BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN DANH HÀO
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỆ THỦY,
TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN DANH HÀO
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Đặng Khắc Ánh – người
hướng dẫn khoa học, đã tận tình dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Tôi xin chân
thành cảm ơn Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Lệ Thủy cùng các phòng ban của
huyện đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình khảo sát, thu thập số liệu phục vụ
cho quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lớp HC20.T4 – Cơ sở Học viện Hành
chính khu vực miền Trung, các đông nghiệp, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện
thuận lợi, giúp đơc tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tuy đã có nhiều cố gắng , nhưng do hạn chế về thời gian và khả năng
nghiên cứu nên trong luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý
thầy giáo, cô giáo các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài tiếp tục có
những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn./.
Học viên
Nguyễn Danh Hào
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH AN
SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ ............................ 8
1.1An sinh xã hội và thực thi chính sách an sinh xã hội................................ 8
1.1.1Khái niệm an sinh xã hội ...................................................................... 8
1.1.2Bản chất và tính tất yếu của chính sách an sinh xã hội ....................... 10
1.1.3 Vai trò của hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với người dân tộc
2.3.4. Thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội đối với dân tộc thiểu số .......... 56
2.3.5. Thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế đối với dân tộc thiểu số .............. 57
2.4 Đánh giá tình hình thực hiện chính sách ASXH đối với DTTS trên địa
bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2015 ..................... 59
2.4.1 Bối cảnh thực thi hệ thống ASXH đối với đồng bào DTTS trên địa bàn
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng bình. ................................................................ 59
2.4.2 Kết quả đạt được ............................................................................... 61
2.4.3 Những tồn tại, hạn chế ....................................................................... 62
2.4.4. Nguyên nhân của những thành công và hạn chế .................................. 65
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
VIỆC THỰC HIỆN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI
DÂN TỘC TIỂU SỐ Ở HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
.................................................................................................................................. 70
3.1. Quan điểm định hướng.......................................................................... 70
3.1.1. Quan điểm định hướng của Đảng ....................................................... 70
3.1.2. Quan điểm định hướng về chính sách An sinh xã hội đối với DTTS trên
địa bàn huyện Lệ Thủy ................................................................................ 75
3.2. Những giải pháp cụ thể ......................................................................... 79
3.2.1. Đối với chính sách ưu đãi người có công, thương bệnh binh, gia đình
chính sách thuộc đối tượng dân tộc thiểu số ................................................ 79
3.2.2. Chính sách Bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi, người cao tuổi cô
đơn; trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi, nạn nhân chất độc da cam và người tàn tật là
người dân tộc thiểu số ................................................................................ 82
3.2.3. Chính sách xóa đói, giảm nghèo đối với dân tộc thiểu số .................... 85
3.2.4. Chính sách Bảo hiểm xã hội đối với dân tộc thiểu số ......................... 87
3.2.5. Chính sách Bảo hiểm y tế đối với dân tộc thiểu số .............................. 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................... 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
2.1
Tên Bảng
Số lượng đối tượng và kinh phí hỗ trợ chính sách
Trang
53
trợ giúp các đối tượng BTXH đối với người khuyết
tật là người đồng bào DTTS trong 5 năm qua.
2.2
Tốc độ giảm nghèo trên địa bàn huyện Lệ Thủy,
54
tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2015
2.3
Đối tượng dân tộc thiểu số tham gia BHYT từ 2011
– 2015
59
DANH MỤC SƠ ĐỒ
phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững"
[2, tr.124]..
Bên cạnh những thành công đó, nước ta đang phải đối mặt với những
khó khăn về lĩnh vực xã hội. Đặc biệt, là một nước nông nghiệp với gần 80%
dân cư sống ở khu vực nông thôn, nhưng đến nay nông thôn nước ta vẩn còn
nghèo, nông dân vẩn còn khổ, nền nông nghiệp vẩn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tình
trạng thất nghiệp thiếu công ăn việc làm của người lao động còn khá phổ
biến, khoảng cách thu nhập vẩn chưa được thu hẹp, tình trạng đói nghèo và tái
1
nghèo vẩn chưa được giải quyết một cách bền vững, phân hóa xã hội ngày
càng sâu sắc, ASXH còn nhiều khó khăn đặc biệt là ASXH cho người DTTS.
