Đề tài Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914 - Pdf 36

Đề tài: Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

LỜI CẢM ƠN
Với sự kính trọng và tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân
thành nhất đến TS Nguyễn Thị Huyền Sâm - người đã tận tình chỉ bảo, hướng
dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn này.
Cho em được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban chủ nhiệm cùng quý thầy
giáo, cô giáo khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã trực tiếp giảng
dạy, trang bị kiến thức, nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện để luận văn của em
đạt kết quả cao nhất.
Với sự nỗ lực hết mình em đã hoàn thành luận văn nhưng do những hạn
chế nhất định về sự hiểu biết của bản thân cũng như các điều kiện khách quan
nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự
chỉ bảo, góp ý chân thành của quý thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Học viên

Đào Thị Mỹ Lƣơng


Đề tài: Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu ..................................................... 7
4. Đóng góp của đề tài....................................................................................... 7
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 8

3.2. Đặc điểm .................................................................................................. 86
3.3. Tác động ................................................................................................... 92
3.3.1. Đối với nước Đức .................................................................................. 93
3.3.2. Đối với châu Âu..................................................................................... 98
KẾT LUẬN ................................................................................................. 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 110
PHỤ LỤC


Đề tài: Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX do sự thay đổi tương
quan lực lượng giữa các cường quốc tư bản, cũng như sự hoàn thành việc
phân chia thuộc địa trên thế giới làm cho mâu thuẫn giữa các nước đế quốc
ngày càng trở nên gay gắt. Quy luật phát triển không đồng đều giữa các nước
tư bản khi chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa đã ảnh hưởng mạnh mẽ
tới các mặt của đời sống xã hội. Châu Âu trong giai đoạn này chứng kiến
những sự thay đổi căn bản, to lớn về nhiều mặt giữa các nước tư bản lớn như
Anh, Pháp, Italia… đặc biệt là sự vươn lên mạnh mẽ của Đức đã tác động
không nhỏ đến quan hệ quốc tế nói chung, quan hệ giữa các nước ở lục địa
châu Âu nói riêng.
Ngày 18 tháng 01 năm 1871 Đế chế Đức tuyên bố thành lập ở cung
điện Véc – xai ( Pháp), vua Phổ là Wilhelm I được tôn làm Đức hoàng, trong
khi vẫn giữ ngôi vua Phổ như cũ. Đế quốc Đức là một nhà nước Liên bang
gồm 26 vương quốc và 3 thành phố tự do. Ngày 16 tháng 04 năm 1871, Hiến
pháp mới của đế quốc được công bố nhằm củng cố sự thống nhất của đế quốc,
bảo tồn chế độ quân chủ và tàn dư phong kiến ở nông thôn, duy trì vai trò bá
chủ của quý tộc Phổ Iuncơ trong toàn nước Đức.

Trong những chính sách của mình, Đức đều thể hiện khát vọng làm chủ lục địa
châu Âu, bá chủ thế giới. Điều này được nói đến trong các chính sách của Đức
đối với các cường quốc ở châu Âu, trong giai đoạn 1871 – 1914.
Trên thực tế khi tìm hiểu về chính sách của Đức đối với các cường quốc
châu Âu trong giai đoạn từ 1871 đến 1914 có rất ít tài liệu chuyên sâu nghiên
cứu có hệ thống về mục tiêu, nội dung, quá trình thực hiện. Vì vậy, việc đi sâu
tìm hiểu về chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến
1914 để có cái nhìn đầy đủ và hệ thống về mục tiêu, nội dung và quá trình thực
hiện là cần thiết.
Về mặt khoa học, khi nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm sáng rõ
mục tiêu, nội dung, quá trình thực hiện, kết quả, đặc điểm và tác động của
những chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914.
Mặt khác góp phần hiểu thêm tác động của những chính sách đó đối với quan

