ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------
HUANG HE MENG
(HOÀNG HỢP MẠNH)
SO SÁNH CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ VÙNG BIÊN GIỚI TỈNH LÀO CAI VIỆT NAM
VÀ CHÂU HỒNG HÀ TỈNH VÂN NAM TRUNG QUỐC
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành: Quốc tế học
Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60310206
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
HUANG HE MENG
(HOÀNG HỢP MẠNH)
SO SÁNH CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ VÙNG BIÊN GIỚI TỈNH LÀO CAI VIỆT NAM
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thang bảng lương cơ bản các cơ quan Nhà nước Việt nam .................... 30
Bảng 2.2: Khung học phí giáo dục mầm non năm học 2010 – 2011 ....................... 33
Bảng 2.3: Mục hỗ trợ và điều kiện ......................................................................... 34
Bảng 2.4: Các hình thức trợ cấp sinh viên hệ trung cấp, cao đẳng và đại học ......... 34
Bảng 2.5: Tình hình kinh phí đầu tư giáo dục tỉnh Lào Cai 6 năm gần đây ............ 39
Bảng 2.6: Số học sinh, giáo viên và trường học các cấp tỉnh Lào Cai 2011 ............ 62
Bảng 2.7: Bảng thống kê tình hình kinh phí giáo dục huyện Kim Bình 5 năm qua. 76
Bảng 3.1: Tỉ lệ ngân sách giáo dục Việt Nam trong GDP 2008-2012 ..................... 86
Bảng 3.2: Bảng chi phí giáo dục của Việt Nam 5 năm gần đây (100 triệu đồng) .... 87
Bảng 3.3: Tỉ lệ vốn ODA đầu tư phát triển cho các lĩnh vực tại Việt Nam.............. 91
Bảng 3.4: Tình hình chi kinh phí giáo dục cả nước năm 2011-2012 ....................... 77
Bảng 3.5: Tình hình giáo dục giai đoạn trước tuổi đến trường ba huyện biên giới Châu
Hồng Hà, Trung Quốc năm 2012 ........................................................................... 81
ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CĐ-ĐH
Cao đẳng – Đại học
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
UBND
Ủy ban nhân dân
iii
MỤC LỤC
MỤC LỤC ………………………………………………………………………………….1
PHẦN MỞ ĐẦU ...............................................................................................................3
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Lí do chọn đề bài ........................................................................................................4
Sơ lược về lịch sử nghiên cứu .....................................................................................5
Mục đích của nghiên cứu ............................................................................................8
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................................9
Việt Nam .........................................................................................................................60
2.3.1. Tình hình giáo dục tỉnh Lào Cai ....................................................................................... 60
2.3.2. Những thành tựu đạt được ................................................................................................. 62
2.3.3. Những hạn chế tồn tại ........................................................................................................ 65
2.3.4. Nguyên nhân……………………………………………………………………………………71
2.4. Tình hình thực hiện chính sách giáo dục vùng dân tộc thiểu số khu vực biên giới Châu
Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. .............................................................................71
2.4.1. Tình hình giáo dục Châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam ........................................................ 71
2.4.2 Những thành tựu chủ yếu.................................................................................................... 74
2.4.3. Những hạn chế tồn tại ........................................................................................................ 77
2.4.4. Nguyên nhân……………………………………………………………………………………85
CHƯƠNG III: SO SÁNH VÀ RÚT KINH NGHIỆM TỪ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC DÂN
TỘC THIỂU SỐ VÙNG BIÊN GIỚI HAI NƯỚC VIỆT – TRUNG .................................85
3.1. Những nét tương đồng trong chính sách và thực hiện chính sách giáo dục dân tộc thiểu số
khu vực biên giới 2 nước Việt - Trung ..............................................................................85
3.1.1. Chính sách đầu tư cho giáo dục ........................................................................................ 85
3.1.2. Chính sách hỗ trợ giáo viên ............................................................................................... 88
3.1.3. Chính sách hỗ trợ học sinh ................................................................................................ 89
3.2. Những nét khác biệt trong chính sách và thực hiện chính sách giáo dục dân tộc thiểu số
vùng biên giới Việt – Trung..............................................................................................90
3.2.1. Chính sách đầu tư cho giáo dục ........................................................................................ 90
3.2.2. Chính sách hỗ trợ giáo viên ............................................................................................... 92
3.2.3. Chính sách hỗ trợ học sinh ................................................................................................ 94
3.3. Một số kinh nghiệm rút ra được từ chính sách giáo dục dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt
- Trung .............................................................................................................................98
3.3.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc ........................................................................................... 99
3.3.2. Kinh nghiệm của Việt Nam ............................................................................................. 102
huyện nghèo cấp quốc gia3, đề án phát triển giáo dục cho các dân tộc thiểu số tại vùng
biên giới. Trước mắt, các chính sách này đã mang lại được nhiều kết quả rõ rệt.
