Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc thái ở huyện yên châu, tỉnh sơn la trong giai đoạn hiện nay - Pdf 39

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và gửi lời
biết ơn chân thành nhất tới cô giáo – Thạc sĩ Giáp Thị Dịu, giảng viên khoa Lí Luận
Chính Trị, trường Đại học Tây Bắc người đã hướng dẫn và giúp đỡ em tận tình trong
suốt quá trình thực hiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Phòng khoa học, Ban chủ nhiệm khoa Lí
Luận Chính Trị, thư viện trường Đại học Tây Bắc và các bạn sinh viên lớp k52 Đại học
giáo dục Chính Trị trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện, động viên và khuyến khích em
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin trân thành cảm ơn các cơ quan ban ngành đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về tài liệu để
phục vụ cho đề tài: phòng dân tộc huyện Yên Châu, phòng Văn Hóa huyện Yên Châu.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2015
Tác giả:

Hà Đức Anh


DANH MỤC VIẾT TẮT

Nxb :

Nhà xuất bản.

PGS :

Phó giáo sư.

CNH :


2. Tình hình nghiên cứu đề tài ..........................................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ..........................................................3
3.1 Mục đích nghiên cứu: .................................................................................................3
3.2 Nhiệm vụ:....................................................................................................................3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................3
4.1 Đối tượng nghiên cứu: ................................................................................................ 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu: ...................................................................................................3
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ...................................................................3
5.1 Cơ sở lý luận: ..............................................................................................................3
5.2 Phương pháp nghiên cứu: ...........................................................................................4
6. Đóng góp khoa học của luận văn .................................................................................4
7. Ý nghĩa của luận văn ....................................................................................................4
8. Kết cấu của luận văn .....................................................................................................4
CHƯƠNG 1: BẢN SẮC VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC THÁI TÍNH TẤT YẾU KHÁCH
QUAN CỦA VIỆC KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY NÓ .......................................................5
1.1. Bản sắc văn hóa của dân tộc Thái .............................................................................5
1.1.1. Một vài nét về lịch sử dân tộc Thái ........................................................................5
1.1.1.1. Lịch sử tộc người Thái........................................................................................5
1.1.1.2. Người Thái ở Yên Châu ......................................................................................6
1.1.2. Văn hóa của dân tộc Thái. ......................................................................................6
1.1.2.1. Văn hóa và bản sắc văn hóa. ....................................................................................6
1.1.2.2. Văn hóa của dân tộc Thái ....................................................................................8
1.1.2.3. Bản sắc của văn hóa dân tộc Thái. ....................................................................22
1.2. Tính tất yếu khách quan của việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc
Thái..................................................................................................................................23
1.2.1. Tính tất yếu khách quan của việc kế thừa ............................................................ 23
1.2.2. Sự cần thiết phải kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái trong giai
đoạn hiện nay ..................................................................................................................25



Văn hóa vốn gắn liền với toàn bộ cuộc sống và với sự phát triển của xã hội. Con
người ra đời cùng với văn hóa, trưởng thành nhờ văn hóa, hướng tới tương lai cũng từ
văn hóa. Văn hóa của một dân tộc trước hết thể hiện ở bản sắc của dân tộc ấy. Bản sắc
dân tộc thể hiện trong hệ giá trị của văn hóa dân tộc, nó biểu hiện và định hướng cho
sự lựa chọn trong hành động của con người. Những giá trị văn hóa là thước đo trình độ
phát triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc “Một dân tộc thiếu văn hóa chưa phải là
một dân tộc thật sự hình thành, một nền văn hóa không có bản sắc dân tộc thì nền văn
hóa ấy không có sức sống thật sự của nó” [3.16].
Những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến đổi. Xu thế toàn cầu hóa
đang diễn ra lôi cuốn tất cả các nước trên thế giới. Việt Nam cũng như tất cả các quốc
gia khác không thể không tham gia vào xu thế đấy. Kinh tế thị trường với những ưu
điểm và mặt trái của nó, có ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hóa truyền thống của
các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có văn hóa của dân tộc
Thái ở Yên Châu. Bên cạnh những giá trị tốt đẹp trong văn hóa truyền thống của
người Thái, còn có những yếu tố không còn phù hợp với sự phát triển của thời đại.
Trước sự tác động của cơ chế thị trường, của mở rộng hội nhập quốc tế và giao lưu
văn hóa hiện nay, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người Thái nói chung, và
người Thái ở Yên Châu nói riêng đang bị mai một, pha trộn, lai căng, không còn
giữ được bản sắc. Vấn đề khác quan trọng hơn cả, đó là chúng ta đang phấn đấu để
có được sự bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, các vùng miền trên cả nước. Để
đạt được điều này phải kết hợp nhiều yếu tố, trong đó văn hóa chiếm vai trò, vị trí
hết sức quan trọng, không thể có bình đẳng dân tộc nếu như không giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta, bởi lẽ: "Vấn đề dân tộc là vấn
đề văn hóa, đừng tìm vấn đề dân tộc ở chỗ khác" [7.10].
Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, để đóng góp phần công sức
nhỏ bé vào mục tiêu của cả nước nói chung, và huyện Yên Châu nói riêng, tôi chọn
vấn đề “Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Huyện Yên
Châu, tỉnh Sơn La Trong giai đoạn hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.

