HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO
BỘ MÔN HOA KỲ HỌC
TIỂU LUẬN
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ CUỐI THẾ KỶ 19
ĐẦU THẾ KỶ 20
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Sinh Hoàng
Lớp
: CT38H – 0104
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ..................................................................................................... 1
NỘI DUNG TÌM HIỂU ...................................................................................... 2
I. Khái quát về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ......................................... 2
II. Các chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX 4
1. Học thuyết Monroe (1823)......................................................................... 4
1.1 Hoàn cảnh ra đời ................................................................................... 4
1.2 Nội dung học thuyết Monroe ................................................................ 5
1.3 Ý nghĩa.................................................................................................. 6
2. Chính sách mở cửa ..................................................................................... 7
2.1 Hoàn cảnh ra đời ................................................................................... 7
2.2 Nội dung................................................................................................ 8
Khái quát về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
II.
Các chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX
1
NỘI DUNG TÌM HIỂU
I. Khái quát về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
Chính sách đối ngoại của một quốc gia nói chung là những hoạt động được
đưa ra bởi chính phủ quốc gia đó nhằm thực hiện các mục tiêu trong quan hệ với
các quốc gia và chủ thể khác trong cộng đồng quốc tế. Nói cách khác, chính
sách đối ngoại của một quốc gia là tất yếu khách quan trong quan hệ giữa một
quốc gia và các nước khác trên thế giới, là công cụ để đảm bảo lợi ích của các
quốc gia, góp phần lớn vào sự phát triển của đất nước đó. Ở mỗi giai đoạn lịch
sử khác nhau và trong mỗi khu vực khác nhau, chính sách đối ngoại của các
quốc gia đều có sự khác biệt.
Với Hoa Kỳ (còn được gọi là Mỹ), chính sách đối ngoại đóng một vai trò
rất quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước này, góp phần lớn đưa Hoa
Kỳ từ một quốc gia nhược tiểu những năm đầu lập quốc thành một cường quốc
số một trên thế giới như hiện nay. Xuyên suốt quá trình phát triển của nước Mỹ,
các chính sách đối ngoại của nước này chủ yếu được quyết định và có nguồn
gốc từ các tổng thống. Tuy nhiên, các yếu tố bối cảnh trong nước, quốc tế và hệ
tư tưởng và một số yếu tố khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch
định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.
Nói về cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Hoa kỳ, trước hết phải đề
thuyết, lập luận, người Mỹ đã khẳng định quyền bành trướng hiển nhiên của họ,
khẳng định chính sách đối ngoại của nước này.
Ngoài ra, còn nhiều yếu tố khác tác động lên việc hình thành chính sách đối
ngoại của Hoa Kỳ, nhưng yếu tố kinh tế và tư tưởng có thể được coi là hai yếu
tố quan trọng nhất, đặc biệt là trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX và những năm
đầu thế kỷ XX. Giai đoạn này là một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển
vượt bậc của nước Mỹ, đánh dấu sự phát triển từ một nước nhược tiểu, trở thành
một nước có vị thế to lớn như ngày hôm nay. Qua việc tìm hiểu những chính
1
Dương Quang Hiệp – Nền tảng của việc bành trướng ra thế giới của Mỹ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX – số 7/2010 – trang 61
3
sách đối ngoại cụ thể được chính phủ Mỹ đưa ra trong giai đoạn này, ta sẽ hiểu
rõ hơn về sự phát triển và sức mạnh của nước Mỹ.
