chính sách của vua minh mạng đối với các dân tộc thiểu số ở miền trung - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thanh Hòa

CHÍNH SÁCH CỦA VUA MINH MẠNG
ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
MIỀN TRUNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thanh Hòa

CHÍNH SÁCH CỦA VUA MINH MẠNG
ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
MIỀN TRUNG
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ HUỲNH HOA

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

bất kì công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Hòa


4

MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng, chữ viết tắt
PHẦN MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 7
1.

Lý do chọn đề tài ............................................................................................................... 7

2.

Mục đích nghiên cứu vấn đề.............................................................................................. 7

3.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn sử liệu ..................................................................... 8

4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 15

1.3.1. Từ thế kỉ XI đến trước năm 1802 .............................................................................. 49
1.3.2. Vấn đề dân tộc thiểu số thời Gia Long ...................................................................... 54
CHƯƠNG 2 ............................................................................................................................ 59


5

MIỀN TRUNG VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA VUA MINH MẠNG (TỪ
NĂM 1820 ĐẾN NĂM 1840) ................................................................................................ 59
2.1. Vùng đất miền Trung dưới thời Nguyễn.......................................................................... 59
2.1.1. Thiên nhiên và dân cư ............................................................................................... 59
2.1.2. Kinh tế - Văn hóa ...................................................................................................... 61
2.2. Khái quát chính sách dân tộc của vua Minh Mạng ở miền Bắc và miền Nam ................ 66
2.2.1. Chính sách dân tộc của vua Minh Mạng ở miền Bắc................................................ 66
2.2.2. Chính sách dân tộc của vua Minh Mạng ở miền Nam .............................................. 72
2.3. Chính sách dân tộc của vua Minh Mạng ở miền Trung ................................................... 74
2.3.1. Chính sách đối với Thuộc Man ................................................................................. 74
2.3.1.1. Phủ dụ và cai quản Thuộc Man .......................................................................... 74
2.3.1.2. Những qui định về thuế khóa và tiến cống ......................................................... 81
2.3.1.3. Phổ biến văn hóa người Kinh cho các dân Thuộc Man ...................................... 85
2.3.2. Những chính sách đối với Thuộc quốc (Thủy Xá và Hỏa Xá).................................. 89
2.3.2.1. Định lệ ban thưởng và tiến cống......................................................................... 91
2.3.2.2. Ban mũ áo, tên họ và đào tạo thông dịch viên, tiến tới đồng hóa văn hóa Thuộc
quốc ................................................................................................................................. 94
2.3.3. Chính sách của vua Minh Mạng đối với người Hoa ở miền Trung .......................... 96
2.3.3.1. Các qui định về nhập cảnh, cư trú và chuyển đổi quốc tịch ............................... 97
2.3.3.2. Những ưu đãi và cấm đoán về kinh tế ................................................................ 99
2.3.3.3. Những chính sách về văn hóa - xã hội.............................................................. 102
CHƯƠNG 3 .......................................................................................................................... 106
ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