1

Yên Châu mà chủ yếu khai thác một cách có hệ thống, ở khía cạnh triết học những giá
trị văn hóa tạo nên "Bản sắc văn hóa" của dân tộc Thái ở Yên Châu nhằm kế thừa và
phát huy nó trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận:
Thực hiện đề tài này, chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa và
chính sách phát triển văn hóa, nhất là quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức
xã hội; đồng thời có tham khảo một số công trình nghiên cứu.
3


5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch,
điều tra, so sánh... nhằm thực hiện mục đích mà đề tài đặt ra.
6. Đóng góp khoa học của luận văn
Đề tài góp phần làm rõ thêm những nét đặc sắc của tộc Thái ở Yên Châu; phân
tích và hệ thống hóa các giá trị văn hóa của dân tộc Thái dưới góc độ triết học. Qua
đó đưa ra những giải pháp cơ bản và thiết thực nhằm kế thừa và phát huy bản sắc
văn hóa của dân tộc Thái ở Yên Châu trong giai đoạn hiện nay.
7. Ý nghĩa của luận văn
Đề tài giúp phần nào thấy được tầm quan trọng của bản sắc văn hóa của dân tộc
Thái nói chung và dân tộc Thái ở huyện Yên Châu nói riêng, và khẳng định ý nghĩa
những giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa và kế thừa nó.
Đề tài có thể làm tài liệu nghiên cứu cho việc hoạch định chính sách và quản lý
văn hóa ở Yên Châu.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Đề tài
gồm 2 chương, 4 tiết.

trai, khi khôn lớn thì năm mươi con trai theo cha xuống biển và năm mươi con trai
theo mẹ về núi” [12. 23]. Từ đây, ta có thể hình dung được bức tranh về sự hình
thành, và phát triển văn hóa cội nguồn của hai nhánh. Người thuộc nhóm nói tiếng
Thái có liên hệ với Người Việt (Kinh) trong lịch sử hàng ngàn năm hình thành và
phát triển:
Trong khi Mẹ thủy tổ hay thần Mẹ của nhánh người Thái Trắng ở cùng nhóm
nữ với bà Âu Cơ trong tập đoàn người mang biểu tượng Chim - cạn thì Mẹ thủy tổ,
hay thần Mẹ của ngành người Thái Đen sẽ ở nhóm Nữ của tập đoàn người có đại diện
nhóm Nam là ông Lạc Long Quân mang biểu tượng Rồng - nước. Ngược lại, Cha thủy
tổ hay thần Cha của ngành người Thái Trắng cùng nhóm Nam là ông Lạc Long Quân
5


mang biểu tượng Rồng Nước thì Cha của nhánh Thái Đen sẽ ở nhóm Nam có đại diện
nhóm Nữ là Bà Âu Cơ trong tập đoàn người mang biểu tượng Chim - cạn [24].
Dân tộc Thái chia thành nhiều nhánh, mỗi nhánh lại chia thành nhiều nhóm
khác nhau:
Lịch sử phát triển của người Thái theo con đường dích dắc qua hàng ngàn năm,
nhưng với người trong nhóm nói tiếng Thái vẫn giữ mạch tư duy văn hóa lưỡng phân,
lưỡng hợp để tưởng nhớ quê cha đất tổ xa xưa nhất.
1.1.1.2. Người Thái ở Yên Châu
Vào thế kỉ thứ XIII, tương đương với thời kì người thái di cư từ nước Lào sang
địa bàn Mường Sang (Mộc Châu), Yên Châu có tên gọi là Mường Vạt. Khi ấy, trung
tâm Mường Vạt đóng ở Chiêng Khoóng (nay thuộc tiểu khu 5 thị trấn Yên Châu) nên
Mường Vạt còn có tên gọi là Chiềng Khoóng. Ngoài ra, Mường Vạt cong có cách giải
thích nữa: Theo cuốn Người thái ở Tây Bắc Việt Nam của Cầm Trọng, người thái ngày
xưa theo Đạo Phật. Phật tiếng thái gọi là Vạt. Người Thái ở Yên Châu người ta gọi là
Thay Vạt. Trung tâm Mường Vạt là bản Mương Vạt nên có thể gọi Vạt tức là người tứ
đất Phật (Vạt) và theo đạo Phật (Mường Vạt là mường của người từ đất Phật sang).
Dân tộc Thái chia thành nhiều nhánh:

văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác, là cái để xác định bản sắc
văn hóa của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền thống, phong tục, tập quán, lối
sống của một dân tộc trên nền tảng các giá trị chân, thiện, mỹ” [20.19]
Có thể nói, giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc như là “mật mã di truyền
xã hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc đó, đã được tích lũy
lắng đọng trong quá trình hoạt động của mình. Chính quá trình đó đã hình thành nên
bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ. Cộng đồng sẽ bền vững khi nó trở thành dân tộc.
Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa, bởi: “Nói đến văn hóa là
nói đến dân tộc; một dân tộc đánh mất truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân
tộc ấy sẽ mất tất cả” [21.13]. Một dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc ấy đã đánh
mất chính mình, một nền văn hóa có tính dân tộc, là nền văn hóa mang đầy đủ bản sắc
của dân tộc. Chính vì vậy, việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc
văn hóa của dân tộc, là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn vong của mỗi
dân tộc.
- Bản sắc văn hóa:
Theo từ điển Tiếng Việt, bản sắc chỉ tính chất, mầu sắc riêng, tạo thành phẩm
cách đặc biệt của một vật [13].
Bản sắc văn hóa có thể hiểu là cái cốt lõi, nội dung, bản chất của một nền văn
hóa cụ thể nào đó, là những nét văn hóa riêng có của nền văn hóa một dân tộc. Những
nét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, vật thể
7


và phi vật thể. Các giá trị văn hóa này ra đời gắn với chính điều kiện môi sinh mà dân
tộc ấy thích nghi và phát triển qua các giai đoạn phát triển khác nhau của một dân tộc.
Những giá trị văn hóa ấy, cho dù có trải qua những thăng trầm, biến cố của lịch sử nó
không những không mất đi, mà cùng với thời gian, nó còn tiếp nhận những cái hay, cái
đẹp, cái phù hợp của văn hóa các dân tộc khác làm phong phú, đặc sắc hơn cho văn
hóa dân tộc mình, làm cho nó là nó chứ không phải là cái khác. Khi nói đến một trong
những nét đặc trưng văn hóa ấy, người ta có thể dễ dàng nhận ra đó là dân tộc nào mà

