Vai trò của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở xã yên lập, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc trong giai đoạn hiện nay - Pdf 39

LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy
giáo, cô giáo trong Khoa Lý luận chính trị, các Phòng ban của nhà trường và
Đảng bộ - UBND xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, cùng các cá
nhân đã nhiệt tình giúp đỡ em trong việc sưu tầm, chọn lọc tài liệu, cung cấp
thông tin, những số liệu cần thiết trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khóa
luận của mình.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo
hướng dẫn khóa luận – Thạc sĩ Hoàng Văn Viện, thầy đã rất nhiệt tình giúp đỡ
em, chỉ bảo tận tình, chu đáo, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho khóa luận của
em hoàn thành đúng thời hạn.
Do điều kiện thời gian sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, cùng khả năng nắm bắt
tình hình của bản thân còn hạn chế nên thiếu xót trong khóa luận là điều không
thể tránh khỏi. Vì vậy, khóa luận rất mong được sự ủng hộ, chỉ bảo và đóng góp
ý kiến của Hội đồng khoa học Nhà trường, của các thầy giáo, cô giáo và các bạn
sinh viên.

Sơn La, tháng 05 năm 2015
Tác giả

Bùi Trọng Đại


DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

KHKT

: Khoa học kỹ thuật

trò to lớn của nền kinh tế nhiều thành phần.
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, ở nước ta đã cho duy trì 2 khu vực kinh tế với 7
thành phần kinh tế khác nhau:
Khu vực kinh tế XHCN bao gồm các thành phần kinh tế: Kinh tế quốc
doanh, kinh tế tập thể, kinh tế gia đình.
Các thành phần kinh tế khác bao gồm: Kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế
tư bản tư nhân, kinh tế cá thể, kinh tế tự nhiên.
Nền kinh tế nhiều thành phần ở đây không những là khách quan mà còn
là động lực thúc đẩy, kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội. Phát huy tinh
thần nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, các Đại hội sau đó: Đại hội Đảng
lần thứ VII (tháng 6 - 1991), Đại hội Đảng lần thứ VIII (tháng 7 - 1996), Đại
hội Đảng lần thứ IX (tháng 4 - 2001), Đại hội Đảng lần thứ X (tháng 4 2006), và đặc biệt là tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI lại một lần nữa
khẳng định việc duy trì nền kinh tế nhiều thành phần là đúng đắn và hợp lý.


Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định nền kinh tế nước ta
tồn tại 4 thành phần kinh tế:
+ Kinh tế Nhà nước
+ Kinh tế tập thể
+ Kinh tế tư nhân ( gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư
nhân)
+ Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Mỗi thành phần kinh tế đều dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về
tư liệu sản xuất và biểu hiện lợi ích của mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp xã hội
nhất định. Các thành phần kinh tế không tồn tại độc lập tách rời nhau mà tồn
tại đan xen, tác động qua lại lẫn nhau.
Có thể nói sự thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá
độ lên CNXH ở Việt Nam là hợp quy luật khách quan, có chiến lược lâu dài
và đóng vai trò to lớn về mọi mặt. Đặc biệt là động lực thúc đẩy, kích thích
sự phát triển sản xuất. Trong các thành phần kinh tế đó thì thành phần kinh

nguồn vốn cho đầu tư phát triển tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu sản
xuất, mở rộng thị trường cũng như góp phần cải thiện đáng kể đời sống của
nhân dân với vai trò là một thành phần kinh tế giàu tiền năng và có ưu thế
phát triển, kinh tế tư nhân đòi hỏi cần được quan tâm và đầu tư thỏa đáng.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được hiện nay ở xã, thành
phần kinh tế tư nhân còn còn phát triển chưa tương xứng với tiền năng vốn
có của xã nhà, bộc lộ nhiều yếu kém, hạn chế sự phát triển của nền kinh tế
mà đỏi hỏi phải có biện pháp khắc phục.
Chính vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài “Vai trò của kinh tế tư nhân
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường,


tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay” để bước đầu nghiên cứu, vận
dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn xã nhà, về tiềm năng cũng như
xu hướng phát triển trong thời gian tới để có thể mạnh dạn đề xuất những
giải pháp tích cực, phù hợp nhằm đẩy mạnh, mở rộng và phát triển thành
phần kinh tế tư nhân nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội xã nhà nói
chung.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay kinh tế tư nhân chiếm một vị trí rất quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế của nước ta. Trong thực tế đã có không ít công trình nghiên
cứu, các bài báo, xã luận nói về thành phần kinh tế tư nhân. Tuy nhiên nó
mới chỉ được nghiên cứu, phản ánh ở mức độ, khía cạnh khác nhau. Nhìn
chung mới chỉ là những nhận định chung chung, mặc dù có những tác giả
cũng đã đưa ra những giải pháp nhưng nó lại mang tầm khái quát cao, ở tầm
quốc gia, khu vực như:
Phạm Cao Cường “Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế”. Khóa luận tốt nghiệp sinh viên Khoa kinh tế và kinh doanh
quốc tế - Trường Đại học Ngoại thương. Hà nội – 2009. Tác giả đã tập trung
làm rõ vai trò của kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

4.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
+ Cụ thể là nghiên cứu lý thuyết về khái niệm thành phần kinh tế, cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần, khái niệm, vai trò và vị trí của thành phần kinh
tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.


+ Sau khi đã thu thập được tương đối tài liệu tham khảo, tiến hành đọc
và phân tích các nội dung cần thiết có liên quan đến đề tài và tập hợp theo
từng nội dung cụ thể.
- Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết
+ Sắp xếp các nội dung đã tổng hợp.
+ Phân tích các nội dung đã sắp xếp, chỉnh sửa và đưa vào hệ thống
theo cấu trúc của đề tài.
4.2.2. Phương pháp điều tra thực tế
- Điều tra thực tế tình hình kinh tế - xã hội ở xã Yên Lập, huyện Vĩnh
Tường, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.
5. Đóng góp của đề tài
- Thứ nhất: Góp phần làm rõ hơn thực trạng và vai trò của kinh tế tư
nhân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tương,
tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
- Thứ hai: Đưa ra những giải pháp cụ thể có tính thực tiễn cao nhằm
thúc đẩy sự phát triển kinh tế tư nhân tại xã nhà.
6. Ý nghĩa
Đề tài là tài liệu tham khảo cho sinh viên muốn nghiên cứu sâu về một
thành phần kinh tế ở một địa phương cụ thể trong giai đoạn hiện nay.
7. Thời gian nghiên cứu
Tổng thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11 – 2014 đến tháng 5 – 2015, cụ thể
là:
- Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2014: Sưu tầm tài liệu liên quan, lập đề

1.1.1. Khái niệm chung
* Khái quát chung về sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, lực lượng sản xuất phát
triển chưa cao và tồn tại nhiều trình độ khác nhau. Do đó trong nền kinh tế
tồn tại nhiều chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất: Sở hữu tư nhân, sở hữu công
cộng về tư liệu sản xuất và sở hữu hỗn hợp. Trong mỗi chế độ sở hữu về tư
liệu sản xuất lại tồn tại nhiều hình thứ sở hữu khác nhau: Sở hữu nhà nước,
sở hữu tập thể, sở hữu cá thể, sở hữu tư bản tư nhân, ... Như vậy, nền kinh tế
ở đây là nền kinh tế nhiều thành phần.
* Khái niệm thành phần kinh tế
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế hay kiểu kinh tế dựa trên một
hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất.
Nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần, có nghĩa là tồn tại nhiều hình thức
quan hệ sản xuất, sẽ phù hợp với thực trạng thấp kém và không đồng đều
của lực lượng sản xuất của nước ta hiện nay. Sự phù hợp này, đến lượt nó,
lại có tác dụng thúc đẩy tăng năng xuất lao động, tăng trưởng kinh tế, tạo
điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế trong các thành phần kinh tế và trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân ở nước ta.
Nền kinh tế nhiều thành phần thúc đẩy phát triển kinh tế hoàng hóa, góp
phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh, cải thiện và nâng cao đời sống
nhân dân, phát triển các mặt của đời sống kinh tế - xã hội.


Cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của các
thành phần kinh tế trong nước như: vốn, lao động, tài nguyên, kinh nghiệm
tổ chức quản lý, khoa học và công nghệ mới trên thế giới…
Tạo điều kiện thực hiện và mở rộng các hình thức kinh tế quá độ, trong
đó có hình thức kinh tế tư bản nhà nước, nó như những “ cầu nối” trạm
“trung gian” cần thiết để đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