của mọi nhà nước trong lịch sử Việt Nam. Cũng như các triều đại trước, ngay sau khi
nhà Nguyễn được thành lập (năm 1802), vua Gia Long đã quan tâm đến vấn đề dân
tộc thiểu số. Tuy nhiên, vua Gia Long chủ yếu quan tâm đến các dân tộc thiểu số ở
phía Bắc vì đây vừa là khu vực tiếp giáp với biên giới Việt - Trung, vừa là địa bàn
hoạt động của các lực lượng nổi dậy chống lại triều Nguyễn.
Sang thời Minh Mạng, vấn đề dân tộc được chú trọng hơn và mở rộng trên
phạm vi cả nước, đặc biệt đối với khu vực miền Trung - một địa bàn cư trú của nhiều
dân tộc thiểu số và cả những nước nhỏ tồn tại riêng biệt với chính quyền trung ương.
Đây là điều ảnh hưởng đến sự thống nhất quốc gia cũng như công cuộc cai trị của
triều Nguyễn, nhất là đối với cuộc cải cách hành chính dưới thời Minh Mạng.
Trước tình hình đó, vua Minh Mạng đã có những chủ trương và biện pháp gì
để giải quyết vấn đề dân tộc thiểu số trên cả nước, đặc biệt là đối với khu vực miền
Trung; kết quả ra sao và nó tác động như thế nào đến kinh tế - văn hóa - xã hội của
khu vực này? Đó là lí do thúc đẩy tôi nghiên cứu đề tài “ Chính sách của vua Minh
Mạng đối với các dân tộc thiểu số ở miền Trung”.
 Lý do thực tiễn
Việc nghiên cứu đề tài nhằm góp phần đánh giá về triều Nguyễn trên nhiều
mặt, đặc biệt là chính sách dân tộc dưới thời Minh Mạng. Đồng thời giúp ích cho quá
trình giảng dạy bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông.

2. Mục đích nghiên cứu vấn đề
-

Phục dựng lại có hệ thống những chính sách của vua Minh Mạng đối với
các dân tộc thiểu số ở miền Trung.

-

Rút ra được những điểm tiến bộ và hạn chế trong các chính sách này.



năm 1974 ở Sài Gòn. Tác phẩm có ba phần: trình bày về vùng đất Tây Nguyên
trên các mặt tự nhiên, địa lý, dân cư, lịch sử và văn hóa. Trong chương thứ Ba
của phần thứ nhất, tác giả có đề cập đến lịch sử miền Thượng từ thời nguyên
thủy đến sau cách mạng Tháng Tám, sự ra đời của hai vương quốc Thủy Xá và
Hỏa Xá cũng như chính sách của các triều đại phong kiến Việt Nam, đặc biệt
là triều Nguyễn đối với vùng đất này.
-

Thư tịch cổ Việt Nam viết về Chiêm Thành, Thủy Xá - Hỏa Xá,

Miến Điện, Chà Và do Nguyễn Lệ Thi sưu tập và được in năm 1978 tại Hà
Nội. Đây là công trình tập hợp những tư liệu thư tịch cổ Việt Nam viết về các
nước Đông Nam Á. Mặc dù không phải là tài liệu gốc nhưng công trình có thể
rút ngắn thời gian tìm kiếm cho người nghiên cứu và giúp công tác tra cứu tư
liệu cổ được dễ dàng hơn.
-

Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt

Nam (Thế kỉ X - XIX) của tác giả Phan Hữu Dật và Lâm Bá Nam do nhà xuất


9

bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2001. Nội dung chủ yếu của sách đề cập
đến chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam.
Trong phần triều Nguyễn, các tác giả có đề cập đến chính sách của vua Minh
Mạng đối với các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
-

Nguyễn đối với các dân tộc thiểu số. Từ đó cũng đưa ra những nhận xét về
những chính sách này.
-

Rừng người Thượng (Les Jungles Moi) của Herri Matre. Maitre là một

nhà thám hiểm người Pháp. Dưới sự tài trợ của chính phủ Bảo hộ (thời gian
Pháp cai trị Đông Dương), ông đã thực hiện cuộc thám hiểm vào rừng Trường