II. Các chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
1. Học thuyết Monroe (1823)
1.1 Hoàn cảnh ra đời
Sau các phát kiến địa lý, trong khi phần lớn Bắc Mỹ nằm dưới sự cai quản
của Anh thì hầu hết các nước Mỹ Latinh đều là thuộc địa của Tây Ban Nha và
Bồ Đào Nha. Sự kiện 13 thuộc địa của Anh hợp lại giành độc lập và lập nên nhà
nước Hoa Kỳ đã tác động mạnh đến các quốc gia Mỹ Latinh, thôi thúc các nước
này đứng lên giành độc lập, tự do cho riêng mình. Vào những thập niên đầu tiên
của thế kỷ XIX, miền Trung và Nam Mỹ đều hướng về cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc. Thêm vào đó, cuộc chiến tranh Napoleon mà cụ thể là cuộc
chinh phục Tây Ban Nha của Napoleon năm 1808 đã tạo cơ hội thuận lợi cho
Monroe với ý nghĩa bề nổi là tôn trọng và bảo vệ quyền tự do của người Châu
Mỹ, khẳng định “Châu Mỹ là của người Châu Mỹ”.
1.2 Nội dung học thuyết Monroe
Vào tháng 12 năm 1823, nhân dịp gửi thông điệp hàng năm tới Quốc hội,
tổng thống James Monroe đã đưa ra Học thuyết Monroe với 3 nội dung chính
sau đây:
Các lục địa Châu Mỹ… từ nay trở đi không thể được coi là đối tượng của
thực dân hóa trong tương lai do bất cứ một cường quốc Châu Âu nào tiến hành.
Chúng ta phải coi bất kỳ toan tính nào về phần họ nhằm mở rộng hệ thống
(chính trị) của họ tới bất cứ một bộ phận nào của bán cầu này đều là nguy hiểm
đối với hòa bình và an ninh của chúng ta.
Chúng ta đã không can thiệp và sẽ không can thiệp vào những thuộc địa
hay các xứ phụ thuộc nào của bất kỳ cường quốc Châu Âu nào. Nhưng với
những chính phủ đã tuyên bố nền độc lập của mình và bảo vệ nền độc lập ấy và
được chúng ta thừa nhận thì chúng ta phải coi bất kỳ một sự can thiệp nào nhằm
mục đích áp chế họ hay kiểm soát số phận của họ bằng bất kỳ phương pháp nào
5
do bất cứ cường quốc Châu Âu nào thực hiện đều thể hiện khuynh hướng thù
địch với nước Mỹ2.
Trước hết phải khẳng định rằng, vào thời điểm học thuyết Monroe ra đời,
nước Mỹ tuy đã thoát khỏi sự phục thuộc vào kinh tế các nước Châu Âu và dần
phát triển kinh tế nhưng Mỹ vẫn chưa thực sự đủ mạnh để thực hiện những gì
học thuyết Monroe đề ra nếu như không có sự ủng hộ của Anh. Tuy nhiên, ta
phải công nhận rằng, sự ra đời của học thuyết này mang một ý nghĩa to lớn,
không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế, tác động
tới quan hệ quốc tế.
1.3 Ý nghĩa
Nhìn chung, vào thời điểm học thuyết Monroe mới được công bố, học
thực sự để thiết lập một chính sách an ninh quốc gia nhằm bảo vệ Mỹ. Theo như
lời cựu Cựu thẩm phán tòa án tối cao và ứng cử viên tổng thống Woodrow
Wilson vào năm 1916, Charles Evans Hughes thì “Học thuyết Monroe là một
chính sách phòng thủ quốc gia… một sự xác nhận nguyên lý của an ninh quốc
gia”3. Việc Mỹ công nhận nền độc lập của những “hàng xóm” lận cận của mình,
đưa ra học thuyết tránh cho những nước này chịu ảnh hưởng của quốc gia Châu
Âu cũng chính là bảo vệ an ninh và lãnh thổ Mỹ.
2. Chính sách mở cửa
2.1 Hoàn cảnh ra đời
Như đã phân tích ở trên, sự ra đời của học thuyết Monroe với xu hướng
trong chính sách đối ngoại của Mỹ là bành trướng, cho tới cuối thế kỷ XIX,
nước Mỹ đã thành công trong việc bành trướng về phía Tây cũng như là xâm
chiếm các quốc gia Mỹ Latinh như Cuba, Puerto Rico… vốn là thuộc địa của
Tây Ban Nha. Sự thành công này đã làm thăng thêm tham vọng và kích thích
những ý nghĩ của người Mỹ rằng vận mệnh của họ là “khai hóa” cho toàn lục
địa. Từ đó, Mỹ lại càng muốn tiếp tục bành trướng, mở rộng lợi ích của mình
hơn. Khu vực Châu Á được coi là một đích đến của nước Mỹ và việc mở rộng
lợi ích của Mỹ ở khu vực này được coi như là một “sứ mệnh hiển nhiên”.
