Lêi c¶m ¬n
Sự dạy dỗ tận tình của các Thầy, Cô trong bộ môn Thuỷ văn
của Khoa Khí tượng - Thuỷ văn và Hải Dương học trong 2 năm qua
cùng các đồng nghiệp trong Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và
Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường và ở khoa Khí tượng
Thủy văn và Hải dương học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành
luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ vô cùng quý báu
đó của các Thầy, Cô, các bạn đồng nghiệp và đặc biệt là PGS.TS
Nguyễn Thanh Sơn, người hướng dẫn khoa học đã giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lã Thanh Hà và toàn thể cán
bộ Trung tâm Nghiên cứu Thủy văn và Tài nguyên nước - Viện
Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường, những người đã tâm
huyết tạo mọi điều kiện để tác giả có thể hoàn thành luận văn một
cách tốt nhất.
Tác giả xin cảm ơn nhóm thực hiện Đề tài QGTĐ.10.06 đã
cung cấp những tài liệu quý giá giúp học viên trong quá trình thực
hiện luận văn.
Trong thời gian thực hiện luận văn, tác giả còn nhận được
rất nhiều sự giúp đỡ trong các lĩnh vực khác nhau kể cả trong và
ngoài chuyên môn mà ở đây không thể kể ra hết được. Tác giả xin
chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đặc
biệt là các bạn học viên khóa 2008-2010 đã tận tình trao đổi, đóng
góp và động viên tôi rất nhiều để giúp đỡ tôi hoàn thành được luận
văn này.
Hà Nội, tháng 12/2010
Tác giả
Văn Thị Hằng
Chương 3. Mô phỏng ảnh hưởng của biến đối khí hậu tới tài nguyên nước.
Kết luận và kiến nghị
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LƯU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG NHUỆ - ĐÁY
1.1.1 Vị trí địa lý
Lưu vực sông Đáy- Nhuệ nằm ở hữu ngạn sông Hồng trong phạm vi từ
20 đến 21020' vĩ độ Bắc và từ 105 0 đến 106030' kinh độ Đông, với tổng diện tích tự
nhiên là 7665 km2, bao gồm một phần Thủ đô Hà Nội, Hoà Bình, Hà Nội, Hà Nam,
Nam Định, Ninh Bình. Giới hạn của lưu vực như sau:
0
Phía Bắc và Đông Bắc được bao bởi đê sông Hồng từ ngã ba Trung
Hà tới cửa Ba Lạt với tổng chiều dài khoảng 242 km.
Phía Tây Bắc giáp sông Đà từ Ngòi Lát tới Trung Hà với chiều dài
khoảng 33 km.
Phía Tây và Tây Nam là đường phân lưu giữa lưu vực sông Hồng và
lưu vực sông Mã bởi dãy núi Ba Vì, Cúc Phương – Tam Điệp, kết thúc tại núi Mai
An Tiêm (nơi có sông Tống gặp sông Cầu Hội) và tiếp theo là sông Càn dài 10 km
rồi đổ ra biển tại cửa Càn.
Phía Đông và Đông Nam là biển Đông có chiều dài khoảng 95 km từ
cửa Ba Lạt tới cửa Càn.
Sông bắt nguồn từ cống Liên Mạc (21 005’27” vĩ độ Bắc, 105046’12” kinh độ
Đông) lấy nước từ sông Hồng trong địa phận huyện Từ Liêm (thành phố Hà Nội) và
điểm kết thúc là cống Phủ Lý khi hợp lưu với sông Đáy gần thành phố Phủ Lý
sang Đông. Phần lớn là các dãy núi thấp có độ cao trung bình 400 - 600m được cấu
tạo bởi các đá trầm tích lục nguyên, cacbonat; chỉ một vài khối núi có độ cao trên
1.000m được cấu tạo bởi đá trầm tích phun trào như khối núi Ba Vì có đỉnh cao
1.296m, khối núi Viên Nam có đỉnh cao 1.031m và cấu tạo bởi đá xâm nhập granit
như khối núi Đồi Thơi (Kim Bôi - Hoà Bình) có đỉnh cao 1.198m. Địa hình núi
trong khu vực cũng có sự phân dị và mang những đặc trưng hình thái khác nhau.
Địa hình đồi được tách ra với địa hình núi và đồng bằng bởi độ chênh cao
- Do lưu vực sông Nhuệ - Đáy có địa hình đa dạng, với các vùng đồi, núi và
2/3 diện tích là đồng bằng, nên trên lưu vực có nhiều hệ sinh thái khác nhau như
rừng trên núi đất, núi đá vôi, các hệ sinh thái thủy vực nước ngọt, các vùng đất ngập
nước.