10

Sơn và Tây Nguyên trong những năm cuối thế kỉ XIX. Trong chuyến thám
hiểm của mình, ông đã ghi chép lại khá tỉ mỉ về rừng núi và những dân tộc
sống ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Năm 1912, tác phẩm Les Jungles Moi được
công bố ở Pháp, đây là “công trình lịch sử - dân tộc đầu tiên được viết về vùng
cao nguyên Việt Nam, Cambodge và Lào. Công trình “Những người con của
núi” (Sons of the Mountains) của Gerald Cannon Hickey xuất bản năm 1982,
được giới phê bình Hoa Kỳ hoan nghênh đều dựa nhiều vào nội dung và
phương pháp của Henrri Maitre. Năm 2008, tác phẩm Les Jungles Moi được
tác giả Lưu Đình Tuân dịch sang tiếng Việt và được hiệu đính bởi nhà văn
Nguyên Ngọc. Bên cạnh những hạn chế về mặt tư tưởng, thời đại, tác phẩm
Les Jungles Moi thực sự là một công trình khoa học có giá trị lớn về mặt lịch
sử, đặc biệt đối với việc nghiên cứu về lịch sử - kinh tế - văn hóa các dân tộc
thiểu số ở Trường Sơn - Tây Nguyên.
-

Dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam của tác giả Lê Đại Nghĩa

và Dương Văn Lượng được nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm

-

“Chính sách đối với dân tộc thiểu số của triều Nguyễn nửa đầu thế

kỉ XIX” của tác giả Nguyễn Minh Tường được in trong tạp chí Nghiên cứu
lịch sử năm 1993. Bài viết này đã trình bày khá đầy đủ về chính sách dân tộc
của triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX, đặc biệt là chính sách đối với các dân
tộc thiểu số ở phía Bắc và phía Nam Việt Nam. Còn ở miền Trung, phần trình
bày của tác giả khá sơ lược. Đó là một trong những nguyên nhân thúc đẩy tôi
tìm hiểu về chính sách dân tộc của triều Nguyễn, cụ thể là của vua Minh Mạng
đối với khu vực này.
-

“Triều Nguyễn với các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam thế

kỉ XIX” của tác giả Châu Hải được in trong Những vấn đề lịch sử và văn
chương triều Nguyễn do Trần Hữu Duy và Nguyễn Phong Nam chủ biên, xuất
bản năm 1997 bởi nhà xuất bản Giáo dục. Trong bài viết, tác giả đề cập khá hệ
thống về chính sách của triều Nguyễn đối với các nhóm người Hoa ở Việt
Nam, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như hành chính, kinh tế, văn hóa, xã
hội. Mặc dù chỉ dừng lại ở mức độ khái quát nhưng những gợi mở của tác giả
trong bài viết này giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về chính sách của
triều Nguyễn đối với các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
-

“Tĩnh man trường lũy” và những cuộc nổi dậy của “Thạch Bích

Man” dưới triều Nguyễn” của Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Phước Bảo Đàn
được đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử năm 2001. Bài viết giới thiệu khá
chi tiết về tổ chức hành chính ở Trường lũy Quảng Ngãi và những cuộc nổi

“Quan hệ Việt Nam - Khu vực Bắc Tây Nguyên trước thế kỉ XIX”

của tác giả Vũ Ngọc Bình được in trong Kỷ yếu Hội thảo Nam bộ và Nam
Trung bộ - Những vấn đề lịch sử thế kỉ XVII - XIX năm 2005. Trong bài viết,
tác giả đã đề cập khái quát về quan hệ của Việt Nam với khu vực Bắc Tây
Nguyên từ thời các chúa Nguyễn cho đến đầu thời Nguyễn. Đặc biệt là quan
hệ giữa triều Nguyễn với Thủy Xá và Hỏa Xá giúp cho người đọc có thể hình
dung một phần chính sách của triều Nguyễn đối với các dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên.
-

“Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn với các dân tộc thiểu số ở

miền Nam nước ta” của hai tác giả Phan Hữu Dật và Lâm Bá Nam được in
trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong
lịch sử Việt Nam” năm 2008. Bài viết đề cập đến quá trình mở mang lãnh thổ
về phương Nam của người Việt và chính sách của họ Nguyễn đối với các dân
tộc thiểu số ở miền Trung. Sách cung cấp cho người đọc cái nhìn khách quan
và chân thực hơn về vai trò của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn trong lịch sử
Việt Nam.
-