3
/>
7
Thêm vào đó, Tới cuối thế kỷ XIX, Anh đã suy yếu dần, còn Mỹ ngày càng
mạnh thêm với lực lượng hải quân hùng hậu. Nắm được quyền lực biển là tiền
đề quan trọng để Mỹ thực hiện chủ nghĩa bành trướng của mình, giành giật
quyền lực thương mại với các cường quốc khác.
Mục tiêu cụ thể của Mỹ ở Châu Á là Trung Quốc, bởi đây là một thị trường
Thứ hai, hàng hóa của các nước phải theo chế độ thuế quan của Trung
Quốc và do chính phủ Trung Quốc thu thuế.
Thứ ba, không can thiệp vào lợi ích của các nước theo những điều khoản
đã ký.
Thứ tư, tàu thuyền các nước đi lại trong thương cảng thuộc phạm vi các
nước khác không được đánh thuế nhập khẩu cao hơn thuế suất quy định cho tàu
thuyền của nước mình. Luận điểm này cũng được áp dụng trên lĩnh vực vận tải
bằng xe lửa.
2.3 Ý nghĩa
Như vậy, ta có thể thấy được, chính sách “Mở cửa” đối với Trung Quốc
mà Mỹ ban bố đã nhấn mạnh vào sự bình đẳng trong thương mại của tất cả các
quốc gia trên lãnh thổ Trung Quốc, đó là Nga, Anh, Pháp, Ý. Tuy nhiên, trên
thực tế, với việc ban bố chính sách “Mở cửa” đối với Trung Quốc, Mỹ muốn
đoạt được những lợi thế từ tay người Trung Quốc, muốn xác lập vị thế hợp pháp
và bình đẳng của mình ở thị trường Trung Quốc so với các cường quốc khác,
đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty Mỹ tiếp cận và cạnh tranh với
các công ty nước ngoài ở thị trường to lớn này. Thực ra, vào thời điểm cuối thế
kỷ XIX, Mỹ dù đã mạnh lên rất nhiều so với hồi đầu lập quốc nhưng vẫn chưa
đủ sức để can thiệp một cách trực tiếp vào Trung Quốc vì đây là một thị trường
rộng lớn, một quốc gia đông dân có bề dày lịch sử. Hơn nữa, trên lãnh thổ Trung
Quốc nước này đã có sự hiện diện của các cường quốc Châu Âu với những
phạm vi ảnh hưởng riêng. Do đó, không có chính sách nào phù hợp hơn để xâu
xé quyền lợi ở thị trường này cũng như tăng cường sự ảnh hưởng của Mỹ mà
không bị Trung Quốc hay các cường quốc kia phản đối. Đồng thời, với chính
sách này, Mỹ muốn ngăn chặn các nước đế quốc tiếp tục xâm chiếm Trung
Quốc, biến những khu vực ảnh hưởng của những nước này thành thuộc địa của
riêng họ, làm ảnh hưởng đến thương mại cũng như những lợi ích của Mỹ ở nước
này. Ngoài ra, với chính sách “Mở cửa” Mỹ không những bảo vệ được những
9
thi chính sách đối ngoại Mỹ thế kỷ XIX với việc đáp ứng nhu cầu bành trướng
của nền công nghiệp Mỹ đầu thế kỷ XX6.