Trước hết, nói đến văn hóa của dân tộc Thái là phải nói đến một loại hình văn
hóa thung lũng. Bởi lẽ, với những đặc điểm đặc thù về điều kiện tự nhiên của miền
Tây Bắc đã hình thành nên một nền văn hóa tương ứng, đó là loại hình văn hóa thung
lũng.
Nói đến văn hóa thung lũng, nghĩa là muốn nói đến mối quan hệ giữa tộc người
này với môi trường sinh sống là thung lũng lòng chảo. Điều này cũng nói lên khả năng
thích nghi của con người với tự nhiên bằng văn hóa của mình. Văn hóa thung lũng của
dân tộc Thái có các đặc trưng sau:
Cảnh quan địa lý là những thung lũng lòng chảo lọt vào vùng núi cao, rừng sâu,
dầy khe, vực, sông suối cắt xẻ địa hình. Khí hậu hai mùa rõ rệt.
Vùng sườn dốc nằm ở vành đai của các lòng chảo thì làm nương theo các
phương pháp phát, đốt, chọc lỗ, tra hạt, có tác dụng bổ sung vào hệ thống trồng trọt.
Đây là đặc trưng chủ yếu nhất trong toàn bộ hệ thống văn hóa thung lũng của dân tộc.
Đây là nền văn hóa tiền công nghiệp, được hình thành từ lao động tự cung tự cấp,
chưa đạt tới trình độ trong đó chứa đầy chất men cần thiết để kích thích sự phát triển
xã hội.
Tóm lại, người Thái là một trong những dân tộc có khả năng thổi vào tự nhiên một
sức sống mới khác với tự nó. Khả năng ấy chính là chiều dầy của văn hóa phát triển thành
truyền thống. Giờ đây, khi mà khoa học phát triển mạnh và thì liệu có thể giữ gìn và phát
huy được dòng truyền thống này không Điều này còn phụ thuộc vào khả năng phát huy
bản lĩnh và bản sắc dân tộc đã tạo ra được các mô hình thích nghi mới trong hệ sinh thái
nhân văn của mình.
- Các giá trị văn hóa vật chất:
+ Văn hóa nông nghiệp: Sống với điều kiện tự nhiên môi sinh có nhiều điểm đặc
thù cho nên, định hướng tác động trong khai thác tự nhiên truyền thống của người Thái
là đồng ruộng lòng chảo và nương rẫy trên sườn núi. Hàng ngàn năm nay, dân tộc này
đã có những biện pháp dẫn thuỷ nhập núi điền, đúc rút được tập quán làm thuỷ lợi
bằng biểu tượng ngôn ngữ (điều mà không phải bất cứ cộng đồng người làm ruộng nào
cũng làm được). Người Thái có bốn chữ nói lên bốn giải pháp: Mương, Phai, Lái, Lin.
Yếu tố đầu tiên trong văn hóa mưu sinh của tộc người Thái là việc làm ruộng nước, nó

chắc chắn, đủ sức chống nắng, mưa, gió, bão... Nếp nhà sàn là một đơn vị không gian
chứa đựng tế bào của xã hội. Đó có thể là một gia đình nhỏ gồm một cặp vợ chồng và
con cái chưa đến tuổi trưởng thành, cũng có thể là tổ hợp gia đình lớn có từ hai cặp vợ
chồng trở lên và đàn con cháu của họ. Dù gia đình nhỏ hay lớn, đều có một sự thống

10


nhất cộng đồng tộc người trong giải pháp nội thất xử lý phân chia mặt bằng thành khái
niệm:
Phân đôi không gian dọc theo chiều đòn nóc thành hai phần. Tục ngữ Thái có
câu “đầu gối đất, chân kề nước” quy định tập quán nơi ngủ thống nhất quay đầu về
sườn núi, đó cũng là “mé đầu” hay “phía trên” của thân nhà; duỗi chân về phía cánh
đồng hay dòng suối, sông con, đây là “mé chân” hay “ phía dưới”. Từ đó, nẩy sinh
việc bố trí, sắp xếp thành một nửa là các gian ngủ của gia đình. Trong nửa phía trên
(đầu) chủ nhà bao giờ cũng nằm kề sát gian thờ tổ tiên, tục gọi là “ngủ cài hóng”. Nếu
là gia đình lớn thì tiếp đó là gian ngủ theo thứ tự con cả đến con thứ…nửa phía dưới
(chân) là nơi để tiếp khách, đặt bếp núc và giành cho sinh hoạt ban ngày.
Phân đôi bổ ngang theo chiều quá giang. Một bên là cầu thang dẫn lên lan can đi
vào cửa chính bên hồi để vào nội thất. Đầu tiên sẽ thấy “phía trên” có gian thờ tổ tiên
như được giấu kín trong buồng có vách ngăn - hóng; đối diện ở phía dưới có khoang
gọi là “gian cửa sổ tựa” để ngồi tựa hóng mát, tiếp khách lạ và quý, đọc và viết lách
khi cần thiết. Giữa nhà, nơi giáp với chân chỗ ngủ của chủ nhà thường đặt thêm một
bếp để sum họp gia đình. Nửa này tính từ phía giữa gian nhà đổ về phía lan can hồi
được gọi là “quản”, quy định giành chủ yếu cho các sinh hoạt đàn ông. Một bên cầu
thang dẫn lên sàn phơi và nơi đặt nước dùng. Sàn phơi là nơi để thanh thiếu nữ ngồi
kéo sợi, làm vải và là nơi ngồi tâm tình cùng người yêu vào buổi tối. Qua cửa chính
vào nội thất ở “phía dưới” sẽ tiếp ngay với bếp ăn hàng ngày và đối diện về “phía trên”
là nơi trang điểm và sinh hoạt của phái đẹp - gọi là “cửa sổ gương”. Nửa này tính từ
giữa nhà đổ về phía sàn phơi gọi là “chan” quy định giành chủ yếu cho các sinh hoạt