“Chính sách “giáo hóa” của triều Nguyễn đối với vùng núi miền

Trung (1802 - 1883)” của tác giả Bùi Tiến Huân được in trong Tạp chí Khoa
học xã hội và Nhân văn trường đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm


13


phần Phủ biên và Nhu viễn.
-

Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là bộ sách do Nội các triều

Nguyễn biên soạn theo thể Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép
các loại điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt
động của một triều đại, một nhà nước. Bộ sử này được biên soạn vào giữa thế
kỉ XIX, ghi chép lại đầy đủ các chiếu chỉ, các tấu sớ, phiếu dụ của triều đình


14

nhà Nguyễn về các việc đem ra thi hành, nhiều khi sửa đổi các lệ cũ thuộc cả
sáu bộ và các ty. Bộ sử này bao gồm 262 quyển. Nội dung được khai thác chủ
yếu để phục vụ đề tài thuộc phần Nhu viễn, bao gồm từ quyển 133 đến 136.
-

Phủ man tạp lục của Ôn Khê Nguyễn Tử Vân. Sách này được các tác

giả Lê Sơn Phương Ngọc, Nguyễn Hữu Quý, Hoài Chi Hạ Miễn dịch sang
tiếng Việt với nhan đề “Trường lũy Quảng Ngãi”. “Phủ man tạp lục” (ghi
chép về chuyện phủ dụ người Thượng) là tập sách ghi lại những hiểu biết và
các hoạt động của Nguyễn Tử Vân với tư cách của một viên quan triều đình
nhà Nguyễn được phái đi chiêu dụ các dân tộc ít người ở miền thượng du
Trung Bộ, mà chủ yếu là vùng phía Tây Quảng Ngãi (nay thuộc một phần
Trường Sơn - Tây Nguyên). Nguyễn Tử Vân nghiên cứu về người Thượng
Quảng Ngãi tương đối kỹ, tác phẩm Phủ Man tạp lục của ông đề cập đến: núi
sông, cương vực, đường sá, thổ nghi, ngôn ngữ, phong tục của người Thượng
Quảng Ngãi, cũng như vấn đề thuế má, sách lược cai trị, phương cách phòng

Những bộ sử này là nguồn tư liệu gốc, phục vụ đắc lực cho công tác nghiên
cứu về triều Nguyễn nói chung và chính sách dân tộc của vua Minh Mạng nói riêng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-

Đề tài tập trung nghiên cứu về chính sách của vua Minh Mạng đối với

các dân tộc thiểu số ở miền Trung.
-

Thời gian: từ năm 1820 (năm vua Minh Mạng lên ngôi) cho đến hết

năm 1840 (năm vua Minh Mạng qua đời).
-

Không gian: khu vực miền Trung Việt Nam dưới thời Nguyễn, bao gồm

các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng
Nam, Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi), Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình
Thuận và phần cao nguyên của miền Trung, bao gồm hai nước Thủy Xá và
Hỏa Xá.

5. Phương pháp nghiên cứu
Hai phương pháp chính được sử dụng trong đề tài là phương pháp lịch sử và
phương pháp logic. Hai phương pháp này đã được vận dụng như sau:
-

Thứ nhất, trình bày những chính sách của vua Minh Mạng đối với các


Mạng nói riêng trong lịch sử dân tộc.

7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về triều Nguyễn và vấn đề dân tộc thiểu số trước khi vua
Minh Mạng lên ngôi
Chương 2: Miền Trung Việt Nam và chính sách dân tộc của vua Minh Mạng (Từ
năm 1820 đến năm 1840)
Chương 3: Đặc điểm và tác động của chính sách đối với các dân tộc thiểu số ở
miền Trung dưới thời Minh Mạng