Còn đối với các nước cường quốc như Anh, Pháp, Nga, Italia, khi nhận
được một văn bản ngoại giao từ Mỹ yêu cầu các nước này đồng ý với chính sách
“Mở cửa” các quốc gia đều không đồng tình với chính sách mà có lợi cho Mỹ
này nhưng không từ chối ngay lập tức. Những nước này lợi dụng chính sách
“Mở cửa” để tạm thời hòa hoãn những mâu thuẫn, thừa nhận phạm vi ảnh hưởng
của nhau, biến chính sách này thành một hiệp định chia cắt Trung Quốc.
3. Chính sách cây gậy lớn
3.1 Hoàn cảnh ra đời
Thời điểm cuối thế kỷ XIX, Mỹ đã thành công trong việc bành trướng về
phía Tây, tăng cường ảnh hưởng của mình ở nhiều nước Mỹ Latinh. Do đó, khi
tổng thống Theodore Roosevelt (1901 – 1909) lên nắm quyền, dựa trên những
thành công của chính quyền trước, T.Roosevelt tiếp tục mục tiêu bành trướng ra
bên ngoài – mục tiêu mà xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của Mỹ.
Tại Mỹ Latinh, Mỹ tiếp tục cố gắng làm cho khẩu hiệu lý thuyết “châu
Mỹ là của người châu Mỹ” mà thực chất là “Châu Mỹ là của người Mỹ” thành
hiện thực. Do đó, năm 1904, Mỹ tuyên bố về chính sách ngoại giao “Cây gậy
lớn” với ý nghĩa bảo đảm lợi ích của Mỹ ở Tây Bán Cầu thông qua chủ trương
can thiệp quân sự.
3.2 Nội dung
Chính sách ngoại giao “Cây gậy lớn” dưới thời tổng thống T.Rossevelt có
nội dung là khẳng định Mỹ sẵn sàng can thiệp trực tiếp vào bất cứ quốc gia nào
của Mỹ Latinh nhằm mục đích duy trì sự ổn định của khu vực. Tuy nhiên, Mỹ
cũng nói rằng Mỹ chỉ “can thiệp trong trường hợp đó là phương sách cuối cùng
6
Trần Thiện Thanh – Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ giai đoạn 1865 – 1904 – Tạp chí Châu Mỹ ngày nay Số 4/2007 – trang 46
của Mỹ Latinh. Theo đó, tổng thống Rossevelt đã đưa quân đội sang cộng hòa
12
Dominica để đôn thúc việc trả nợ và đưa quân tới Cuba để đàn áp phong trào
cách mạng năm 1906 ở nước này.
Như vậy, với việc thực hiện chính sách “Cây gậy lớn” Mỹ đã tiến thêm một
bước mới trong việc củng cố và tăng cường ảnh hưởng của Mỹ ở Mỹ Latinh.
Đồng thời, bằng việc thể hiện sức mạnh, sự lãnh đạo của Mỹ ở Tây Bán Cầu,
các quốc gia khác cũng e ngại trước những thách thức từ Mỹ.
4. Chính sách ngoại giao đô la
4.1 Hoàn cảnh ra đời
Năm 1909, sau khi tổng thống Taft lên nắm chính quyền, nước Mỹ đã sự
phát triển vượt bậc cả về nông nghiệp và công nghiệp, trở thành một quốc gia
công nghiệp hàng đầu thế giới. Việc sản xuất hàng hóa trong nước vượt lên nhu
cầu tiêu dùng của người dân dẫn đến khủng hoảng thừa trong nước. Nhu cầu về
thị trường tiêu thụ hàng hóa đã khiến tổng thống Taft rất quan tâm tới thương
mại quốc tế. Chính quyền tổng Taft nhắm tới khu vực phát triển của Mỹ latinh
và Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Phát triển thương mại sang những vùng này
sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Mỹ, tiến bộ kinh tế, ổn định chính trị và đảm bảo
quyền lợi chiến lược của Mỹ ở khu vực kém phát triển. Trong thông điệp liên
bang đầu tiên của mình, Taft đã viết: “ngày nay, hơn bao giờ hết, tư bản Mỹ
đang theo đuổi việc đầu tư ở nước ngoài và nhìn chung các sản phẩm của Mỹ
đang tìm kiếm thị trường nước ngoài”. Vì lẽ đó, tổng thống Taft ủng hộ ngoại
trưởng Knox theo đuổi chính sách “Ngoại giao đô la”, dùng sức mạnh quân sự
và ảnh hưởng chính trị để mở rộng các lợi ích thương mại của Mỹ ra bên ngoài.