145.000 tỉ đồng, cao hơn vốn đầu tư nước ngoài cùng kỳ và tăng gấp 4 lần số
vốn đăng ký của khu vực tư bản tư nhân giai đoạn 1991 – 1999 và tăng gấp
đôi về số doanh nghiệp đăng ký (Bộ kế hoạch và Đầu tư, 2003). Tiền năng
này còn lớn hơn khi nhìn vào khu vực kinh tế cá thể khá đồ sộ mà rất có khả
năng sẽ chuyển thành kinh tế tư bản tư nhân nếu có môi trường kinh doanh
thuận lợi. Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế tư bản tư nhân hiện nay còn bị
cản trở và hạn chế bởi những nhận thức chưa rõ ràng về vai trò của kinh tế tư
bản tư nhân nói riêng và khu vực tư nhân nói chung trong phát triển kinh tế
thị trường định hướng XHCN. Những vấn đề lý luận chưa được sáng tỏ về
kinh tế thị trường định hướng XHCN dẫn đến tâm lý chưa yên tâm để tư bản
tư nhân phát triển hết tiền năng.
Có nghiên cứu cho rằng, trong tương lai thành phần kinh tế tư bản tư
nhân sẽ phát triển mạnh hơn do:
Các thành phần kinh tế khác muốn liên doanh với kinh tế nhà nước để
tìm chỗ dựa cho phát triển để yên tâm phát triển lâu dài.
Nhà nước có thể định hướng phát triển khu vực tư nhân thông qua liên
doanh và liên kết với khu vực này. Trong trường hợp này rất có thể xảy ra
nhất là trong bối cảnh kinh tế nhà nước được hưởng nhiều ưu đãi và là thành
phần được nhà nước chăm sóc và nuôi dưỡng nhiều nhất. Hơn thế nữa, hiện


nay chúng ta đang có chính sách thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục giữ vị trí quan
trọng trong nền kinh tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế, khu vực này sẽ hòa quyện dần với các khu vực kinh tế khác trong
nước khi Nhà nước đang có chủ trương xây dựng mặt bằng pháp luật chung
cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.
Thuật ngữ “Kinh tế tư nhân” gắn liền với vấn đề sở hữu. Sở hữu là
quan hệ giữa con người và con người trong sản xuất, phản ánh quá trình

pháp của tư nhân trong việc chiếm hữu, quyết định cách thức tổ chức sản
xuất, chi phối và hưởng lợi từ kết quả của quá trình sản xuất đó. Sở hữu tư
nhân về quá trình sản xuất là cơ sở ra đời khu vực kinh tế tư nhân.
Khu vực kinh tế tư nhân có thể hiểu là một thuật ngữ phản ánh một
bộ phận kinh tế của các chủ thể trong xã hội, hoạt động dựa trên quyền sở
hữu tư nhân về các điều kiện cơ bản của sản xuất. Thuật ngữ Khu vực
kinh tế cần được hiểu rộng hơn là khái niệm thành phần kinh tế. Thành phần
kinh tế là khái niệm thể hiện cấu trúc của một xã hội, trong đó bao gồm
nhiều mảng đại diện cho các phương thức sản xuất khác nhau đang cùng tồn
tại. Như vậy, thuộc về thành phần kinh tế là những bộ phận của các phương
thức sản xuất khác nhau cùng tồn tại ở một xã hội, trong đó, giữ vai trò chủ
đạo là phương thức sản xuất của giai cấp thống trị. Các phương thức sản
xuất khác đan xen với nhau để hình thành một thể thống nhất, vừa đấu
tranh vừa hợp tác cùng phát triển.
Trong khi đó, khu vực kinh tế có thể bao hàm các loại hình kinh doanh
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Chẳng hạn, thuộc về khu vực kinh
tế tư nhân có thể bao hàm các loại hình kinh doanh thuộc các thành phần


kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, như thành phần kinh tế
cá thể, tiểu chủ và thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Các cơ sở sản xuất
này hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh
nghiệp của tư nhân. Xét về mặt quan hệ sở hữu, kinh tế cá thể, tiểu chủ và
kinh tế tư bản tư nhân đều thuộc loại hình sở hữu tư nhân, khác với sở hữu
toàn dân, sở hữu tập thể. Nhưng, nếu xét về phương diện thành phần kinh
tế thì kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân là hai thành phần
kinh tế khác nhau, khác về trình độ phát triển lực lượng sản xuất và về bản
chất quan hệ sản xuất.
1.1.2 Các đặc điểm của kinh tế tư nhân
* Về hình thức