17

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN VÀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRƯỚC KHI VUA MINH MẠNG LÊN NGÔI
1.1. Sự thành lập triều Nguyễn
Triều Nguyễn là vương triều được thành lập trong bối cảnh quốc tế và trong
nước có nhiều biến động.
1.1.1. Hoàn cảnh quốc tế và khu vực
Đầu thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển và giành thắng lợi trên phạm vi
toàn thế giới. Châu Âu và Bắc Mỹ đã tiến hành cách mạng tư sản từ thế kỉ XVI và
đến những năm 50 của thế kỉ XIX thì hoàn thành. Chủ nghĩa tư bản trở thành hệ
thống thế giới, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị - có quyền lực vô hạn về
kinh tế. Để phát triển và tăng lợi nhuận về kinh tế, giai cấp tư sản đã tiến hành cải tiến
kỹ thuật, tiến tới thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỉ XVIII đến giữa thế
kỉ XIX, đưa lại những thay đổi lớn lao trong sản xuất. Lao động bằng máy móc ra đời

từng quốc gia, có thể thấy có sự phát triển nhất định. Nhưng so với các nước phương
Tây đã tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp thì châu Á có “trình độ phát triển chậm
chạp và kém hơn” [15, tr.16]. Đa số các vương quốc phong kiến châu Á đều có nền
kinh tế nông nghiệp, kĩ thuật canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp, chế độ sở hữu
ruộng đất phong kiến phần nào triệt tiêu động lực sản xuất của người lao động, đời
sống nông dân, nhân dân lao động nói chung vô cùng khổ cực. Công thương nghiệp
cũng chẳng khá hơn. Mọi hoạt động thương mại đều bị trở ngại, chính là do chính
sách bế quan, một chính sách mà hầu như nước châu Á nào cũng áp dụng như một
cách tự vệ của mình trước nguy cơ xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây.
Nhưng hàng rào bế quan của châu Á phong kiến không ngăn được bước chân
của thực dân phương Tây. Từng nước châu Á đã rơi vào ách thống trị của chủ nghĩa
thực dân. Đông Nam Á cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó. Sau khi tìm được
đường biển sang phương Đông, người châu Âu đã lần lượt đến Đông Nam Á. Năm
1511, Bồ Đào Nha chiếm Malacca, đánh dấu một mốc quan trọng trong việc chinh
phục vùng Đông Nam Á. Năm 1790, Anh chiếm Pênang, mở đầu cho việc xâm chiếm
Malaysia, một năm sau Malaysia lần lượt bị Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh xâm chiếm.
Philippin cũng dần dần bị Tây Ban Nha thôn tính từ giữa thế kỉ XVI. Inđônêxia cũng
bị Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan xâu xé và đến năm 1811, Hà Lan độc chiếm


19

được nước này. Singapo bị Anh chiếm vào năm 1824 và sáp nhập vào lãnh thổ của
Anh. Tại Mianma, thực dân Anh đã tiến hành ba cuộc chiến tranh vào các năm 1824 1826, 1826 - 1853 và 1885 để thôn tính đất nước này. Sau khi chiếm Mianma, Anh
tiếp tục thôn tính Brunei.
Cùng lúc đó, thực dân Pháp cũng tìm mọi cách để thôn tính khu vực Đông
Dương, gồm ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Mặt khác, Việt Nam còn phải
đối mặt với âm mưu bành trướng từ phía Bắc của Trung Quốc cũng như sự quấy
nhiễu của Xiêm ở phía Nam. Tình hình này buộc các vua triều Nguyễn đưa ra những
đối sách phù hợp để vừa giữ ổn định tình hình trong nước cũng như quan hệ đối với