Những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách
để giải quyết những khó khăn trên, song đây vẩn là vấn đề phức tạp, trong đó
ASXH đối với người DTTS là vấn đề bức xúc nhất. Mấu chốt của vấn đề là ở
chổ người DTTS có thu hập rất thấp, đời sống hiện tại còn rất khó khăn, hệ
thống ASXH đối với dân tộc thiểu số chưa được thực hiện đầy đủ về chiều
rộng lẩn chiều sâu. Chính điều đó làm cho họ dễ bị tổn thương khi có những
biến đổi trong cuộc sống như ốm đau, bệnh tật, thiên tai…, xảy ra. Hậu quả là
họ lâm vào đói nghèo.
Huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng bình có 02 dân tộc thiểu số chủ yếu đó là:
Dân tộc Bru – Vân Kiều và dân tộc Khùa với 1.268 hộ, 5.300 khẩu sinh sống
tập trung chủ yếu ở 3 xã với 25 bản. Đời sống của người DTTS ở đây còn
nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình có nguy cơ tái
nghèo là rất cao. Chính sách ASXH ở đây tuy đã được quan tâm nhưng vẩn
còn nhiều hạn chế. Tình trạng người DTTS ở đây thất nghiệp và không có
việc làm còn phổ biến, người dân ở đây chủ yếu là làm rẩy nên hiệu quả chưa
cao. Các chính sách hỗ trợ cho người DTTS đang mang tính tức thời, chưa có
đồng ở Việt Nam, luận án ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam cũng đưa ra những quan điểm và phương hướng phát triển
hệ thống ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế ở nước ta hiện nay
và trong những năm tới.
Song song với các đề tài cấp Nhà nước thì có nhiều nghiên cứu khoa
học liên quan đến vấn đề ASXH được đăng trên các tạp chí, diển đàn khoa
học và có thể kể đến các chuyên đề nghiên cứu sau:
Nguyễn Trọng Đàm, Thứ trưởng Bộ Lao Động Thương Binh và Xã
hội;Hoàn thiện chính sách ASXH phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước. Được đăng trên tạp chí cộng sản (2015).
3
Thạc sỹ Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thạc sỹ Đặng Đỗ Quyên; Đánh giá
thực trạng chính sách ASXH đối với DTTS ở Việt Nam.
Thạc sỹ Nguyễn Văn Chiều; ASXH và định hướng nghiên cứu nhằm
nâng cao vai trò của khoa học xã hội vào quá trình hoach định chính sách
ASXH ở Việt Nam.
“ Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho người dân tộc Cơ tu
trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam” của học viên Nguyễn Xuân
Chiêm, khóa 17, Học viện Hành chính quốc gia.
“Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa của bàn quận Hải Châu,
Thành phố Đà Nẵng” của học viên Lương Vĩnh Thái, khóa 16, Học viện
Hành chính quốc gia.
Các nghiên cứu trên đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn và
thực hiện chính sách ASXH và các nội dung liên quan đến ASXH. Đồng thời,
các nghiên cứu này đã tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng,
những kết quả đạt được và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách
ASXH tại địa bàn nghiên cứu. Trên cơ sở đó, các nghiên cứu này đã đề ra các
DTTS dựa trên quan điểm của Đảng và các quy định của nhà nước ta.
+ Phân tích thực trạng thực hiện chính sách ASXH đối với người DTTS
ở huyện Lệ Thủy.