Khung cửi Thái không thể dệt được vải khổ rộng quá 50 cm, cách đo vải thì tính
bằng đốt tay, nắm tay, khuỷu tay, một bên sải và sải tay. Cứ 4 sải thì được một đơn vị
gọi là Chầu, 10 chầu một đơn vị gọi là Ton. Khi đã có vải vóc, người phụ nữ Thái lại
phải đảm bảo biến các nguyên liệu này thành sản phẩm tiêu dùng, đáp ứng các yêu cầu
khác nhau của đời sống. Điều này đòi hỏi ở họ có sự hiểu biết để thể hiện làm sao cho
mỗi thành phẩm có thể chứa đựng được bản sắc văn hóa dân tộc mình...
+ Trang phục: Người khác dân tộc đã không sai khi đã nhận xét rằng, người Thái
là một cộng đồng tộc người biết mặc và mặc đẹp. Trang phục của họ phân biệt theo
giới; trang phục thường ngày với lễ phục; khi chết và để tang; lúc đi làm ngoài đồng,
nương rừng với ở nhà; mùa nóng bức với những tháng đông lạnh giá trong năm; hai độ
tuổi chưa thành niên với khi đã trưởng thành và khi nhắm mắt xuôi tay.
Nam giới: Cách ăn vận truyền thống của nam giới dân tộc Thái là: Khi đã lớn thì
mặc quần ta, không dải rút mà khâu cạp để thắt dây lưng, quần chỉ có hai loại quần dài và
quần đùi. Áo thì có hai kiểu: thường ngày và lễ phục.

12


Thường ngày, mặc áo cánh mang tên “mở lòng” có đính cúc hoặc khuy tết bằng
dây vải, hai bên sườn giáp hông có đường xẻ để thân áo không bị bó sát vào người, ở
đây người ta đính thêm vật trang trí, gọi là “quả chỉ”. Mặt trước ta thấy túi ở mé dưới
hai vạt. Nếu là áo người Thái Đen thì có thể có hoặc không túi ngực bên trái, nhưng áo
người Thái Trắng ở phía Bắc thì phải có. Không phân biệt Thái Đen hay Thái Trắng,
bộ quần áo nam phục thường ngày thường là màu đen.
Lễ phục, kiểu quần không đổi, nhưng người ta mặc áo dài, cắt theo kiểu xẻ nách
tương tự như áo dài của người Kinh.
Nữ giới: Trang phục nữ Thái đượm vẻ đẹp bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này
luôn chiếm ưu thế rõ rệt trong các nét văn hóa độc đáo của dân tộc Thái. Nó không
những đẹp về kiểu dáng mà hơn hết, nó còn làm tăng vẻ đẹp trời ban cho người phái
nữ: “Y phục Thái nổi tiếng bởi sự hài hòa giữa cái che và cái phô ra, giữa cái giản dị

lăn lại trên vai.
+ Văn hóa ẩm thực:
Ăn: Trong tiếng Thái, lương thực gọi là Khảu (dịch sang tiếng việt là lúa, gạo,
cơm). Nếu như người Kinh cơm xôi (cơm nếp) là thứ ăn lót dạ hoặc dùng trong các
nghi thức tập quán như cúng lễ, cưới xin...thì người Thái coi xôi là cơm ăn thường
ngày. Đây là một nét đặc trưng và in đậm trong văn hóa tộc người. Công thức ăn uống
của người Thái là: xôi đồ chấm chẻo, măng rau đồ, thịt cá nướng, cơm lam, thịt - cá
làm chua, lạp sống hoặc chín, gỏi, mọk…
Từ gạo chế biến thành cái ăn đã biểu hiện rõ bản sắc cộng đồng tộc người. Cách
chế biến cổ xưa hơn cả là cơm nếp lam, cơm lam có mùi hương sắc đặc biệt và hương
vị thơm ngon bổ dưỡng.
Lương thực chính là xôi nếp, nên dụng cụ bếp núc chính là ninh đồng hay chõ.
Chõ để xôi cơm thì lấy khúc thân cây gỗ để đục, và đồ rau thì làm bằng khúc cây
bương. Trong gia đình người Thái ninh đồng là một trong bốn thứ của gia truyền, và
theo tập quán thì chiếc chõ còn là vật chứa đựng “điều cấm kỵ”. Dùng với cơm xôi,
người Thái có hệ thực phẩm được chế biến từ ba nguồn gọi chung: Rau, cá, thịt lấy
trong thiên nhiên hoặc do con người sản xuất ra. Ngoài ra, cá thịt thường được chế
biến bằng cách nướng với các loại gia vị riêng tạo nên mùi vị thơm ngon, độc đáo
riêng có của món ăn dân tộc Thái mà ai đã thưởng thức một lần thì không bao giờ
quên.
Uống: Người Thái đã biết uống trà từ rất lâu, nhưng đáng nói nhất là Rượu.
Rượu là thức uống trong các dịp vui buồn và là vật tượng trưng của các nghi thức.
Do đó, trong sinh hoạt cuộc sống, với ý nghĩa nào đó, dân tộc này đã xem nó như
một nghi thức cần thiết ngang tầm với cơm. Họ dùng rượu khi đón tiếp bà con và
tiếp khách, nghi thức và cúng lễ, cưới xin và hội hè, ngâm thuốc và để uống tăng
14


