Chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số ở việt nam - Pdf 51

Mục Lục
I. Mở Đầu.
II. Nội Dung
1.Khái niệm
1.1 Khái niệm về "chính sách "
1.2 Khái niệm về "chính sách xã hội"
1.3 Khái niệm " Bảo tồn ".
1.4 Khái niệm " Phát triển"
1.5 Khái niệm về " Văn hóa".
1.6 Khái niệm " Dân tộc thiểu số ".
1.7 Khái niệm " Chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc
thiểu số Việt Nam".
2.Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo tồn, phát triển
văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.
2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo tồn, phát triển
văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.
2.2 Đối tượng của chính sách.
3. Mục tiêu của chính sách.
3.1 Mục tiêu tổng quát:
3.2 Mục tiêu cụ thể:
4. Sự tác động của chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam đến sự phát triển xã hội.
4.1 Nội dung chính sách theo đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân
tộc thiểu số Việt Nam.


4.2 Sự tác động của chính sách đến sự phát triển xã hội.
III. Kết Luận
DTTS : Dân tộc thiểu số.




: />
qid=20071028224450AAkiIme)
1.4 Khái niệm " Phát triển"


Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng
tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến
hoàn thiện hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái
lạc hậu
(nguồn

: />
qid=20100331011426AAeqI8P)
1.5 Khái niệm về " Văn hóa".
Theo GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, Từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được
dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Tuy được dùng
theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao
giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa
rộng.
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng,
theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa
được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ
thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị
trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn theo
không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng
(văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá
được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn
hoá Đông Sơn…)…
Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do



học, văn học nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…) mà loài người sáng
tao ra nhằm phục vụ những nhu cầu của mình trong quá trình lịch sử. Hay là:
“Trình độ hiểu biết về những giá trị tinh thần thuộc về một thời kì lịch sử
nhất định”.
(nguồn: />1.6 Khái niệm " Dân tộc thiểu số ".
Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người: (a). Cư trú trên
lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này;
(b). Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; (c).Thể
hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ; (d).
Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong
quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; (e). Có mối quan tâm
đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong
tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ
(nguồn:file:///C:/Users/admin/Downloads/LQT-Lê%20Xuân%20TrìnhQuyền%20của%20người%20dân%20tộc%20thiểu%20số%20theo
%20%20quy%20định%20của%20luật%20pháp%20quốc%20tế%20và
%20Việt%20Nam.pdf)
1.7 Khái niệm " Chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc
thiểu số Việt Nam".
Chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa là những cơ chế ưu tiên của Nhà nước
để giữ gìn bảo tồn, phát triển những nét đẹp - giá trị văn hóa của đồng bào
dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
2.Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo tồn, phát triển


văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.
2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo tồn, phát triển
văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm vào đổi

hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”
(nguồn

: />
dang/books-2928201510064846/index-592820151000374663.html
Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách nhằm ưu tiên,
phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi với quan điểm chỉ đạo xuyên
suốt: các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn
kết, thương yêu, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Tuy nhiên, khoảng
cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và miền núi
với các khu vực khác trong cả nước đang ngày càng có xu hướng gia tăng
cách biệt, vùng miền núi và dân tộc thiểu số đang còn những khó khăn,
thách thức rất lớn, trong đó văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số đang
đặt ra vấn đề giải quyết hài hoà giữa bảo tồn và phát triển, giữa kinh tế và
văn hoá.
Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn
hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”, đây là sự kiện quan trọng
tiếp tục thể hiện chính sách của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp bảo tồn và
phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương 5 khoá VIII.
2.2 Đối tượng của chính sách.
-

Đối tượng: Các dân tộc thiểu số rất ít người (gồm các dân tộc: Si La, Ơ Đu,

Brâu, Rơ Măm, Pu Péo (dưới 1.000 người), Cống, Mảng, Bố Y, Lô Lô, Cờ


Lao, Ngái (dưới 5.000 người), Lự, Pà Thẻn, Chứt, La Ha và La Hủ (dưới
10.000 người); các dân tộc thiểu số vùng di dân tái định cư để xây dựng các