2


Đề tài: Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

hệ quốc tế, với cục diện ở châu Âu, lí giải vì sao Đức là nước châm ngòi nổ
cho cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.
Về mặt thực tiễn:
Thứ nhất, nghiên cứu vấn đề này có tầm quan trọng giúp cho việc giảng
dạy lịch sử cho học sinh ở trường phổ thông trong nhiều nội dung: Các nước
tư bản cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX (Anh, Pháp, Mĩ, Đức) để thấy rõ sự
vươn lên mạnh mẽ của giai cấp tư sản Đức nói riêng, nước Đức nói chung,
vượt qua Anh, Pháp để đứng đầu châu Âu, đứng thứ hai thế giới sau Mĩ;
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) để lí giải vì sao cuộc chiến này
diễn ra chủ yếu ở mặt trận châu Âu, trách nhiệm của nước Đức trong cuộc
chiến này…

của tác giả về chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, tác phẩm có sự đánh giá khá
đầy đủ và sắc sảo về những biến đổi của chủ nghĩa tư bản trong suốt thời
gian dài, từ khi hình thành, trải qua quá trình phát triển đến cả các cuộc
khủng hoảng lớn đã xảy ra.
A. Lêôniđốp, “Vinh và nhục của nền ngoại giao phƣơng Tây”, NXB
Sự thật, Hà Nội, 1961 trình bày vắn tắt các chính sách ngoại giao của các
nước đế quốc chủ yếu là Anh, Pháp, Mĩ, Đức và chỉ ra nguyên nhân sâu xa
đưa các chính sách đối ngoại của các nước phương Tây đến chỗ phá sản.
Đồng thời, tác giả cũng vẽ lên một bức tranh sinh động tố cáo những âm mưu
và hành động đen tối của những lực lượng phản động chi phối nó. Tác phẩm
giúp người đọc hiểu thêm về bản chất và những đặc điểm của bốn nền ngoại
giao lớn nhất trên thế giới là Anh, Đức, Pháp và Mĩ. Từ đó so sánh để thấy
được điểm mạnh yếu của các nước, đánh giá được ảnh hưởng và hệ quả của
những chính sách đó dưới thời cận đại và hiện đại.
Norman Davis, “Lịch sử châu Âu”, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội,
2012 nêu ra sự phát triển của châu Âu từ thời cổ đại đến thời hiện đại, những
mốc son quan trọng đánh dấu những bước ngoặt, sự thay đổi của các nước ở
châu Âu từ thời cổ đại đến thời hiện đại. Tác phẩm đi sâu nghiên cứu nhiều
lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng của châu Âu trong suốt thời
gian dài. Từ đó giúp người đọc có cái nhìn khái quát, đầy đủ và hệ thống về
những biến đổi to lớn trong lịch sử châu Âu từ khi hình thành đến thế kỉ XX.

4


Đề tài: Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

Trần Triều, “Mƣời nhà ngoại giao lớn thế giới”, NXB Văn hóa thông
tin, Hà Nội, 2007 giúp độc giả có cái nhìn khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của
các nhà ngoại giao lớn trên thế giới, trong đó có Bismarck – người được mệnh