không có kết quả, dân tình quá khổ cực, chán nản, hai họ Trịnh - Nguyễn phải ngừng
chiến, lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt lãnh thổ, phân chia Đàng Trong - Đàng
Ngoài, Đàng Ngoài thuộc quyền cai quản của vua Lê và chúa Trịnh, Đàng Trong
thuộc quyền cai quản của các chúa Nguyễn.
Năm 1777, trước sức mạnh của phong trào Tây Sơn, chính quyền chúa Nguyễn
bị sụp đổ. Chúa Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Dương bị quân Tây Sơn giết.
Nguyễn Phúc Ánh chạy thoát, vượt biển trốn ra đảo Thổ Chu. Được sự giúp đỡ của
nước ngoài, Nguyễn Ánh đã nhiều lần đem quân chiếm lại đất Gia Định. Năm 1790,
Nguyễn Ánh làm chủ Gia Định. Năm 1792, Nguyễn Ánh đem quân đánh ra Bình
Thuận, Quy Nhơn. Lợi dụng sự suy yếu của quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đem quân
tấn công ra Phú Xuân. Tháng 6 - 1801, Phú Xuân rơi vào tay Nguyễn Ánh.
Một năm sau (tháng 6 - 1802), Nguyễn Ánh lên ngôi, đặt niên hiệu là Gia
Long, triều Nguyễn được thành lập. Cuộc tấn công ra Bắc được tiếp tục, Nghệ An,
Thanh Hóa và các trấn phía Bắc rơi vào tay Gia Long. Tháng 7 - 1802, Gia Long xa
giá ra Thăng Long, triều đại Tây Sơn đã bị đánh đổ, đất nước hoàn toàn thuộc về tay
triều Nguyễn.
Sau khi lên ngôi, vua Gia Long ra sức xây dựng và bảo vệ những thành quả
vừa đạt được. Ở trung ương, nhà vua xây dựng chính quyền theo mô hình thời Lê:
đứng đầu là vua, dưới vua có 6 bộ (Lại - Bộ - Lễ - Binh - Hình - Công) và các cơ
quan chuyên môn khác. Ở địa phương, để khắc phục tình trạng bộ máy quản lý còn
yếu kém, vua Gia Long đã chia cả nước làm ba phần là Bắc thành, Gia Định thành và
các Trấn Trực doanh. Nhà vua chỉ cai quản ở các Trấn Trực Doanh, còn Bắc thành và
Gia Định thành thì giao cho các vị Tổng trấn cai quản.
Vì chưa kịp đào tạo đội ngũ văn quan nên hàng ngũ quan lại đầu triều Gia
Long phần lớn là võ quan. Chính đặc điểm này làm cho bộ máy quản lí hành chính
trở nên cứng nhắc, mang tính áp đặt, không linh hoạt trong phát triển kinh tế - xã hội.


21


giám để theo dõi thời tiết và biên soạn lịch.


22

Về ngoại giao, triều Nguyễn có những chính sách khác nhau với từng đối
tượng. Đối với nhà Thanh, vua Gia Long giữ một thái độ hòa hảo nhằm giữ vững độc
lập và tính chính thống của mình. Tháng 11 - 1802, nhà vua cử phái bộ do Thượng
thư Lê Quang Định dẫn đầu sang Trung Quốc xin phong vương và đặt tên nước là
Nam Việt 1. Nhà vua cũng thường xuyên cho sứ thần sang triều cống nhà Thanh. Việc
làm này đã trở thành quy tắc và kéo dài đến thời Tự Đức. Không chỉ vua Gia Long
mà cả triều Nguyễn nói chung xem Trung Hoa là mẫu mực ở phương Đông nên các
thiết chế về chính trị, tư tưởng, văn hóa… đều được học tập và tổ chức.
Đối với các nước láng giềng như Ai Lao, Chân Lạp và Xiêm La, vua Gia Long
thực hiện chính sách ngoại giao nước lớn, tìm cách phát triển thế lực, tranh giành ảnh
hưởng ở Ai Lao và Chân Lạp, gây ra những vụ tranh chấp với Xiêm.
Với các nước phương Tây, trong bối cảnh các nước phương Tây đang tăng
cường tấn công vào các nước Đông Nam Á, vua Gia Long đã tìm cách tránh né mối
quan hệ chính thức với các nước này. Nhà vua đã chủ trương một đường lối đối ngoại
“khép kín”, mang tính chất “không phương Tây”. Tuy nhiên, dưới triều Gia Long,
quan hệ với các nước phương Tây chưa bị cắt đứt như các triều vua sau.
Bên cạnh đó, còn một vấn đề gắn chặt với các nước phương Tây mà đặc biệt là
Pháp, đó là vấn đề đạo Thiên Chúa. Dưới thời Gia Long, đạo Thiên Chúa vẫn hoạt
động bình thường. Tuy nhiên, nhà vua luôn giữ thái độ dè chừng đối với các giáo sĩ.
Vì hơn ai hết, ông sớm thấy rõ mối liên hệ mật thiết giữa những người này với các
chính phủ thực dân.
Điểm qua quá trình thành lập triều Nguyễn và tình hình Việt Nam dưới thời
Gia Long không chỉ giúp có cái nhìn bao quát hơn về bối cảnh lịch sử trước khi Minh
Mạng lên ngôi mà còn xem nó tác động như thế nào khi Minh Mạng lên nắm quyền.
Nhìn chung, vua Minh Mạng đã được thừa hưởng từ vua cha nhiều thuận lợi