Trung Quốc đã liên tiếp đưa ra hàng loạt các chương trình quan trọng như: biên
giới phát triển – nhân dân giàu mạnh, xây dựng và phát triển vùng Tây Bộ, các dự án an
cư, “hai miễn một bổ” 4, “ba miễn phí”5, “bữa ăn dinh dưỡng”, giáo dục tại nơi biên giới.
Đồng thời tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội khu vực biên giới, các chính sách và
1
Quyết định số 135/1998/QD-TTG của Thủ tướng Chính Phủ, gọi tắt là “Kế hoạch 135”
Quyết định số 134/1998/QD-TTG của Thủ tướng Chính Phủ, gọi tắt là “Kế hoạch 134”
3
Quyết định số 30A năm 2008 của Chính Phủ Việt Nam
4
Năm 2005, chính phủ Trung Quốc đưa ra chính sách “hai miễn một bổ” , đồng thời thi hành chính sách ở 592 huyện nghèo
trên toàn quốc. Trong đó “hai miễn” là miễn học phí, miễn phí sách giáo khoa, “một bổ” là bổ cấp phí sinh hoạt cho những học
sinh ở kí túc xá.
5
Ba miễn phí: Miễn phí sách, miễn phí đồ dùng học tập, miễn phụ phí trường lớp
2
3
hành động cụ thể này đã cải thiện tình hình vùng biên giới, giúp nền giáo dục nơi đây
giành được nhiều thành tựu đột phá, giúp học sinh của các dân tộc thiểu số từ việc “có
nơi để học” đến có thể “học tập tốt”. Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan như
lịch sử, vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên nên trình độ phát triển nơi đây vẫn còn yếu kém,
trình độ giáo dục lạc hậu và có sự chênh lệch khá lớn so với miền xuôi.
Qua kết quả của việc thực hiện các chính sách hỗ trợ 134, 135… có thể thấy, Việt
Nam tuy là quốc gia đang phát triển, GDP thấp, nhưng những chính sách được đưa ra và
biên giới – phát triển giáo dục cho các dân tộc thiểu số vùng biên giới có thể tăng thêm
sự ủng hộ và tín nhiệm của các dân tộc thiểu số nơi đây với chính quyền và nhà nước,
củng cố và đẩy mạnh hơn nữa sự ổn định và phát triển xã hội vùng biên, tạo điều kiện
cho kinh tế, xã hội phát triển, đảm bảo cho việc cải cách đổi mới được tiến hành thuận
lợi.
Ngược lại, khi kinh tế xã hội được phát triển, dân trí tăng lên, sự nghiệp giáo dục sẽ
được quan tâm đầu tư hơn nữa, từ đó toàn xã hội sẽ có trình độ cao, cũng tạo ra một xã
hội hài hòa.
Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc luôn coi sự nghiệp phát triển giáo dục là con
đường quan trọng để giải quyết các vấn đề trong nước, thực hiện phát triển đồng đều
giữa các dân tộc, củng cố sự ổn định và phát triển khu vực biên giới; đồng thời áp dụng
hàng loạt các chính sách để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển. Tuy nhiên do những
khác biệt về chính trị, văn hóa, kinh tế và xã hội nên các chính sách, quá trình thực hiện
các chính sách và phương pháp cơ bản về giáo dục của hai nước vẫn có sự khác biệt.