Đề tài: Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

Phan Ngọc Liên (Chủ biên), “Lịch sử thế giới cận đại”, Tập I, NXB
ĐHSP Hà Nội, 2010 trình bày những nét chính về các cuộc cách mạng tư sản
điển hình cả về nội dung, hình thức, kết quả, ý nghĩa lịch sử; xác lập sự thắng
lợi trên phạm vi thế giới của chủ nghĩa tư bản và chuyển sang giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa của các nước tư bản lớn ở châu Âu, trong đó có nước Đức.
Đồng thời, tác phẩm giúp người đọc thấy được sự chuyển biến và những nét
chính trong phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi và Mĩ La tinh.
Trần Thị Vinh, “Chủ nghĩa tƣ bản thế kỉ XX và thập niên đầu thế kỉ
XXI – Một cách tiếp cận từ lịch sử”, NXB ĐHSP Hà Nội, 2011 đưa ra cách
phân tích khách quan những mặt mạnh và những điểm yếu trong sự phát triển
của chủ nghĩa tư bản thế kỉ XX và thập niên đầu thế kỉ XXI. Đồng thời, tác
phẩm giới thiệu những bước phát triển thăng trầm của chủ nghĩa tư bản trong
thế kỉ XX để làm rõ bản chất và những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tư bản
hiện đại. Từ đó giúp người đọc có cái nhìn và sự đánh giá đầy đủ, đúng đắn,
toàn diện hơn về chủ nghĩa tư bản từ khi hình thành đến nay.
Polianxki. F.I, “Lịch sử kinh tế các nƣớc ngoài Liên Xô thời kì đế
quốc chủ nghĩa (những năm 1870 – 1917)”, NXB Khoa học xã hội, 1978
phân tích những đặc trưng cơ bản về kinh tế của thời kì đế quốc chủ nghĩa. Từ
đó đi sâu nghiên cứu tình hình cụ thể để rút ra những nét chính trong quá trình
chuyển biến từ tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc và những đặc điểm
nổi bật của ba nước đế quốc lớn là Mĩ, Đức và Anh trong giai đoạn từ cuối thế
kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX.
Những tác phẩm trên và nhiều công trình nghiên cứu khác có đề cập
đến những nội dung khác nhau trong lịch sử nước Đức nhưng phân tích và
chuyên sâu về chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu trong giai
đoạn từ 1871 đến 1914 thì dung lượng không lớn. Chưa có công trình nào đi
sâu nghiên cứu, trình bày một cách hệ thống để làm sáng tỏ vấn đề. Hơn nữa
việc tìm hiểu và học tập vấn đề này với học sinh, sinh viên và học viên còn

tính từ khi Đế chế Đức được thành lập năm 1871 đến trước Chiến tranh thế
giới lần thứ nhất, nước Đức có nhiều bước chuyển biến quan trọng về mọi
mặt, là cơ sở cho những thay đổi trong lịch sử nước Đức giai đoạn sau.
4. Đóng góp của luận văn

7


Đề tài: Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

Luận văn hệ thống hoá mục tiêu, nội dung và quá trình triển khai những
chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914. Đồng
thời làm rõ đặc điểm và tác động của những chính sách đó đối với nước Đức,
châu Âu và quan hệ quốc tế.
Mặt khác luận văn còn làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy nội dung Lịch sử thế giới cận đại, Lịch sử nước Đức, lịch sử quan
hệ quốc tế.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu và được triển khai trên cơ sở chủ yếu là sử dụng
phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Đó là quá trình sưu tầm, xử lí
các nguồn tài liệu, phân tích các nguồn tư liệu để rút ra các luận điểm, kết
luận về các vấn đề của đề tài. Ngoài hai phương pháp chính nêu trên,
trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả kết hợp sử dụng các phương pháp
khác như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phương pháp nghiên
cứu quan hệ quốc tế…

6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở và các nhân tố tác động đến chính sách của Đức đối
với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