+ Hỗ trợ bảo tồn, phát triển một số nghề truyền thống vùng đồng bào các
dân tộc thiểu số rất ít người, trong đó tập trung ưu tiên cho các dân tộc có số
dân dưới 1.000 người.
+ Hỗ trợ bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa, nghệ thuật truyền thống tiêu
biểu các dân tộc thiểu số rất ít người, trong đó tập trung ưu tiên cho các dân
tộc có số dân dưới 1.000 người. Tập trung nguồn lực hỗ trợ bảo tồn trang
phục truyền thống; tiếng nói, chữ viết của các dân tộc rất ít người. Tạo điều
kiện để các dân tộc bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống, tiếng nói, chữ
viết thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian, các hình thức giao
lưu văn hóa trên địa bàn và cấp khu vực, toàn quốc.
+ Hỗ trợ tăng cường năng lực của các chủ thể văn hóa, đề cao các nghệ
nhân, người có uy tín trong cộng đồng để họ nhận thức, tham gia với vai trò
then chốt trong việc tự bảo tồn và phát huy văn hóa của dân tộc mình thông
qua các hoạt động bồi dưỡng, tập huấn, trao truyền văn hóa dưới sự hướng
dẫn của các chuyên gia.


+ Hỗ trợ xây dựng các Câu lạc bộ văn hóa văn nghệ dân gian, nhà sinh hoạt
cộng đồng các dân tộc rất ít người.
- Đối với đối tượng hưởng lợi là vùng đồng bào các dân tộc di dân tái định
cư xây dựng các công trình thủy điện:
+ Kiểm kê, đánh giá thực trạng về văn hóa truyền thống, đời sống văn hóa
các dân tộc di dân tái định cư xây dựng các công trình thủy điện.
+ Hỗ trợ bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa, nghệ thuật truyền thống tiêu
biểu vùng đồng bào các dân tộc phải di dân tái định cư xây dựng các công
trình thủy điện.
+ Hỗ trợ tăng cường năng lực của các chủ thể văn hóa, đề cao các nghệ
nhân, người có uy tín trong cộng đồng để họ nhận thức, tham gia với vai trò
then chốt trong việc tự bảo tồn và phát huy văn hóa của dân tộc mình thông
qua các hoạt động bồi dưỡng, tập huấn, trao truyền văn hóa dưới sự hướng

cư xây dựng các công trình thủy điện:
+ Tiếp tục hỗ trợ bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa, nghệ thuật truyền
thống tiêu biểu các dân tộc, tập trung đầu tư bảo tồn các loại hình văn hóa,
văn nghệ dân gian truyền thống có nguy cơ mai một cao: Các loại hình ca
múa nhạc, các loại nhạc cụ truyền thống, lễ hội truyền thống tiêu biểu; tiếng
nói, chữ viết; trang phục truyền thống; bảo tồn, phát huy kiến thức dân gian
truyền thống, tri thức bản địa các dân tộc, tổ chức phục dựng không gian
diễn xướng văn hóa tiêu biểu của các số dân tộc tại nơi định cư mới.


+ Tiếp tục hỗ trợ tăng cường năng lực của các chủ thể văn hóa, đề cao các
nghệ nhân, người có uy tín trong cộng đồng để họ nhận thức, tham gia với
vai trò then chốt trong việc tự bảo tồn và phát huy văn hóa của dân tộc mình
thông qua các hoạt động bồi dưỡng, tập huấn, trao truyền văn hóa dưới sự
hướng dẫn của các chuyên gia.
+ Tiếp tục hỗ trợ xây dựng các Câu lạc bộ văn hóa văn nghệ dân gian các
dân tộc; hoàn thành mục tiêu mỗi thôn, bản có 01 đội văn nghệ truyền thống
để chủ thể văn hóa tự xây dựng, tổ chức hoạt động văn hóa cộng đồng tại
các thiết chế văn hóa cơ sở; hướng dẫn phục dựng bảo tồn các lễ hội dân
gian tiêu biểu trong đời sống cộng đồng các dân tộc thiểu số; Hỗ trợ kỹ năng
sử dụng tri thức bản địa trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường,
định hình, bảo tồn để phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân
tộc tại nơi định cư mới.
4. Sự tác động của chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam đến sự phát triển xã hội.
4.1 Nội dung chính sách theo đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân
tộc thiểu số Việt Nam.
(nguồn : />-