Luận văn này tiến hành so sánh một cách hệ thống các chính sách giáo dục vùng biên
giới của Việt Nam và Trung Quốc, với mục đích nhằm nâng cao sự bình đẳng giáo dục
và đa dạng hóa các nghiên cứu của hai nước, đồng thời tổng kết kinh nghiệm, đưa ra các
chính sách liên quan nhằm thúc đẩy sự nghiệp giáo dục cho các dân tộc thiểu số vùng
biên giới phát triển.
2.
Sơ lược về lịch sử nghiên cứu
Để xã hội phát triển, kinh tế phồn thịnh thì giáo dục phải đi đầu. Sự phát triển kinh tế,
xã hội tại các vùng dân tộc thiểu số cũng như đa số đều không thể tách rời sự phát triển
của giáo dục. Từ những năm 90 của thế kỉ 20 trở lại đây, cùng với việc chính phủ Trung
Quốc chú trọng sự phát triển kinh tế, xã hội vùng biên thì sự nghiệp giáo dục tại vùng
biên giới cũng phát triển một cách nhanh chóng. Trung Quốc đang từng bước mở rộng
và tiến hành nghiên cứu sâu hơn về tình hình giáo dục vùng biên, đã lần lượt cho xuất
hưởng của nó với Trung Quốc” của Vương Khổng Kính (Nghiên cứu Đông Nam Á;
tháng 4 năm 2007); “Nghiên cứu về các vấn đề phát triển của chính sách giáo dục đối
với các dân tộc thiểu số Trung Quốc mới” của Hứa Khả Phong, “Tình hình thực hiện các
chính sách dân tộc từ sau cải cách đổi mới” của Lí Bích Hoa (Bước chân Đông Nam Á;
tháng 11 năm 2009), “Tình hình phát triển giáo dục của các trường tiểu học, trung học ở
dân tộc Dao của Việt Nam và những gợi ý” của Hồ Mục Quân (“Nghiên cứu giáo dục
6
nước ngoài”, tháng 3 năm 2011).
Ở Việt Nam, Nhà nước luôn đặt sự nghiệp giáo dục và các vấn đề phát triển của các
dân tộc thiểu số lên hàng đầu, đồng thời đây cũng là vấn đề nóng thu hút các chuyên gia
và học giả. Từ năm 1991 trở lại đây, hai nước bình thường hóa mối quan hệ và giành
được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp giáo dục, thúc đẩy kinh tế hai nước phát
triển nhanh chóng, đồng thời, Việt Nam và Trung Quốc đều hết sức coi trọng vấn đề dân
tộc. Vì thế, đông đảo các chuyên gia và học giả Việt nam đã tiến hành so sánh một cách
hệ thống nền giáo dục Việt Nam và Trung Quốc. Ông Nguyễn Văn Ngữ - Vụ trưởng Vụ
Kế hoạch – Tài chính bộ GD – ĐT trong bài diễn văn “Sự quan tâm của chính Phủ và
quốc hội Việt Nam đối với sự nghiệp Giáo Dục và Đào Tạo” đã trình bày một cách khái
quát những chính sách giáo dục của Việt Nam từ việc tiến hành cải cách giáo dục đến
việc thực hiện chế độ miễn giảm học phí, chế độ học bổng, chế độ đại ngộ giáo viên…,
dùng để nâng cao mức đãi ngộ cho giáo viên, giải quyết cho con em của các gia đình khó
khăn, gia đình dân tộc thiểu số và gia đình thuộc vùng kinh tế khó khăn có công ăn việc
làm, được đi học.
Ngoài ra, Ủy ban giáo dục khoa học Trung Ương Việt Nam cũng cho xuất bản các
cuốn sách mang tính chất nghiên cứu một cách sâu rộng, có hệ thống về tình hình giáo
dục Việt Nam và các chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số như: “Giáo dục Việt
nam thời kì đổi mới: chủ trương, chính sách và đánh giá” (Nhà xuất bản chính trị quốc
gia Việt Nam năm 2002), “Kỉ yếu đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ
lại đều cần phải được đưa ra nghiên cứu, thảo luận sâu hơn nữa.