hoá chất, Đức đuổi kịp, vượt cả Anh, Pháp, giữ ngôi vị số một châu Âu, đứng
thứ hai thế giới về sản lượng công nghiệp. Sản lượng thép của Đức tăng gấp 5
lần, từ 1,5 triệu tấn/năm (1880) lên 7,5 triệu tấn/ năm (1900) [60,58]. Năm
1883, Đức sản xuất 2/3 số thuốc nhuộm trên thế giới với chất lượng tốt, giá
thành rẻ. Trong khoảng thời gian từ 1870 đến 1890, sản lượng than của Đức
tăng 4,4 lần, gang tăng 6 lần, độ dài đường sắt tăng gấp đôi [30,149].
Sở dĩ nền kinh tế Đức phát triển là do: thị trường dân tộc thống nhất
hình thành tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu, trao đổi, buôn bán và phát
triển các lĩnh vực trong đời sống kinh tế. Mặt khác, sự ra đời của một liên
hiệp chính trị hùng mạnh ở châu Âu tạo tiền đề chính trị cho hoạt động cướp
bóc của giai cấp tư sản Đức, cho những cuộc xâm chiếm lãnh thổ và bành
trướng kinh tế của tư bản Đức. Đồng thời, Đức là nước giàu tài nguyên thiên
nhiên, đặc biệt là than đá, sắt do chiếm được hai tỉnh Andát và Loren của
Pháp sau cuộc chiến tranh Pháp – Phổ, sự hợp tác của quặng sắt Loren với
than cốc Rua tạo nên sự phát triển của công nghiệp luyện kim. Hơn thế nữa,
Đức nhận được khoản bồi thường chiến phí 5 tỉ phơrăng vàng của Pháp giúp
tư bản Đức giàu sinh khí hơn, giàu sức sống hơn. Sự bảo vệ về quan thuế đầy
đủ và đáng tin cậy trong lĩnh vực công nghiệp chống lại sự cạnh tranh của
Anh, Mĩ cũng là một yếu tố tạo nên sự phát triển của nền kinh tế Đức. Chính
sách thương nghiệp mang tính chất bảo hộ mậu dịch một cách kiên quyết.
Hơn nữa, Đức còn tiến hành chiến tranh quan thuế với Nga, Pháp để bảo vệ
các xí nghiệp của mình. Bên cạnh đó, Đức tiếp thu và ứng dụng những thành
tựu khoa học kĩ thuật mới nhất trong và ngoài nước. Do công nghiệp hoá
muộn nên Đức có thể sử dụng kinh nghiệm của các nước đi trước. Một lí do
khác là Đức có nguồn nhân lực dồi dào do sự tăng trưởng khá mạnh của
nguồn dân số. Trước chiến tranh Pháp – Phổ (1870 -1871), dân số Đức là 38
triệu người, đến năm 1913 con số này là 67 triệu người [30, 249].

10


nhất, nó tăng lên 254,4%). Năm 1910, phần lớn cư dân Đức đã sống ở thành
thị [46, 163]. Việc dân cư tập trung đông ở thành thị đã dẫn tới việc hình

11


Đề tài: Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

thành các thành phố lớn. Năm 1830, nước Đức có 2 thành phố lớn, đến năm
1910 số lượng thành phố lớn đã tăng lến 48, trong đó có 2 thành phố trên 1
triệu dân [61,58]. Điều này góp phần tạo điều kiện thuận lợi về nhân công cho
sự phát triển công nghiệp ở Đức. Các đường phố chật hẹp, các thành quách cổ
xưa được thay thế bằng những trung tâm công thương nghiệp sầm uất với
những nhà máy có tới hàng vạn công nhân và những bến cảng tấp nập.
Về nông nghiệp, cuối thế kỉ XIX, đường lối tư bản hoá nông nghiệp
theo con đường “kiểu Phổ” đã căn bản hoàn thành ở Đức, việc canh tác đất
đai theo phương thức tư bản chủ nghĩa được đẩy mạnh như dùng máy móc,
phân hoá học, áp dụng các kĩ thuật mới… Đặc biệt việc sử dụng máy móc
được mở rộng. Năm 1907 số lượng máy đập lúa được sử dụng trong nông
nghiệp Đức tăng gấp 3 lần so với năm 1882 (947.000 cái so với 268.000 cái).
Trên đất đai của bọn Iuncơ Đức xuất hiện nhiều máy cày chạy bằng hơi nước.
Năm 1907 số mày này là 2.995 cái. Năm 1907, 92,7% số cơ sở kinh tế có từ
20 đến 100 triệu ha ruộng đất đã có máy móc [46, 181]. Nhờ cơ giới hoá và sử
dụng rộng rãi phân bón tổng hợp nên sản lượng nông nghiệp không ngừng tăng
lên. Những năm 1909 – 1913, sản lượng lúa mì và khoai tây tăng gấp hai lần khi
so sánh với những năm 1894 – 1897 [30, 250]. Ngoài ra, sản lượng các ngành
như củ cải đường, sản xuất đường, thức ăn gia súc… tăng lên đáng kể.
Sự phát triển nhanh chóng của ngành kinh tế, trước hết là công nghiệp
vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã dẫn tới sự tập trung sản xuất ở mức độ
cao hơn hẳn ở các nước châu Âu. Quá trình tập trung sản xuất và hình thành

