã hội có trình độ cao, hoàn thiện về thể chất, phát triển về mọi mặt.
25
Để thực hiện tốt các mục tiêu đó, công tác giáo dục thể chất trong các trường
đại học, cao đẳng phải giải quyết đồng thời các nhiệm vụ sau:
Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa và rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức
kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực, lành mạnh, giáo dục tinh thần tự giác học
tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ tổ quốc.
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và
phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản của một số môn
thể thao thích hợp. Trên cơ sở đó bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương pháp để
rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động
TDTT ở cơ sở.
Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên, phát triển cơ thể một
cách hài hoà, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói xấu trong cuộc
sống, nhằm tận dụng thời gian và công việc có ích, đạt kết quả cao trong quá trình