3. Mục đích của nghiên cứu
Các chính sách giáo dục cho dân tộc thiểu số tại vùng biên giới Việt Nam và Trung
Quốc có nhiều điểm giống và khác nhau và có thể trở thành đề tài cho các nghiên cứu đối
chiếu. Tuy nhiên, hiện nay các nghiên cứu đối chiếu này vẫn chưa toàn diện. Chủ yếu
bàn về chính sách giáo dục cơ sở, chính sách xây dựng tài nguyên sư phạm, chính sách
bồi dưỡng nhân tài của hai nước trên một mức dộ nhất định, đồng thời cũng thảo luận
đến những ảnh hưởng mà các chính sách này mang lại. Tuy các nghiên cứu vẫn còn hạn
chế nhưng không gian nghiên cứu lại vô cùng rộng lớn. Bên cạnh đó, quá trình đối chiếu
cũng phát hiện ra rằng, hiện nay, phương hướng chỉ đạo trong các chính sách giáo dục tại
vùng biên của Trung Quốc tồn tại rất nhiều vấn đề, nhiều chính sách đãi ngộ lạc hậu hơn
so với Việt Nam.
Do đó, tôi quyết định lấy “Nghiên cứu so sánh về các chính sách giáo dục đối với cá
8
dân tộc thiểu số vùng biên giới hai nước Việt Trung” làm tiêu đề cho luận văn thạc sĩ.
Mong rằng cùng những nghiên cứu trước đây, luận văn này có thể đóng góp thêm vào
công trình nghiên cứu về chính sách giáo dục vùng biên, mở rộng hơn nữa các kiến thức
về hai nước Việt Nam, Trung Quốc, đồng thời chung tay xây dựng mối quan hệ giao lưu
văn hóa, hợp tác giáo dục quốc tế và phát triển sự nghiệp giáo dục cho các dân tộc thiểu
số vùng biên giới hai nước Việt – Trung, học hỏi những thành công và kinh nghiệm để
thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển hơn nữa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chính sách giáo dục và đào tạo là chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước
nhằm bồi dưỡng, phát triển các phẩm chất, năng lực cho mỗi người dân (cả về tư tưởng,
đạo đức, khoa học, sức khoẻ và nghề nghiệp). Chính sách giáo dục bao gồm các chính
sách về cơ sở hạ tầng, chính sách khuyến học, chính sách đầu tư….tuy nhiên luận văn
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Nhiệm vụ chủ yếu của luận văn nghiên cứu này là: phân tích chế độ giáo dục và các
chính sách giáo dục hai nước Việt – Trung, chính sách giáo dục các dân tộc thiểu số khu
vực biên giới hai nước Việt – Trung bao gồm tình hình các dân tộc thiểu số và tình hình
giáo dục cho các dân tộc thiểu số. Cuối cùng, tiến hành phân tích đối chiếu dựa trên
nhiều yếu tố như thành phần của chính sách giáo dục dân tộc, hạn chế của các chính sách,
điều kiện giáo dục…, đồng thời thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và sự phồn thịnh của các
dân tộc thiểu số phát triển.
Cống hiến của luận văn: Việt Nam và Trung Quốc đều là những nước đa dân tộc, xử
lí tốt vấn đề giáo dục dân tộc tại vùng biên giới có lợi cho tinh thần đoàn kết toàn, sự ổn
định biên giới, thúc đẩy kinh tế phát triển và nuôi dưỡng, đào tạo nhân tài.
7.
Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
Thông qua những nghiên cứu về chính sách giáo dục dân tộc thiểu số vùng biên giới
Việt Trung, ta thấy được những nét khác biệt và tương đồng trong nền giáo dục hai nước,
đồng thời nâng cao nhận thức về giáo dục dân tộc thiểu số vùng biên, từ đó, đưa ra
những đối sách phù hợp với sự phát triển của giáo dục nơi đây, nâng cao tố chất của các
dân tộc thiểu số vùng biên giới một cách toàn diện, đưa sự nghiệp giáo dục vùng biên
của hai nước phát triển nhanh chóng, tích cực và lành mạnh. Từ đó, thúc đầu kinh tế biên
giới phát triển, mang lại sự ấm no, hạnh phúc cho người dân nơi đây.