- Phần lớn lưu vực là những vùng đồng bằng đã bị khai phá từ lâu đời. Nhưng
với một phần là diện tích rừng núi thuộc các khu rừng đặc rụng như Cúc Phương,
Ba Vì, khu bảo vệ cảnh quan Hương Sơn, Hoa Lư, Vân Long, ngập nước mặn với
7
thế giới sinh vật trong lưu vực vô cùng phong phú, đa dạng. Tính đến năm 2002
toàn lưu vực có khoảng 16770ha rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên 3922ha,
diện tích rừng trồng 12484ha. Hệ sinh thái tự nhiên trong lưu vực sông Nhuệ - sông
Đáy gồm:
• Hệ sinh thái rừng kín cây lá rộng
• Hệ sinh thái trảng cây bụi, cỏ trên núi đất
• Hệ sinh thái rừng kín thường xanh cây lá rộng nhiệt đới trên núi đá vôi
• Hệ sinh thái trảng cây bụi, trảng cỏ trên núi đá vôi
1.1.5 Khí hậu
Khu vực nghiên cứu có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa - kiểu khí hậu chung của vùng đồng
bằng Bắc Bộ - với mỗi năm có một mùa đông lạnh và khô; một mùa hè nóng, ẩm và mưa nhiều.
Giữa hai mùa này có sự chuyển giao về khí hậu, điển hình là tháng IV và tháng X nên có thể coi khí
hậu ở đây có 4 mùa.
Bức xạ mặt trời là nguồn nhiệt chính tạo nên nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất. Phân bố
bức xạ trong năm liên quan đến tiến trình năm của độ cao mặt trời và thời gian chiếu sáng trong
ngày. Tổng lượng bức xạ hàng năm ở khu vực nghiên cứu cỡ 122,8 kcal/cm2/năm. Bức xạ cực đại
thường xảy ra vào tháng VII (15,2 kcal/cm2/tháng) và cực tiểu thường xảy ra vào tháng II (5,2
kcal/cm2/tháng). Số giờ nắng hàng năm đạt dao động trong khoảng từ 1300 đến 1700 giờ.
Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối tới 42,8oC, thấp nhất tuyệt đối chỉ 2,7oC, trung bình
năm dao động trong khoảng 23 ÷ 24oC. Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng chung của sự
tháng XII, I và II. Tổng lượng mưa của ba tháng này chỉ chiếm khoảng 4,2% tổng lượng mưa năm
[8].
1.1.6 Thủy văn
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy gồm 2 nhánh chính là sông Đáy và Nhuệ, ngoài
ra có rất nhiều các chi lưu như: sông Tích, sông Bùi, sông Thanh Hà.
Tại điểm giao nhau giữa sông Đáy và sông Hồng thuộc địa phận thành phố Hà
Nội có 2 công trình kiểm soát lũ trên sông Đáy, điều tiết dòng chảy từ sông Hồng vào.
Khi đập Đáy đóng, phần thượng lưu là một sông chết do không có nước nuôi lòng.
Sông Tích có chiều dài 91 km, bắt nguồn từ vùng đồi núi Ba Vì, đổ vào sông
Đáy tại Ba Thá. Dòng chảy năm của sông Tích và sông Đáy đo tại trạm Ba Thá là
1,35 tỉ m3, chiếm 4,7% tổng lượng dòng chảy năm tại cửa ra lưu vực.
Sông Thanh Hà bắt nguồn từ dãy núi đá vôi gần Kim Bôi – Hòa Bình, chảy
vào vùng đồng bằng từ ngã ba Đông Chiêm ra đến Đục Khê, được ngăn cách giữa
cánh đồng và núi bởi kênh Mỹ Hà, đưa nước chảy thẳng vào sông Đáy. Diện tích
lưu vực là 271 km2, sông dài 40 km, chiều rộng trung bình lưu vực 9 km [5].
Chế độ thủy văn lưu vực sông Đáy không những chịu ảnh hưởng của các yếu
tố mặt đệm trên bề mặt lưu vực, các yếu tố khí hậu mà còn phụ thuộc vào chế độ
dòng chảy của nước sông Hồng và các sông khác. Vì thế mà chế độ thủy văn ở đây
rất phức tạp và có sự khác nhau nhất định giữa các đoạn sông. Dòng chảy trên lưu
vực sông phân bố không đều theo không gian và thời gian. Theo không gian, dòng
chảy lớn nhất là ở núi Ba Vì, phần hữu ngạn lưu vực có dòng chảy lớn hơn phần tả
ngạn. Sự phân bố theo thời gian thể hiện rõ nét thông qua phân phối dòng chảy
trong năm. Phân phối dòng chảy năm phụ thuộc vào sự phân phối theo mùa của
lượng mưa năm nên dòng chảy trong năm cũng phân phối không đều và thể hiện hai
9
mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng V đến tháng X chiếm 8085% lượng mưa cả năm . Mùa khô từ tháng XI đến tháng IV năm sau.
Lượng nước mùa lũ ở hầu hết các sông chiếm từ 70- 80% lượng nước năm.
b) Vùng đồng bằng. Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng 60% lãnh
thổ, địa hình khá bằng phẳng có độ cao < 20m và thấp dần từ Tây sang Đông, từ
Tây Bắc xuống Đông Nam. Hướng chảy của sông Nhuệ - Đáy luôn thay đổi:
thượng nguồn hướng Bắc-Nam; trung lưu và hạ lưu hướng Tây Bắc-Đông Nam.