[30, 250]. Trong công nghiệp điện, đến năm 1908 – 1912 đã hình thành
hai tên khổng lồ độc quyền cạnh tranh nhau là Tổng công ty điện lực
(AEG) và Hội Ximen và Ganxcơ Succơ. Riêng AEG nhờ quá trình tích tụ
hết sức mạnh mẽ, AEG kiểm soát 175 đến 200 công ty, sử dụng hơn
60.000 người làm công. Từ 1908 AEG hợp tác với một nhóm khác của
Đức là General Electric, và vì vậy châu Âu dành cho AEG [5, 23]. Trong
ngành đóng tàu, nổi bật là công ty Lôidơ Bắc Đức.
Việc tập trung sản xuất làm xuất hiện các tổ chức độc quyền. Các tổ
chức độc quyền ở Đức dưới hình thức chủ yếu là Cácten và Xanhđica ngày
càng có ảnh hưởng lớn trong đời sống kinh tế ở Đức, do việc bắt tay với tư
bản ngân hàng hình thành nên tư bản tài chính. Nổi bật là những ngân hàng như:
Drexden, Đác Stác, ngân hàng Berlin, ngân hàng Đức… 9 ngân hàng ở Berlin

13


Đề tài: Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

giữ trong két sắt của chúng một nửa tổng số tiền gửi vào các ngân hàng ở Đức.
Năm 1910, các khoản tiền gửi ấy đạt tới 10 tỉ mác, và một nửa số đó thuộc
quyền chi phối của 9 nhà băng ở Đức (chính xác là 5,1 tỉ mác) [46, 173]. Ngân
hàng Đức là doanh nghiệp ngân hàng khổng lồ và lớn mạnh hơn cả, chi phối một
tư bản riêng là 300 triệu mác, kiểm soát một hệ thống ngân hàng phụ thuộc vào
nó (tất cả là 87 ngân hàng) [46, 174]. Lực lượng kinh tế nước Đức tập trung
trong tay khoảng ba chục “vua công nghiệp” như: Crúp, Títxen, Kiđrốp, Ximen,
Handơman… Tổng số lãi của các tập đoàn này là 15 tỉ mác [42, 248].
Như vậy, từ cuối thế kỉ XIX các ngân hàng Đức đã tham gia tích cực
vào việc xây dựng các tổ chức độc quyền và vào nền công nghiệp. Các ngân
hàng đưa đại diện của mình vào các cơ quan lãnh đạo các công ty cổ phần,
vào các xí nghiệp công nghiệp, gắn chặt lợi ích của các ngân hàng đó với