4.2 Nội dung
Chính sách “Ngoại giao đô la” dưới thời tổng thống Taft có nội dung
chính là bảo vệ các quốc gia Trung Mỹ tránh nạn nợ nước ngoài, nạn khủng
14
LỜI KẾT
Như vậy, qua việc tìm hiểu những học thuyết, chính sách đối ngoại của Mỹ
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ta có thể thấy được các chính quyền Mỹ kế tiếp
nhau đã triển khai được một bước quan trọng trong chiến lược toàn cầu của
mình, đó là khẳng định châu Mỹ là khu vực ảnh hưởng riêng, là "chợ sau" của
Mỹ mà các cường quốc khác trên thế giới không có quyền nhòm ngó. Phạm vi
ảnh hưởng của Mỹ ở những nước này không chỉ trong lĩnh vực chính trị, quân
sự mà còn cả về kinh tế. Mỹ thực sự đã trở thành một đế quốc ở khu vực Châu
Mỹ. Đồng thời, trên cơ sở củng cố và tăng cường sức mạnh của mình, Mỹ đã bắt
đầu vươn vòi "bạch tuộc" tới Châu Á - Thái Bình Dương, xác lập quyền tự do
thương mại ở khu vực quan trọng này.
Trong các giai đoạn về sau, để phù hợp với xư hướng của thời đại, tình
hình trong và ngoài nước, mặc dù chính sách của Mỹ có thay đổi nhưng tư
tưởng cốt lõi, xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của Mỹ vẫn là tư tưởng
bành trướng, tăng cường ảnh hưởng của Mỹ, khẳng định vị thế bá chủ không chỉ
trong lục địa châu Mỹ mà trên toàn thế giới.
Ngoài ý nghĩa thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ, học thuyết Monroe,
chính sách mở cửa, chính sách cây gậy lớn và ngoại giao đô la chính là nền tảng
cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ trong các giai đoạn về sau và
cho tới tận ngày nay. Theo nhận định của nhiều nhà phân tích chính sách đối
ngoại thì chiến lược toàn diện để đối phó với tình trạng khẩn cấp và nghiêm
trọng ở Sudan được tổng thống Mỹ Obama (tổng thống đương nhiệm của Hoa
Kỳ) thông qua chính là một sự học tập, có nguồn gốc từ những chính sách cuối
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX của lịch sử ngoại giao nước Mỹ, đó là chính sách
“ngoại giao đô la” và chính sách “ cây gậy lớn”. Theo đó, tổng thống Mỹ thông
qua kế hoạch dùng cây “gậy tài chính” – kéo dài thời gian áp đặt biện pháp
Nguyễn Đình Luân – Tìm hiểu logic kinh tế trong chính sách đối ngoại của
Mỹ 2007
4.
Dương Quang Hiệp – Từ chính sách “Mở cửa” Trung Quốc hiểu thêm về
tính thực dụng trong chính sách đối ngoại của Mỹ những năm cuối thế kỷ
XIX – Tạp chí khoa học, ĐH Huế - 2008
5.
Nguyễn Thái Yên Hương – Văn hóa Mỹ và việc hình thành chính sách đối
ngoại Mỹ - Tạp chí Châu mỹ ngày nay – số 11/2001
6.
Lê Thu Hằng – Xu hướng chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong lịch sử Tạp chí Châu Mỹ ngày nay – số 5/1999
7.
Nguyễn Lan Hương – Nguồn gốc lịch sử của học thuyết “Sứ mệnh bành
trướng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ” – Tạp chí Châu Mỹ ngày
nay – Số 10/2006
8.
Trần Thiện Thanh – Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ giai đoạn 1865 –
1904 – Tạp chí Châu Mỹ ngày nay - Số 4/2007