+ Các doanh nghiệp nông nghiệp.
+ Các công ty tư nhân, công ty cổ phần.
+ Các công ty trách nhiệm hữu hạn.
* Về cơ sở trong kinh tế tư nhân
Sở hữu tư nhân: là sở hữu của mỗi cá nhân lao động, đối tượng của nó
là phần tài sản hợp pháp của mình do quá trình tích lũy của mỗi cá nhân hay
đóng góp vốn của những người lao động tạo nên.
* Về phân phối trong kinh tế tư nhân
Do các doanh nghiệp, các công ty tư nhân hay các hộ gia đình có những
cách phân phối tùy theo đặc điểm điều kiện của công ty, doanh nghiệp hay
gia đình mình.
* Về nguyên tắc hoạt động của kinh tế tư nhân
- Nguyên tắc tự chủ: Tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài
chính, tự chủ về ngành lĩnh vực kinh doanh.
- Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm: Về kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, lời ăn lỗ chịu, tự quyết định về phân phối và thu nhập.


- Nguyên tắc tự nguyện: Bản thân người lao động đứng ra thành lập
công ty doanh nghiệp, bản thân người lao động và gia đình họ tự tham gia vì
lợi ích thiết thực của họ, không ai ngăn cấm, ép buộc.
* Cơ chế quản lý của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân
Trong văn kiện Đại hội X, đã chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển mạnh các hộ
kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân. Tạo điều kiện
thuận lợi cho các loại hình kinh tế tư nhân đầu tư theo quy định của pháp
luật, không hạn chế quy mô, lĩnh vực, địa bàn. Xóa bỏ mọi hình thức phân
biệt đối xử, đảm bảo sự bình đẳng... Khuyến khích các doanh nghiệp lớn của
tư nhân, các tập đoàn kinh tế có nhiều chủ sở hữu với hình thức công ty cổ
phần...”[10, 236 – 237].
Để tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, văn kiện Đại hội Đảng XI nêu

* Các hộ sản xuất kinh doanh.
Với tư cách là một đơn vị kinh tế tự chủ dựa trên nền tảng quyền sở
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu (trừ đất đai) đã và đang phát triển
đúng hướng ở nhiều lĩnh vực: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công
nghiệp xây dựng và dịch vụ.
* Đối với kinh tế hộ nông dân
Theo điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về nông
nghiệp và thủy sản thì tính đến thời điểm tháng 7 năm 2011 có khoảng 16,15
triệu hộ tăng gần 3 triệu triệu hộ so với năm 2006.
Chúng ta có thể thấy rõ được số lượng và cơ cấu hộ nông thôn phân theo
vùng trong bảng số liệu sau:
Bảng số lượng và hộ nông thôn phân theo vùng
Phân theo vùng

Năm 2006

Năm 2011

Hộ

Tỉ lệ (%)

Hộ

Tỉ lệ(%)

Cả nước

13.785.379



2.040.973

14,8%

2.250.327

13%

Hộ Khác

584.437

4,2%

657.836

4,8%

dựng

Nguồn: Tổng cục thống kê
Qua bảng điều tra trên cho ta thấy số hộ nông dân hộ nông dân
Nông – Lâm nghiệp và Thủy sản đã giảm từ gần 10 triệu (2006) xuống
còn 8,73 triệu hộ (2011). Trong khi đó số hộ Công nghiệp – Xây dựng và
Dịch vụ tăng lên đáng kể.
Đây là một sự chuyển dịch tích cực, sự thay đổi này cho thấy kinh tế
hộ gia đình đã có sự phát triển.
Điều đó nói lên các hộ nông dân đều có sự tích lũy bình quân tương
đối cao và tăng nhanh. Cụ thể:

Tổng doanh thu sản xuất kinh doanh của các trang trại năm 2011 đạt
32,519 tỉ đồng, gấp 4,2 lần năm 2006. Bình quân đạt 254,1 triệu đồng / 1
trang trại, gấp 2,5 lần so với năm 2006.
Mặc dù thành quả tương đối cao, nhưng kinh tế trang trại còn gặp
nhiều khó khăn. Được hình thành theo lối phổ thông, hầu hết lao động chưa
qua đào tạo, chưa có vốn đầu tư cũng như kỹ thuật còn yếu kém. Chính vì
vậy đặt ra một yêu cầu cấp bách đó là Nhà nước phải tạo điều kiện về vốn,
cũng như tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhằm hộ trợ
cho khu vực nông nghiệp nông thôn nói chung và hoạt động trang trại nói
riêng để đạt được hiệu quả thiết thực tương xứng với tiềm năng.
* Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh


Trong nhiều năm gần đây các cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động
ngày càng hiệu quả và có sự tăng lên về số lượng cũng như doanh thu của
các cơ sở và mức đóng góp vào nguồn thuế của Nhà nước. Cụ thể là:
Năm 2005: Cả nước có 3,053 triệu cơ sở thu hút gần 5,9 lao động với
tổng số vốn là 143 nghìn tỉ đồng. Đạt doanh thu 439 nghìn tỉ đồng, trung
bình 143 triệu đồng trên một cơ sở. Thu nhập của lao động cũng tăng cao,
đạt 78,7 triệu đồng/ người/ năm.
Năm 2008, số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể là 3,9 triệu cơ sở, tăng
44,7%. Quy mô lao động ở cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể nhìn chung đã
thay đổi ở mức từ 3 – 5 lao động/ 1 cơ sở. Đến năm 2011 số cơ sở sản xuất
kinh doanh cá thể là 5,2 triệu cơ sở. Sự phát triển của các cơ sở sản xuất
kinh doanh cá thể vốn dĩ có tính tự phát, là khu vực tạo công ăn việc làm cho
một bộ phận lao động lớn(khoảng 9 triệu lao động), có kỹ năng lao động
giản đơn, đóng góp chủ yếu vào thu nhập kinh tế gia đình.
Với những kết quả đã đạt được, các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể
đã đóng góp vào nguồn thuế Nhà nước đạt tỉ lệ khá cao trong những năm
gần đây.

giai đoạn hiện nay khi giải quyết những vấn đề có tính cấp bách như việc
làm, thu nhập.
Số lượng các doanh nghiệp đang tăng lên đáng kể trong những năm
gần đây và chủ yếu là tăng số lượng các doanh nghiệp tư nhân. Bên cạnh đó,
các doanh nghiệp Nhà nước lại có xu thế giảm dần qua các năm.
Thành phần kinh tế này đã tạo công ăn việc làm, đảm bảo đời sống
cho khoảng hơn 40% tổng số lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
(khoảng trên 5 triệu người) và đến nay thành phần kinh tế này vẫn thu hút


được số lượng lao động đông đảo trong các doanh nghiệp và công ty tư
nhân.
Nhìn chung, đến thời điểm này kinh tế tư nhân vẫn đang ngày càng
phát huy được những tiềm năng to lớn của mình. Vai trò quan trọng là duy
trì thành phần này đã thực sự là một trong những giải pháp hiệu quả nhất
trong việc giải phóng lực lượng sản xuất. Không những thế, hoạt động hiệu
quả của kinh tế tư nhân đã góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống
nhân dân, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế và phúc lợi xã hội.
Riêng về hình thức kinh tế tư nhân, việc thay đổi những chính sách
của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế này đã tạo ra môi
trường thực sự thuận lợi để các doanh nghiệp, các công ty tư nhân có điều
kiện phát triển tốt nhất. Góp phần vào tăng trưởng GDP ngày càng cao của
kinh tế nước nhà.
* Vấn đề Đảng viên làm kinh tế tư nhân
Từ Hội nghị Trung ương lần thứ 12, khóa IX, dự thảo báo cáo chính
trị có nêu đến vấn đề “Đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về quy
mô”. Tại Đại hội Đảng lần thứ X, Đảng ta đã chủ trương xây dựng các quy
định về vấn đề Đảng viên làm kinh tế tư nhân. Ngày 28 – 08 – 2006, Trung
ương đã chính thức ban hành quy định số 15/ QĐ/ TW về Đảng viên làm
kinh tế tư nhân.

Đông huyện Lập Thạch.
Là xã nằm trên trục đường quốc lộ 2A và có tuyến đường sắt Hà Nội Lào Cai chạy qua đã tạo nên khả năng giao lưu, đi lại thuận tiện với các địa bàn
bên ngoài.
Với vị trí quan trọng như vậy, Yên Lập có điều kiện thuận lợi để giao lưu
văn hóa, đặc biệt là trao đổi buôn bán với nhiều địa phương, vùng miền khác rất
thuận lợi. Chính vì vậy trong giai đoạn hiện nay Yên Lập có những thuận lợi to
lớn trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng.
2.1.2. Địa hình, khí hậu
* Địa hình:
Xã Yên Lập có địa hình khá bằng phẳng, có độ cao trung bình tự nhiên
là 12,5m. Thấp dần về phía Nam (khu vực ven sông), hướng thấp dần từ Bắc
xuống Nam, độ dốc nền tự nhiên trung bình.
* Khí hậu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status