chính quyền Đức thực hiện những chính sách đối nội phản động và những
chính sách đối ngoại hiếu chiến.
Về quân sự, bộ binh vẫn là một yếu tố quan trọng trong đời sống chính
trị ở châu Âu. Trong suốt thời gian cuối thế kỉ XIX dưới thời của Thủ tướng
Bismarck, Đức tập trung chủ yếu vào việc xây dựng lực lượng lục quân để
vượt lên Pháp, khẳng định sức mạnh đứng đầu ở châu Âu lục địa. Vì thế, quân
đội Đức gia tăng không ngừng về quân số, khí giới được tối tân hóa, nhất là
về ngành không quân và ngành trọng pháo. Những ngân khoản mới, xin năm
1912 và 1913 đều được tất cả các đảng phái chấp thuận, kể cả Đảng Xã hội
dân chủ mà người ta đã làm cho “biết điều” bằng cách thiết lập một thứ thuế
đánh trên các tài sản. Trên địa hạt binh bị như vậy, chính phủ có thể trông cậy
vào toàn thể dư luận trong nước, dân chúng lưu tâm đến địa vị của Đức quốc
trên thế giới, cái “địa vị dưới ánh mặt trời” mà nước này có quyền được, hơn
là lưu tâm tranh đấu dành những quyền tự do chính trị. Quốc dân Đức quen
với ý nghĩ một ngày gần đấy sẽ phải cầm khí giới bảo vệ quyền lợi chính trị
và kinh tế của đất nước [17, 86].
Trong số năm cường quốc ở châu Âu, ba cường quốc có khuyết điểm
quân sự nghiêm trọng. Anh có lực lượng hải quân hùng mạnh nhưng không
có một đội quân nghĩa vụ. Pháp do sự giảm sút thảm hại trong tỉ suất sinh nên
nguồn cung ứng quân nghĩa vụ bị đe dọa nghiêm trọng. Quân đội Áo – Hung
phụ thuộc vào Đức về kĩ thuật và tâm lí. Chỉ có Đức và Nga là luôn giữ được

15


Đề tài: Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

vai trò nổi trội trong bất kì một cuộc xung đột lan rộng nào [39, 745]. Vì thế,
với sức mạnh và sự toàn diện, Đức vượt Pháp, đứng đầu châu Âu về lục quân.
Về hải quân, lực lượng Hải quân Đức bắt nguồn từ lực lượng Hạm đội


Hiến pháp năm 1871 quy định Đức là một quốc gia liên bang gồm 26
vương quốc và 3 thành phố tự do. Các nước nhỏ vẫn giữ chính phủ và vua
riêng, có quyền hạn riêng về giáo dục, nhà thờ, hành chính và thu thuế. Còn
trong toàn nước Đức có Hội đồng liên bang gồm đại biểu các vương quốc nhỏ
và Quốc hội do bầu cử lập nên. Nhà vua có những quyền hạn rất lớn như:
thống lĩnh quân đội, bổ nhiệm và cách chức Thủ tướng, kí kết các hiệp ước,
ngoại giao, tuyên chiến… Vua có quyền triệu tập, giải tán và chịu trách nhiệm
trước Quốc hội. Thủ tướng chỉ chịu trách nhiệm trước vua cho nên không bắt
buộc phải thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, cũng không bắt buộc phải
rút lui khi không được tín nhiệm. Những sắc luật do Quốc hội thông qua vẫn
có thể bị Hội đồng liên bang bác bỏ.
Bismarck đã đem lại cho đế quốc Đức một Hiến pháp bao gồm nhiều
yếu tố dân chủ. Nhưng thật ra, đấy không khác gì hơn là một toan tính kĩ xảo
của một vị Thủ tướng ỷ lại lòng tin cậy của nhà vua, dùng nhà vua làm bình
phong để cai trị với phần nào của tư tưởng dân chủ tiên tiến mà không cần
đến dân chủ thực sự. Mặc dù có những đảng phái hoặc người đại diện do dân
cử ra theo thể thức phổ thông đầu phiếu gồm thành phần của các đảng phái
nhưng hạ viện không có ảnh hưởng nào trong tổ chức chính phủ. Không có
một đảng phái nào được giao phó trọn vẹn một trách nhiệm. Những cuộc bầu
cử phản ánh quan niệm dân chủ nhưng Hoàng đế và Thủ tướng không khi nào
thực thi theo ý muốn của đa số và nếu cần phải biểu quyết cho một dự luật
nào, Thủ tướng lại sử dụng những thủ đoạn khôn khéo.
Dù cho vẻ bề ngoài dân chủ qua việc thành lập Nghị viện, Đế quốc Đức
thật ra là chế độ chuyên chế quân phiệt dưới quyền của Vua nước Phổ, cũng
là Hoàng đế Đức. Nghị viện không có nhiều quyền hành, mà chỉ là một diễn
đàn để đại diện nhân dân bàn cãi cho hả dạ hoặc mặc cả quyền lợi nhỏ nhoi
cho giai cấp mà họ làm đại diện. Ngai vàng nắm quyền hành – theo ý niệm
thiêng liêng. Tuy Hoàng đế Friedrich III (lên ngôi vào năm1888), gắn bó mãnh
liệt với phong trào chủ nghĩa tự do nước Đức thời đó, ông lại mất sớm. Về sau,