1.2. Những nét chính về thân thế và sự nghiệp của vua Minh Mạng
1.2.1. Thân thế và tư tưởng của vua Minh Mạng
Vua Minh Mạng sinh ngày 25 tháng 5 năm 1791 tại làng Tân Lộc (Gia Định),
tên húy là Phúc Đảm, còn có tên là Hiệu. Ông là con trai thứ tư của vua Gia Long,
anh em cùng cha khác mẹ với Hoàng tử Phúc Cảnh. Mẹ của ông là Trần Thị Đang,
con gái của Thọ quốc công Trần Hưng Đạt (tham tri bộ Lễ thời Gia Long), quê ở
Hương Trà, phủ Thừa Thiên.
Khi Phúc Đảm bước vào tuổi đi học, Nguyễn Ánh đã làm chủ toàn vùng Gia
Định. So với ba người anh của mình, Phúc Đảm có điều kiện ăn học đến nơi đến chốn
hơn. Thầy dạy của Phúc Đảm là Đặng Đức Siêu, một Nho sĩ nổi tiếng được bổ vào
Hàn lâm viện, sau đó làm thượng thư bộ Lễ dưới thời Gia Long. Đây là người chịu
ảnh hưởng của tư tưởng Minh Nho nên khá cởi mở, không bị giam hãm trong những
tín điều của Tống Nho. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng lớn tới Hoàng tử Đảm - vua


24

Minh Mạng sau này. Vua Minh Mạng thường nói với các cận thần rằng: “Thượng thư
bộ Lễ Đặng Đức Siêu, trước đã phụng mệnh Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, dạy
ta đọc sách, mấy năm dẫn dụ hiểu biết được nhiều, thực là không thẹn với chức phận”
[58, tr.113].
Khi còn là Hoàng tử và ngay cả lúc là Hoàng thái tử, Nguyễn Phúc Đảm luôn
hiểu rõ chức trách của mình. Ông từng có ý thức chuẩn bị, bồi dường tài năng để sẵn
sàng gánh vác trách nhiệm lớn. Vì vậy, ông luôn cần mẫn đọc nhiều sách vở, nhất là
các sách dạy về trị quốc, yên dân.
Năm 1820, vua Gia Long qua đời, Hoàng tử Đảm lên nối ngôi, lấy hiệu là
Minh Mệnh (Minh Mạng). Việc chọn Hoàng tử Đảm lên nối ngôi Gia Long là một
quá trình “giằng co” giữa vua Gia Long và các đại thần triều Nguyễn như Nguyễn
Văn Thành và Lê Văn Duyệt. Đến tháng 3 năm 1816, vua Gia Long đã quyết định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status