lực, cuối cùng là tang ma. Nhìn tổng thể một bản sẽ thấy không có ngày nào không
có người uống rượu, nên có thể coi đây là thức dùng quanh năm.

15


viết, sử dụng thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ, dân ca hợp ngữ cảnh và ngược lại. Bởi họ
cho rằng: “ngôn ngữ là sự gạn lọc tinh khiết của tư duy”
Văn học được ghi chép thành văn: Khi nói đến văn hóa Thái không thể không nói
đến những pho sách cổ - tài sản vô giá không chỉ của dân tộc Thái mà của cả dân tộc Việt
Nam. Những pho sách cổ này nêu ba chủ đề lớn như sau:
Những tác phẩm nói về lịch sử xã hội, như cuốn sách nhan đề “Kể chuyện bản
mường” (Quăm tô mương). Tác phẩm này đã được dịch ra và xuất bản bằng tiếng Việt.
Cùng đó, còn có các tập thơ lịch sử nhan đề Dựng mường lớn (Phanh mương luông),
Dựng mường nhỏ (Phanh mương nọi), đặc biệt là tập sử thi nổi tiếng nhan đề: Những
bước đường chinh chiến của cha ông (Táy pú xớc)…và rất nhiều những tập thơ như:
Chống giặc cờ vàng (1873- 1880); Cuộc nổi dậy của người tù Sơn La do Cai Khạt
đứng đầu (1911), Cuộc nổi dậy chống Pháp ở Sầm Nưa - Sơn La (1914 - 1916)…
Những tác phẩm văn học bằng thơ rất nhiều. Đến nay, đã có một số tác phẩm được
biên dịch và xuất bản như Xống Chụ Xon Sao, Khun Lu Nàng ủa, Tán Chụ Xiết
Xương là những tác phẩm rất nổi tiếng. Trong đó, phải kể đến tập truyện thơ: Tình
Ca - tập thiên tình ca tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) không chỉ đạt đỉnh cao
trong loại hình văn học này mà cho cả nền văn học cổ điển Thái Việt Nam.
+ Nghệ thuật: bao gồm có họa tiết trang trí và múa.
Họa tiết trang trí bao gồm có: Họa tiết điêu khắc gỗ và đan mây, tre và họa tiết
trên vải. Họa tiết điêu khắc gỗ thể hiện ở các họa tiết điêu khắc gỗ mang tên Khau Cút
treo trên hai đầu hồi mái nhà sàn của một số nhóm Thái. Xưa, đã có thời nhìn vào bộ
trang trí này người ta biết được vị trí xã hội của chủ nhà. Họa tiết điêu khắc còn thực
hiện trên khung và tấm chắn cửa sổ và các họa tiết trang trí trên các mặt dụng cụ dùng
để làm thức đựng, đồ đựng...Các mẫu hoa văn tuy nhiều hình, nhiều vẻ nhưng đều gọi
chung bằng một tên chung là hoa văn Ăm.
Múa: Người Thái từ lâu đã nổi tiếng trong các điệu dân vũ. Khi nói đến người
Thái, người Việt không mấy ai không hình dung các cô gái đẹp, trang phục hoàn

nhưng không theo một tôn giáo nghiêm ngặt nào như đạo Phật, đạo Hồi, đạo Thiên
chúa...Vì xã hội người Thái ở Việt Nam nói chung, người Thái ở Yên Châu nói riêng
không hình thành tư duy trên con đường đó mà theo một hướng riêng của mình. Có thể
nói, dân tộc Thái là dân tộc có tín ngưỡng đa thần. Tín ngưỡng của người Thái chưa
phát triển thành tôn giáo riêng nhưng họ cũng không chịu ảnh hưởng hay du nhập vào
mình các tôn giáo khác. Nằm trong phạm trù tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng dân gian
Thái tập trung trong các trong các phong tục tập quán, lễ nghi xoay quanh sự thể hiện
nhận thức về: đường sống, đường chết và đường thần linh.
Đường sống: Nhận thức về đường sống theo tâm linh Thái được bắt đầu từ quan
niệm sinh ra con người. Người mẹ đã nhận con của mình từ bà Then mang tên Me
17