Kiểm kê, đánh giá thực trạng về di sản văn hóa, đời sống văn hóa của các

gian của các dân tộc; tiếng nói, chữ viết; trang phục truyền thống; bảo tồn,
phát huy kiến thức dân gian truyền thống; phong tục, tập quán, văn hóa ẩm
thực, tri thức bản địa các dân tộc thiểu số, các loại nhạc cụ dân tộc, nghệ
thuật kiến trúc, hội họa, phục dựng không gian diễn xướng văn hóa tiêu biểu


của các dân tộc.
- Tăng cường năng lực của các chủ thể văn hóa, đề cao các nghệ nhân, người
có uy tín trong cộng đồng để họ nhận thức, tham gia với vai trò then chốt
trong việc tự bảo tồn và phát huy văn hóa của dân tộc mình thông qua các
hoạt động bồi dưỡng, tập huấn dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia.
- Xây dựng các Câu lạc bộ văn hóa văn nghệ dân gian các dân tộc rất ít
người, các dân tộc vùng di dân tái định cư xây dựng các công trình thủy
điện, trong đó tập trung hỗ trợ: Truyền dạy và phát huy các giá trị văn hóa,
nghệ thuật truyền thống dân tộc của cộng đồng, nghệ nhân; phát triển đội
ngũ nghệ nhân tại cơ sở (cấp huyện, xã, thôn/bản) sưu tầm, phổ biến các giá
trị văn hóa truyền thống tiêu biểu trong cộng đồng; xây dựng mỗi thôn, bản
01 đội văn nghệ truyền thống để chủ thể văn hóa tự xây dựng, tổ chức hoạt
động văn hóa cộng đồng tại các thiết chế văn hóa cơ sở; hướng dẫn phục
dựng bảo tồn các lễ hội dân gian tiêu biểu trong đời sống cộng đồng các dân
tộc thiểu số; Hỗ trợ kỹ năng sử dụng tri thức bản địa trong bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên và môi trường để đảm bảo cho quá trình phát triển du lịch cộng
đồng bền vững.
Bảy giải pháp để thực hiện các mục tiêu,nhiệm vụ trọng tâm đã được đề ra,
trong đó giải pháp đột phá là đào tạo nhân lực nòng cốt cho bảo tồn, phát
huy văn hóa dân tộc ở các cấp huyện, tỉnh. Gắn bảo tồn, phát triển văn hóa
dân tộc với phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn, ở địa phương; đảm bảo mối
quan hệ hài hòa giữa phát triển văn hóa và kinh tế, hài hòa giữa bảo tồn, phát
huy và phát triển. Và 6 Dự án đã được định hướng xác lập đảm bảo tính
đồng bộ, hệ thống: Xây dựng Bộ chỉ số phát triển văn hóa các dân tộc thiểu



Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá, tập trung có trọng tâm, trọng
điểm, lồng ghép, kết hợp với các chương trình, dự án có liên quan đến vùng
đồng bào dân tộc thiểu số để gắn kết tạo sức mạnh tổng hợp phát triển kinh
tế-văn hoá.
Giai đoạn trước mắt từ nay đến năm 2015, Đề án sẽ tập trung vào các nhiệm
vụ: Xây dựng Bộ chỉ số phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến
năm 2020; Tổng kiểm kê các di sản văn hoá tiêu biểu của các dân tộc thiểu
số; Hỗ trợ bảo tồn khẩn cấp văn hóa các dân tộc thiểu số có số dân rất ít
người (dưới 5.000 người); Ưu tiên đào tạo đội ngũ cán bộ là con em người
dân tộc thiểu số làm công tác văn hoá; Hỗ trợ truyền dạy và phát huy các giá
trị văn hoá, nghệ thuật truyền thống dân tộc của cộng đồng, nghệ nhân; Từng
bước phát huy hiệu quả sử dụng hệ thống các thiết chế văn hoá cơ sở, nâng
cao mức hưởng thụ văn hóa cho đồng bào các dân tộc thiểu số; Bước đầu
đưa giáo dục văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vào các trường học
trên địa bàn; Xây dựng cơ chế, chính sách và giải pháp nâng cao hưởng thụ
và hoạt động văn hoá của nhân dân vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,
vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
4.2 Sự tác động của chính sách đến sự phát triển xã hội.
Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm
2020” tập trung bảo tồn khẩn cấp, nâng cao năng lực tự bảo vệ trước nguy
cơ mai một văn hoá của các dân tộc thiểu số rất ít người, tạo điều kiện phát
huy văn hoá các dân tộc thiểu số có số dân đông. Nó đã phát huy tối đa năng
lực của những người có uy tín như già làng, trưởng bản, các nghệ nhân
người DTTS
Văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng
của nền văn hoá Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Cùng với xu