8. Bố cục luận văn
Luận văn gồm 3 chương.
10
điều tra dân số quốc gia.
3, “Dân tộc thiểu số rất ít người” là dân tộc có số dân dưới 10.000 người.
4, “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn
định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
5, “Dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt” là những dân tộc có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn theo ba tiêu chí sau:
a) Tỷ lệ hộ nghèo trong thôn, bản chiếm trên 50% so với tỷ lệ hộ nghèo của cả nước.
b) Các chỉ số phát triển về giáo dục đào tạo, sức khoẻ cộng đồng và chất lượng dân số đạt
dưới 30% so với mức trung bình của cả nước.
c) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu chất lượng thấp, mới đáp ứng mức tối thiểu phục vụ
đời sống dân cư.
1.1.1.2. Khái niệm dân tộc thiểu số ở Trung Quốc
Dân tộc thiểu số là chỉ dân tộc nằm ngoài các dân tộc có dân số đông nhất trong một
quốc gia đa dân tộc. Trung Quốc là một quốc gia đa dân tộc, sau khi thành lập nước
7
Điều 4 nghị quyết số 05/ 2011/ NĐ-CP ban hành ngày 14 tháng 1 năm 2011 về công tác dân tộc thiểu số của Chính phủ Việt
Nam
12
Trung Quốc mới năm 1949, thông qua xác định và kiểm duyệt của chính phủ Trung
Ương, Trung Quốc có tổng cộng 56 dân tộc, ngoài dân tộc Hán ra, 55 dân tộc còn lại đều
được coi là “ Dân tộc thiểu số”.
Dân tộc thiểu số dưới sự bảo lãnh của hiến pháp và pháp luật quốc gia, được trao
quyền lợi và bảo hộ đặc biệt về các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, chính trị. Như khu dân tộc
tự trị, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số, tự do sử dụng và phát triển văn tự ngôn ngữ dân
tộc, giúp đỡ các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế văn hóa, tôn trọng phong tục tập quán
và tự do tín ngưỡng tôn giáo của các vùng dân tộc thiểu số, v v... Tính đến cuối năm 2008,
1.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Khu vực biên giới quốc gia là bộ phận của lãnh thổ quốc gia tiếp giáp biên giới quốc
gia. Điều 8 Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quy định:
- Phạm vi khu vực biên giới trên đất liền tính từ biên giới quốc gia trên đất liền vào hết
địa giới hành chính của xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp
với biên giới quốc gia trên đất liền…
- Danh sách các xã, phường, thị trấn ở khu vực biên giới trên đất liền, khu vực biên giới
trên biển được quy định tại các nghị định của Chính phủ ban hành quy chế khu vực biên
giới; trường hợp có sự thay đổi về địa giới hành chính của các xã, phường, thị trấn ở khu
vực biên giới thì sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Trung Quốc Việt Nam hai nước núi liên núi, sông liền sông, phong tục tập quán gần
gũi có nhiều nét tương đồng, biên giới lục địa dài hơn 1300km. Khu vực tự trị dân tộc
Choang Quảng Tây và Vân Nam giáp với 7 tỉnh của Việt Nam : Lào Cai, Lai Châu, Hà
Giang, Điện Biên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Tỉnh Vân Nam giáp với Lào
Cai, Lai Châu, Hà Giang và Điện Biên.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn này sẽ giới hạn trong khu vực biên giới thuộc tỉnh
Lào Cai, Việt Nam và khu vực biên giới thuộc châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung
Quốc.