Bảu, bà có khuôn chuyên đúc rồi dập thành hài nhi trai hay gái rồi giáng xuống đầu
thai vào các bà mẹ ở cõi trần. Mọi thủ tục chuẩn bị đường sống cho một con người đã
hoàn tất ở cõi trời và theo mạch tâm linh ấy. Tín ngưỡng người Thái cho rằng con
người sống nhờ có linh hồn. Họ quan niệm mỗi bộ phận cơ thể có một linh hồn và con
người có tất cả có 80 linh hồn được chia thành hai nửa như câu ngạn ngữ: “30 hồn ở
mặt trước, 50 hồn ở mặt sau”, nhiều linh qui về một, mang tên hồn người ngụ ở đỉnh
đầu chỗ có chỏm xoáy tóc, vị trí đó đặt tên là đỉnh hồn. Khi ở bên thể xác, hồn như
bóng nên gọi là kép bóng hồn, bóng hồn bao quanh thân thể như người mặc áo. Tập
quán của người Thái, áo là vật tượng trưng cho linh hồn. Cho nên, trong tất cả các lễ
nghi tôn giáo, tín ngưỡng Thái, cạnh mâm cúng bao giờ cũng đặt áo của chủ hồn (thân
chủ). Xưa nay, dân tộc này vẫn tin và thờ lực lượng siêu tự nhiên mà thuật ngữ Thái
gọi là Phi (ma), tất cả các phi đều trú ngụ ở một thế giới gọi là Mường Phi (mường
ma), mường ma được quan niệm như một thế giới vĩnh hằng bất biến. Cách giải thích
này trùng lặp với thuyết cho rằng linh hồn là bất tử. Ngược lại là Mường Người thì tồn
tại theo sự biến động theo từng thế hệ con người. Linh hồn, lúc tách khỏi thân sống trở
thành bản thể riêng gọi là phi khoăn, dùng để chỉ khái niệm hồn hay linh hồn sống của
người, vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, như triết học gọi là vật linh giáo. Chúng có thể

đôi trai gái yêu nhau, khi đã quyết định đi đến hôn nhân thì sẽ tổ chức cưới. Theo
phong tục truyền thống người Thái thường tổ chức cưới 2 lần. Lần thứ nhất cưới tại
nhà gái - còn gọi là “đoong khửn”, nhà trai mang đồ cúng, lễ vật đến nhà gái, sau đó
chú rể ở lại sinh sống tại nhà gái trong vòng 3 năm (tùy thuộc vào hoàn cảnh từng gia
đình mà quyết định số năm ở rể). Người Thái quan niệm người con rể phải ở lại nhà
gái làm lụng, để trả ơn bố mẹ vợ đã sinh ra và nuôi dưỡng cô dâu. Hết thời gian ở rể,
nhà trai giết trâu, bò tổ chức cưới lần 2 “đoong lông” để đón cô dâu về nhà chồng, khi
đó cô dâu mới chính thức thuộc về gia đình nhà chồng. Cưới xin phải qua các trình
tự: đi dạm (pay tộ), đi hỏi (pay tham), đám cưới đưa rể về nhà gái (sống khươi), lễ
ghép chăn (sú phả), lễ búi tóc ngược cho cô dâu khi đã có chồng (tằng cẩu - với
người Thái Đen). Sau đó là lễ cưới chính thức, cuối cùng là lễ đưa dâu về nhà
chồng mới hoàn thành các thủ tục hôn nhân. Khi sinh con người Thái thường đặt
tên con vào đầu tháng.
Ngoài những nội dung nổi bật trên, văn hóa của người Thái còn thể hiện rất rõ
trong các lễ hội truyền thống. “Lễ hội ném còn” là nơi quy tụ nhiều chàng trai, cô
gái từ nhiều bản mường lân cận, là cơ hội tốt để nhiều đôi trai gái làm quen với
nhau.
Cũng như các dân tộc khác, đồng bào Thái có nhiều hình thức sinh hoạt cộng
đồng trong gia đình, trong bản, trong mường. Đó là các lễ, tết, hội hè của dân tộc
như tết Kin tón ú vào ngày mồng 5 tháng 5, Kin trết xíp xí vào ngày 14 tháng 7 âm
19