+ Đề xuất phương hướng, giải pháp xây hoàn thiện việc thực thi chính
sách ASXH đối với người DTTS ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử. Trên cơ sở phương pháp luận đó, trong nghiên cứu
sử dụng:
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp để thu thập số liệu về thực trạng
thực hiện chính sách ASXH đối với DTTS trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh
Quảng Bình. Sử dụng phương pháp tư duy Logic, tổng hợp quy nạp, diển giải
5
trong quá trình nghiên cứu việc thực hiện ASXH đối với DTTS ở huyện Lệ
Thủy.
- Phương pháp ngiên cứu tài liệu điều tra, khảo sát, thu thập số liệu
thống kê và phân tích…, của các đề tài, dự án , công trình nghiên cứu đã được
công bố về vấn đề liên quan để đề xuất các giải pháp trong việc thực hiện
chính sách ASXH đối với DTTS ở huyện Lệ Thủy trong giai đoạn tới.
- Trong quá trình thực hiện luận văn sử dụng thống kê định lượng và
phân tích định tính. Tùy vào tính chất của từng chương, từng phần để sử
dụng một trong các phương pháp trên làm chủ đạo.
6. Ý nghĩa luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
xây dựng và thực hiện chính sách ASXH đối với người DTTS trong giai
đoạn hiên nay.
Khái quát thực trạng việc thực hiện chính sách ASXH đối với người
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1
An sinh xã hội và thực thi chính sách an sinh xã hội
1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội
ASXH là khái niệm được ra đời ở các nước công nghiệp phát triển từ
cuối thế kỷ XIX và hiện nay đã phát triển rộng khắp trên toàn thế giới. ASXH
là khái niệm có nội dung rộng và ngày càng được hoàn thiện về phạm vi, đối
tượng và chức năng. Theo một số tổ chức của thế giới thì ASXH được hiểu như
sau:
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): "ASXH là sự bảo vệ mà xã hội
cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp
dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, cú sốc về kinh tế và xã hội
làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản,
thương tật do lao động hoặc tử vong. Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho
các gia đình có nạn nhân trẻ em". Định nghĩa nhấn mạnh khía cạnh phân phối
phúc lợi, bảo hiểm và mở rộng việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế
không chính thức. [30, Tr.3]
Theo Ngân hàng Thế giới (WB): "ASXH là những biện pháp công cộng
nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế
được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những
bấp bênh thu nhập". Định nghĩa này nhấn mạnh đến các giải pháp nhằm kiềm
chế nguy cơ làm giảm thu nhập của các cá nhân, gia đình và cộng đồng. [30, Tr6]
Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): "ASXH là các chính sách,
chương trình giảm nghèo và sự giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả
thị trường lao động, giảm thiểu rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của
8
các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên
nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và
chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
1.1.2 Bản chất và tính tất yếu của chính sách an sinh xã hội
Chính sách ASXH là hệ thống các chính sách do nhà nước ban hành
để thực hiện các mục tiêu ASXH
Theo khái niệm an sinh xã hội ở trên, có thể thấy:
- ASXH trước hết đó là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên
của mình.
- Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng.
- Mục đích của sự bảo vệ này nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội
trước những biến cố, những “ rủi ro xã hội” dẫn đến bị giảm hoặc mất thu
nhập….
Như vậy, có thể nói bản chất sâu xa của ASXH là góp phần đảm bảo
thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt
động là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho
mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu
sắc. Có thể thấy rõ bản chất của ASXH từ những khía cạnh sau:
* ASXH là biểu hiện rõ rệt của quyền con người đã được Liên
hợp quốc thừa nhận.
Để thấy rõ bản chất của ASXH, cần hiểu rõ mục tiêu của nó. Mục tiêu
của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho
tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị
mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do
nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi chung
là những biến cố và những “rủi ro xã hội”. Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều
tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện
11
“yếu thế” hơn (hiểu một cách tương đối, biện chứng nhất – TG) trong cộng
đồng xã hội.
Như vậy, có thể thấy rõ bản chất của ASXH là nhằm che chắn, bảo vệ
cho các thành viên của xã hội trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi.
* ASXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp.
Mỗi người trong xã hội từ những địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo
khác nhau… là những hiểu hiện khác nhau của một hệ thống giá trị xã hội.
Nhưng vượt lên trên tất cả, với tư cách là một công dân, họ phải được bảo
đảm mọi mặt để phát huy đầy đủ những khả năng của mình, không phân biệt
địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo. ASXH tạo cho những người bất hạnh,
những người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm
những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những “biến cố”,
những “rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, hoà nhập vào cộng đồng.
ASXH kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, kể cả những
người giàu và người nghèo; người may mắn và người kém may mắn, giúp
họ hướng tới những chuẩn mực của Chân – Thiện – Mỹ. Nhờ đó, một mặt có
thể chống thói ỷ lại vào xã hội; mặt khác, có thể chống lại được tư tưởng
mạnh ai nấy lo, “đèn nhà ai nhà ấy rạng”… ASXH là yếu tố tạo nên sự hòa
đồng mọi người không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí xã
hội… Đồng thời, giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo
nên một cuộc sống công bằng, bình yên.
* ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương
thân tương ái của cộng đồng.
Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những nhân
tố để ổn định và phát triển xã hội. Sự san sẻ trong cộng đồng, giúp đỡ những
người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, bảo
đảm cho một xã hội phát triển lành mạnh.
dụng lao động (kể cả Nhà nước) đóng cho hoàn toàn. Hệ thống trợ cấp cũng lưu
13
ý tới những người có thu nhập thấp (tỷ lệ trợ cấp cao hơn so với những người có
thu nhập cao). Sự phân phối theo chiều ngang và theo chiều dọc đã tạo ra một
lưới ASXH (social safety net hoặc social security net).
Hai là: ASXH góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Đến nay người ta đã
ý thức được rằng, sự phát triển của xã hội là một quá trình, trong đó các
nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau. Sự phát
triển của thế giới trong những năm gần đây đặt ra mục tiêu là bảo đảm
những cải thiện nhất định cho hạnh phúc của mỗi người và đem lại những
lợi ích cho mọi người; bảo đảm phân phối công bằng hơn về thu nhập và của
cải, tiến tới công bằng xã hội; đạt được hiệu quả sản xuất, bảo đảm việc làm,
mở rộng và cải thiện về thu nhập giáo dục và y tế cộng đồng; giữ gìn và bảo
vệ môi trường… Đáp ứng những nhu cầu tối cần thiết cho những người gặp
khó khăn, bất hạnh là vấn đề được ưu tiên trong chiến lược phát triển của thế
giới. Những lưới đầu tiên của ASXH đã bảo vệ, giảm bớt sự khó khăn cho
họ. Sự phát triển sau này của những lưới khác tạo ra sự đa dạng trong
ASXH, giải quyết được những nhu cầu khác nhau của nhiều nhóm người
trong những trường hợp “rủi ro xã hội”. Tuy nhiên, phải thấy rằng, ASXH
không loại trừ được sự nghèo túng mà chỉ có tác dụng góp phần đẩy lùi
nghèo túng, góp phần vào việc thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Ba là: ASXH là một tất yếu khách quan trong cuộc sống xã hội loài
người. Trong bất kỳ xã hội nào, ở bất cứ giai đoạn phát triển nào cũng đều
có những nhóm dân cư, những đối tượng rơi vào tình trạng không thể tự lo
liệu được cuộc sống, hoặc trong cảnh gặp sự cố nào đó trở thành những
người “yếu thế” trong xã hội. Nếu trong xã hội có những nhóm người “yếu
thế”, những người gặp rủi ro, bất hạnh thì cũng chính trong xã hội đó lại nảy
hiện chức năng "chuyển giao xã hội", tức là những công cụ, những biện pháp
phân phối lại tiền bạc, của cải và các dịch vụ xã hội có lợi cho những nhóm
người "yếu thế" hơn. Thực hiện chính sách ASXH đã trở thành chức năng cơ
15