với các công ty lũng đoạn càng củng cố địa vị của tầng lớp này. Mặt khác sự
lớn mạnh của giai cấp công nhân và phong trào xã hội dân chủ là mối nguy
chung cho cả hai giai cấp bóc lột tư sản và địa chủ. Vì vậy, mặc dù lực lượng
của bọn trùm ruộng đất đã sút kém trước thế lực của giai cấp tư sản công
nghiệp, tư sản vẫn xem quý tộc là một lực lượng chính trị có ảnh hưởng nhất

18


Đề tài: Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

ở trong nước. Cả hai bên phải tựa lưng vào nhau để tạo nên một nhà nước
quân phiệt với bộ máy cảnh sát có đủ sức trấn áp quần chúng và củng cố địa
vị thống trị. Cả hai đều ủng hộ chính sách “bảo hộ mậu dịch” để ngăn cản sự
cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài và quan tâm đến việc xây dựng lực lượng
quân đội, hải quân và hạm đội, mở rộng thị trường bằng những cuộc chiến
tranh ăn cướp. Chủ nghĩa quân phiệt vốn có ở Phổ được bọn đại tư sản ủng hộ
có vị trí đáng kể trong chính sách của nhà nước Đức. Bộ máy quan liêu nặng
nề, tinh thần quân phiệt và chế độ cảnh sát thống trị trong cả nước. Đế quốc
Đức là một quốc gia có “nền độc tài quân sự được tổ chức theo lối quan liêu,
được bảo vệ bằng cảnh sát, được trang sức bằng hình thức nghị viện, với một
mớ hỗn tạp những yếu tố phong kiến, đồng thời đã chịu ảnh hưởng của giai
cấp tư sản là “đế quốc tư sản gioongke” [ 42, 250]. Bismarck chính là hiện
thân của tính chất đó, đại diện cho sự cấu kết của giai cấp tư sản và tầng lớp
quý tộc Phổ Iuncơ.
Đảng Bảo thủ đại diện quyền lợi của quý tộc địa chủ vùng Đông Phổ,
chủ trương thiết lập nền quân chủ bán chuyên chế, chiếm các chức vụ quan
trọng trong quân đội và trong bộ máy nhà nước. Tuy rằng có những vấn đề
chống lại Bismarck, nó vẫn giữ địa vị của đảng cầm quyền, có ảnh hưởng lớn
trong Quốc hội, luôn luôn đòi tăng ngân sách quân sự, tăng cường quân đội và

Đức (1869) và đóng vai trò quan trọng trên vũ đài chính trị nước Đức.
Quyền tự do dân chủ của công nhân Đức bị xâm phạm nghiêm trọng.
Tiêu biểu là sự tồn tại khá dài của đạo luật “Đặc biệt” chống công nhân.
Trong 12 năm tồn tại của nó (1878 – 1890) tất cả mọi tổ chức đảng xã hội chủ
nghĩa, các đoàn thể, kể cả các hội thể thao đều bị cấm. Tình trạng giới nghiêm
từng được áp dụng ở nhiều thành phố như Berlin, Hămbuốc, Laizích... Có tới
1300 loại sách báo bị cấm, 322 tổ chức bị giải tán, 900 người bị trục xuất,
1500 người bị giam cầm [29, 252].
Mặc dù có Hiến pháp, có chế độ phổ thông tuyển cử với sự tham gia
của các đảng phái đại diện cho quyền lợi của các giai cấp, tầng lớp trong xã
hội, có Quốc hội nhưng chế độ chính trị ở Đức không phải chế độ đại nghị tư
sản, thực chất là chế độ nửa chuyên chế nhằm duy trì sự thống trị và bảo vệ
quyền lợi của quý tộc Phổ Iuncơ trên toàn nước Đức. Đây chính là cơ sở