lịch. Đó là tục xên bản, xên mường (cúng bản, cúng mường) vào khoảng tháng ba
âm lịch hàng năm, được đồng bào rất coi trọng. Tục này vừa có yếu tố phồn thực và
tâm linh, đây là ngày tết, ngày hội to nhất, vui nhất trong năm.
- Các giá trị văn hóa với tư cách là thiết chế xã hội:
+ Gia đình: gười Thái gọi gia đình là hươn và được phân thành hai loại hình:
Tiểu gia đình phụ hệ - Chỉ một đơn vị tế bào xã hội, được hợp bởi một cặp vợ
chồng có thể đã, chưa hoặc không có con. Nếu có thì chúng cũng chưa trưởng thành,

hội lên án, chê trách.
Đại gia đình phụ hệ: là đơn vị kinh tế - xã hội tổ hợp bởi ít nhất có hai gia đình
hạt nhân. Trong đó, những người chồng cùng chung hệ dòng cha nên gọi là đại gia
đình phụ hệ. Mô hình gia đình này không phổ biến, ta có thể hình dung nó như những
dấu chấm nhỏ điểm xuyết trên nền gia đình hạt nhân phổ biến và phủ khắp mọi nơi.
Hiện nay, mô hình gia đình này còn rất ít theo nghĩa trọn vẹn của nó. Nó có những đặc
điểm cơ bản đó là: Các gia đình nhỏ trong đại gia đình bao gồm tất cả các nhóm ải
nọng trong cùng một ông tổ sinh ra, vẫn ở chung trong một nóc nhà gọi là chua hươn.
Ông tổ ấy chính là người mang cái tên thuật ngữ hệ thống thân tộc là Pấn. Người đứng
đầu gia đình lớn mang tên là Chưởng cốc hay Phủ cốc có nghĩa "người làm gốc của
họ". Từ đời cha trở lên thế hệ khác, hễ ai còn sống thuộc chi trên là anh thì người đó
mặc nhiên là Chưởng cốc. Đây là tập quán bất di bất dịch và không có ngoại lệ. Trong
gia đình lớn như vậy, các gia đình chỉ là thành viên không phải là một đơn vị kinh tế xã hội riêng biệt mà thống nhất. Mọi tài sản có trong gia đình đều là của chung, mọi
nhu cầu tiêu dùng trong gia đình đều dùng của chung, mọi vấn đề của gia đình nhỏ đều
coi như việc chung của cả gia đình. Các gia đình hạt nhân phải có trách nhiệm giúp đỡ
việc thực hiện tiêu dùng cho thật tốt. Về mặt tâm linh, ngoài chỗ thờ đẳm trong nhà,
các gia đình lớn còn có nghĩa địa chung gọi là heo đẳm, ở đó người chết được chôn
theo thế hệ rõ ràng, quy củ.
+ Bản mường: Chỉ một loại hình tổ chức xã hội đã từng tồn tại phổ biến ở khắp
miền Nam Trung Hoa và bán đảo Đông Dương của người nói tiếng Thái. Riêng người
Thái ở Tây Bắc Việt Nam, cơ cấu tổ chức xã hội này chính thức xuất hiện thành văn
bản ghi bằng chữ Thái cổ cách đây hàng ngàn năm, khoảng thế kỷ thứ X.
Mường: Tổ chức xã hội của mường theo mô hình cơ cấu vòng đồng tâm xoay
quanh trục, đã được thể hiện một cách hoàn thiện trong hệ thống tổ chức một châu
mường và sự quy tụ các châu mường về một mối. Mỗi mường có Chảu Mường là
người đứng đầu và cai quản chung, dưới Chảu Mường là các Phìa, Tạo đứng đầu và
cai quản các Phài và bản. Mường là một cơ cấu tổ chức chính quyền mang những nét
đặc trưng rất Thái ở nước ta. Là tổ chức xã hội dựa trên quan hệ lãnh thổ và sở hữu, có
đường ranh giới rõ rệt, mang tên đất mường. Với các gia đình hạt nhân, tổ chức
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status