1.2. Mối quan hệ giữa giáo dục và quan hệ quốc tế
1.2.1. Khái niệm quan hệ quốc tế
Quan hệ quốc tế9 là tổng thể những mối quan hệ về kinh tế, chính trị, tư tưởng, luật
pháp, ngoại giao, quân sự giữa những quốc gia và hệ thống quốc gia với nhau, giữa các
giai cấp chính, các lực lượng tổ chức xã hội, kinh tế và chính trị chủ yếu hoạt động trên
9
Quan hệ quốc tế (International relations) là một ngành của chính trị học, nghiên cứu về ngoại giao và các vấn đề toàn cầu giữa
các nước thông qua những hệ thống quốc tế, bao gồm các quốc gia, tổ chức đa chính phủ (IGO), tổ chức phi chính phủ (NGO),
cho sự phát triển giáo dục các nước.
Bất kì một nền giáo dục nào nếu muốn tồn tại trong môi trường toàn cầu hóa thì nhất
thiết phải gia nhập vào sự phát triển giáo dục quốc tế thế giới. Chiến lược phát triển toàn
10
Quan hệ quốc tế sau CTTG II. Nxb CTQG, 1962, tr.26
15
bộ thực hành vận động nền giáo dục này trong hệ thống thế giới đã trở thành một phạm
vi, mức độ ảnh hưởng tới nền giáo dục một nước ra ngoài thế giới. Cơ cấu của hệ thống
thế giới cũng sẽ phát huy tác dụng, sự phát triển hợp tác và giao lưu giữa những nền giáo
dục của các quốc gia với nhau cũng sẽ làm xuất hiện khoảng cách chênh lệch lớn và sự
không đồng đều trong phát triển, từ đó hình thành nên những mô hình phát triển khác
nhau trong công cuộc quốc tế hóa giáo dục.
1.2.4. Tính quốc tế của nền giáo dục dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới Việt
- Trung
1.2.4.1. Các khu vực liền kề với các nước làng giềng
Ở luận văn này, giáo dục dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới hai nước Việt - Trung
là chỉ nền giáo dục ở các khu vực gần địa phận Châu Hồng Hà, Vân Nam, Trung Quốc
và khu vực tỉnh Lào Cai, Việt Nam. Các địa phận liền kề với các nước láng giềng này
chính là điều kiện địa lí chủ yếu để tạo nên tính quốc tế cho nên giáo dục dân tộc thiểu số
vùng biên giới.
Châu Hồng Hà, Vân Nam, Trung Quốc tiếp giáp với tỉnh Lào Cai, Việt Nam, huyện
Mường Khương, huyện Bát Xát, Châu Hồng Hà trở thành nơi tập trung của các dân tộc
thiểu số, huyện Mường khương, huyện Bát Xát là 2 trong số 6211 huyện khó khăn của
Việt Nam thuộc vào đường biên giới của khu vực tập trung dân tộc thiểu số. Tỉnh Lào
Cai, Việt Nam và Châu Hồng Hà Trung Quốc sông núi liền kề, đất đai tiếp giáp, đường
xá tương thông, đã trở thành điều kiện địa lý vô cùng thuận lợi cho giao lưu kinh tế mậu
người Zhuang (Trung Quốc) hoặc người Thái (Việt Nam) với người Dai (Trung
Quốc)…
Mặc dù quan điểm về đường biên giới quốc gia có thể rất khác nhau nhưng chúng ta
vẫn có thể nói rằng, đường biên giới quốc gia, trước hết là một khái niệm chính trị, nhà
nước, thậm chí là chủ quyền của dân tộc, lại thường không trùng khít với biên giới văn
hóa và tộc người. Và các tộc người xuyên quốc gia bất cứ trong hoàn cảnh nào vẫn chia
sẻ gìn giữ nhiều đặc điểm tương đồng và không ít những khác biệt, tạo nên tính đa dạng
sinh động về văn hóa tộc người khu vực biên giới.
1.2.4.3.Giao thoa văn hóa giáo dục
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, “Giao thoa văn hóa” là khái niệm chỉ sự “móc
ngoặc”, “móc nối” giữa hai hay nhiều nền văn hóa, để chuyển biến nền văn hóa bản địa
do sự tương tác giữa hai yếu tố nội sinh và ngoại sinh. Giao lưu văn hoá là nhu cầu tất
yếu và tồn tại khách quan trong đời sống các tộc người, ở mọi khu vực và mọi quốc gia.