20


Đề tài: Chính sách của Đức đối với các cường quốc châu Âu từ 1871 đến 1914

chính trị - xã hội để giới cầm quyền Đức thực hiện chính sách đối với các
cường quốc châu Âu nhằm thỏa mãn tham vọng đưa đế quốc Đức trở thành
cường quốc số một châu Âu và thế giới.
1.1.3. Cơ sở lịch sử - tư tưởng
Về lịch sử, sự ra đời của dân tộc Đức là một quá trình kéo dài nhiều thế
kỉ. Từ “Đức” có lẽ phải đến thế kỉ VIII mới bắt đầu xuất hiện và lúc đầu chỉ là
tên gọi thứ ngôn ngữ được sử dụng trong vùng phía Đông của vương quốc
Franken. Người ta thường coi năm 911 được coi là thời điểm vương quốc
Đông Franken chuyển thành vương quốc Đức. Năm đó quận công Konrad đệ
nhất xứ Franken trở thành vua. Ông được coi là vị vua Đức đầu tiên [43, 118].
Danh hiệu đầu tiên là vua Franken, sau đổi thành vua La Mã. Đến thế

cũng như những vùng thuộc Thổ Nhĩ Kì nằm trên bán đảo Balkan đã nhờ thế
trở thành những cường quốc. Sau này trong thế kỉ XVIII xuất hiện một đối
thủ của Áo là Phổ [43, 125]. Dưới thời Friedrich Đại đế (1740 – 1786), nước
Phổ đã phát triển thành một cường quốc quân sự hạng nhất. Với lãnh thổ của
mình, cả Áo và Phổ đều không thuộc đế chế và đã thực thi đường lối chính trị
của nước lớn ở châu Âu.
Cú hích làm sụp đổ ngôi nhà đế chế đến từ phía tây, đó chính là cách
mạng tư sản Pháp năm 1789. Dưới sức ép của dân chúng, trật tự xã hội phong
kiến tồn tại từ thời kì đầu Trung cổ đã bị dẹp bỏ. Những mưu toan của Phổ và
Áo sử dụng vũ lực can thiệp vào các mối quan hệ với các nước láng giềng đã
thất bại thảm hại và dẫn tới các cuộc phản công của lực lượng quân đội cách
mạng. Nhưng tại Đại hội Viên 1814 – 1815, hy vọng của nhiều người Đức
muốn có một nhà nước quốc gia tự do và thống nhất đã không trở thành hiện
thực. Liên hiệp Đức thay thế đế chế trước kia chỉ là một cộng đồng lỏng lẻo
của những nhà nước riêng rẽ có chủ quyền. Cơ quan duy nhất là Quốc hội của
Liên hiệp đóng ở Frankfurt. Đây không phải là một quốc hội được bầu mà là
một dạng đại hội gồm những đại biểu được cử đến. Liên hiệp chỉ thực hiện
công việc khi hai cường quốc là Áo và Phổ nhất trí [43, 128]. Trong những
thập niên sau đó, Liên hiệp coi nhiệm vụ chính của mình là kìm hãm mọi nỗ
lực hướng tới thống nhất và tự do.
Sự phát triển của một nền kinh tế hiện đại đã bắt đầu và đối nghịch với
những khuynh hướng phản động. Đó là nguyên nhân dẫn tới cuộc cách mạng
năm 1848. Các cuộc nổi dậy tại Dresden, Pfalz và Baden với mục đích bắt

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status