xây dựng thể chế và thiết chế văn hoá đã chú ý đến những yêu cầu của thời
kỳ mới. Các thiết chế văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu,
vùng xa, biên giới, hải đảo được tăng cường cơ sở vật chất, tổ chức và hoạt
động bước đầu đã có sự đổi mới, phát huy được hiệu quả.
Ở các làng, bản, buôn, phum, sóc, thôn… vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã
được Nhà nước quan tâm hỗ trợ để xây dựng các Nhà văn hoá, Nhà Rông,
Nhà Gươl văn hoá… làm nơi sinh hoạt, tổ chức các hoạt động văn hoá - văn
nghệ và hội họp chung của cộng đồng; Công tác đào tạo đội ngũ những
người hoạt động văn hoá, nghệ thuật vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng xa được chú trọng bước đầu; Một số di sản văn hoá của vùng đồng
bào các dân tộc thiểu số được tôn vinh, đặc biệt Không gian văn hóa Cồng
chiêng Tây Nguyên được Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên
Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện
nhân loại; Tăng cường giao lưu văn hoá qua các hoạt động mang tính chất
vùng, miền góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, góp phần
củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đó là các Ngày hội văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Ngày hội
văn hóa dân tộc Mông, dân tộc Chăm, dân tộc Khmer… Tạo điều kiện để
đồng bào các dân tộc thiểu số được giao lưu, học hỏi, tăng cường hiểu biết
lẫn nhau, thắt chặt tình đoàn kết các dân tộc, đồng thời với việc làm cho
nhiều giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc tiếp tục được khơi
dậy, bảo tồn và phát huy trong đời sống cộng đồng.
Tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS là vấn đề
được đề cao trong Đề án "Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam"


Nhờ có đề án , người Mường ở Nho Quan hiện vẫn còn lưu giữ được những
nét văn hóa đặc sắc của dân tộc như: Văn hóa cồng chiêng, hát đúm, hát ru,
hát sắc bùa.
Trong những năm qua, quán triệt và nhận thức sâu sắc quan điểm “văn hóa

phần quan trọng vào việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về
“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc” và sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Bên cạnh những thành tựu đáng kể đã đạt được trong lĩnh vực văn hoá ở
vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thời gian qua cũng còn nhiều vấn đề cấp
bách cần khắc phục, những nhu cầu bức thiết cần phải giải quyết. Đời sống
kinh tế- xã hội của các dân tộc thiểu số rất ít người (dưới 5.000 người và
dưới 10.000 người) đều rất khó khăn so với các dân tộc có số dân đông hơn.
Trong đó, vấn đề đặc biệt cấp bách đặt ra là bản sắc văn hóa của các tộc
người này bị mai một nhanh chóng. Thậm chí có dân tộc (như người Ơ Đu)
ít tìm được các nét văn hóa đặc trưng.
Còn chưa thể hiện rõ vai trò và tầm quan trọng của văn hóa/chính sách văn
hóa đối với các chính sách cũng như biện pháp phát triển kinh tế- xã hội ở
vùng các dân tộc thiểu số và đối với các dân tộc thiểu số; Sự chênh lệch về
hưởng thụ văn hoá còn lớn: Ở nhiều vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng, kháng chiến
trước đây, vùng biên giới, hải đảo, hoạt động văn hoá còn nghèo nàn, sự
chênh lệch về hưởng thụ văn hoá so với thành thị còn lớn; Đầu tư của Nhà


nước cho bảo tồn văn hoá còn thấp và manh mún, đặc biệt đầu tư bảo tồn và
phát triển văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
(nguồn: />name=Content&op=details&mid=117455203)
Việc huy động các nguồn vốn khác đầu tư cho văn hoá rất hạn chế do chính
sách khuyến khích chưa cụ thể và thiết thực; Vai trò của chủ thể, của người
dân, của cộng đồng chưa được phát huy và đặt đúng vị trí trong việc lập kế
hoạch, xây dựng dự án cũng như triển khai, tổ chức quản lý, giám sát các dự
án từ cơ sở đối với các dự án nói chung và các chương trình, dự án về văn
hoá, ảnh hưởng tới chất lượng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của
các dân tộc thiểu số Việt Nam; Đội ngũ cán bộ quản lý và làm công tác văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status