17
Khi nói đến giao lưu văn hoá các tộc người ở vùng biên giới không thể không nói đến sự
tác động từ vạch phân biên giới được xác định bởi ý chí và chủ quyền quốc gia nhưng
một mặt khác sự giao lưu văn hoá tộc người lại là sự giao lưu vượt qua biên giới hay
“ phi biên giới’’, xuyên biên giới.
Giáo dục chính là một phần của giao lưu văn hóa, đồng thời là phương tiện kết nối,
là con đường quan trọng để giao lưu văn hóa quốc tế. Giao lưu văn hóa quốc tế giờ đây
đã trở thành thước đo mức độ phát triển giáo dục của mỗi quốc gia. Bởi vậy giao lưu
giáo dục là một phần quan trọng không thể thiếu trong giao lưu văn hóa quốc tê. Tính
đến cuối tháng 8 năm 2013, đã có hơn 13500 lưu học sinh Việt Nam tại Trung Quốc, và
khoảng 3500 lưu học sinh Trung Quốc tại Việt Nam12.
Tại các thành phố biên giới, của khẩu, giao lưu văn hóa giáo dục Việt – Trung phát
triển mạnh mẽ, hai bên cùng xây dựng các giáo trình tiếng Hán và tiếng Việt, cùng tổ
chức các hoạt động giao lưu định kì, tổng kết các hoạt động dạy và học, tình hình quốc tế,
Giang, Việt Nam, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái và Sơn La, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu,
phía Bắc giáp với huyện tự trị dân tộc Dao tại Hà Khẩu tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, có
đường biên giới với tỉnh Vân Nam khoảng 203.5km. Diện tích tỉnh Lào Cai là
6383.89km2, tỉnh Lào Cai được chia thành thành phố Lào Cai và 8 huyện Bát Xát,
Mường Khương, Xi Ma Cai, Bắc Hà, Bảo Thắng, Bảo An, Sapa và Văn Bàn13. Toàn tỉnh
có 164 làng và thị trấn, trong đó có 138 làng và thị trấn thuộc vùng núi xa, làng thị trấn
biên giới. Tỉnh Lào Cai coi nông nghiệp, ngư nghiệp cùng các ngành kinh tế truyền
thống khác làm chủ đạo, đồng thời tích cực phát triển công nghiệp, du lịch, xuất nhập
khẩu sản xuất mậu dịch.
Dựa theo điều kiện kinh tế phân ra thành 3 khu vực, khu vực 1 thuộc khu vực đồng
bằng, giao thông thuận lợi, dịch vụ xã hội thuận tiện, có điều kiện tự chủ phát triển kinh
tế xã hội, liền kề với các thành phố, các làng và thị trấn đều là trung tâm của huyện; khu
vực 2 là các thị trấn, xã có khó khăn về phát triển kinh tế xã hội, điều kiện địa lý khá xa
xôi, tình trạng giao thông khá khó khăn, dịch vụ xã hội về cơ bản tạm ổn; khu vực 3 là
bao gồm các xã, thị trấn có nên kinh tế xã hội phát triển đặc biệt khó khăn, thuộc các khu
vực vùng sâu vùng xa, giao thông vô cùng khó khăn, dịch vụ xã hội thì có hạn. Tính đến
tháng 9 năm 2011, dân số tỉnh Lào Cai là 637.520 người, trong đó nam giới là 320.756
người, nữ giới là 316.764 người, số dân thành thị là 143.120 người, số dân nông thôn là
494.400 người14.
13
14
Báo điện tử tỉnh Lào Cai laocaigov.vn
Theo niên giám thống kê tỉnh Lào Cai 2012
19
1.3.1.2. Tình hình chung về dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai
Việt Nam có tổng cộng 54 dân tộc, trong đó có hơn một nửa là tập trung sống tại tỉnh
Công tác cán bộ dân tộc thiểu số ở Lào Cai
Niên giám thông kê tỉnh Lào Cai 2011
Theo baidu giới thiệu “Châu Hồng Hà”
Báo cáo công tác thường niên châu Hồng Hà năm 2012
20