Thượng lưu sông Nhuệ - Đáy uốn khúc quanh co, hẹp và dốc, nhiều thác ghềnh,
nước chảy xiết là nguy cơ tạo ra các hiện tượng xói lở, lũ quét...
Lưu vực sông Nhuệ-Đáy được cấu thành bởi các đá biến chất, trầm tích,
trầm tích phun trào, các đá xâm nhập và trầm tích bở rời tuổi từ Protezozoi đến
hiện đại. Dựa vào thành phần thạch học, các thông số địa chất thuỷ văn và đặc
điểm thuỷ động lực,... có thể phân chia vùng nghiên cứu thành 7 tầng chứa nước.
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy gồm có các nhóm đất chính: Nhóm đất mặn; phù sa;
xám; vàng đỏ; đất xói mòn trơ sỏi đá...
Do lưu vực sông Đáy-Nhuệ có địa hình đa dạng, với các vùng đồi, núi và
2/3 diện tích là đồng bằng, nên trên lưu vực có nhiều hệ sinh thái khác nhau như
rừng trên núi đất, núi đá vôi, các hệ sinh thái thủy vực nước ngọt, các vùng đất
ngập nước. Hiện nay rừng đầu nguồn lưu vực sông đang bị tàn phá nghiêm trọng.
Diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp đáng kể. Theo số liệu khảo sát gần đây nhất, diện
tích rừng trên lưu vực thuộc địa bàn Hà Nội chiếm 160.84km 2 (chiếm 6.36% diện tích
lưu vực trên địa bàn Hà Nội), trong đó có 55.2km 2 là rừng dự trữ; 105.64km 2 là rừng
dày-nghèo [8].
Khí hậu lưu vực sông Nhuệ-Đáy khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc Bộ với
đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh,
mưa ít. Lượng mưa phân bố không đồng đều, trung bình hàng năm 1.800mm. Hữu
ngạn của lưu vực mưa khá lớn (X > 1800mm), nhất là vùng đồi núi phía Tây (X
>2000mm). Trung tâm mưa lớn nhất ở thượng nguồn sông Tích thuộc núi Ba Vì
(X=2200-4000mm). Phần tả ngạn lưu vực lượng mưa tương đối nhỏ (X=15001800mm), nhỏ nhất ở thượng nguồn sông Đáy, sông Nhuệ (X=1500mm), và lại
tăng dần ra phía biển (1800-2000mm).
Khu vực ô trũng đầm lầy về mùa mưa, thường xuyên bị úng ngập, đặc biệt
những khu vực nằm trong vùng phân lũ của sông Đáy, bởi vậy mỗi khi có báo động
III hoặc phân lũ thì bị ngập nước ở độ sâu từ 1- 4m.
Ba Thá
2019
4
Vân Đình
1699
5
Hà Đông
1595
6
Xuân Mai
1807
7
Hà Nội
1656
Chế độ nhiệt phân hoá khá rõ rệt theo đai cao trong khu vực nghiên cứu. Nhiệt
thủy nông Đan Hoài. Sông Nhuệ còn tiêu nước cho thành phố Hà Nội, thị xã Hà Đông
và chảy vào sông Đáy tại thành phố Phủ Lý . Nước sông Tô Lịch thường xuyên xả vào
sông Nhuệ với lưu lượng trung bình từ 11-17m 3/s, lưu lượng cực đại đạt 30m 3/s. Các
sông chính trong lưu vực: sông Nhuệ, sông Thanh Hà, sông Tích, sông Bùi và Sông
Tô Lịch là nhánh chính của sông Nhuệ, nhận nước từ sông Lừ, Kim Ngưu, Sét [9]
1.3. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI
a) Phân bố dân cư
Dân số trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy trên lưu vực nghiên cứu ước tính
đến năm 2009 là 10,77 triệu người, mật độ trung bình đạt 1405 người/km 2, cao gấp
5,5 lần so với bình quân chung của cả nước (252 người/km 2). Đặc biệt là thủ đô Hà
Nội, nơi tập trung đông dân nhất, tổng số dân của Hà Nội tính đến 1/4/2009 là
6472200 người, mật độ dân số trung bình là 1979 người/ km 2 . Mật độ dân số đông
nhất thuộc quận Đống Đa lên tới 35341 người/km2.
Kết quả điều tra dân số 4/2009 cho thấy, nguồn nhân lực lao động của toàn
lưu vực tăng nhanh, đặc biệt là ở thành thị. Cho đến năm 2009 tốc độ tăng của lực
lượng lao động đạt 2,5%/năm, ở thành thị tốc độ tăng của lực lượng lao động là
5,7%, trong khi đó vùng nông thôn chỉ đạt 1,75%.
Tốc độ tăng lao động nhanh không phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế, nên số người thất nghiệp và thiếu việc làm ở đây khá cao, tác động xấu đến
môi trường tự nhiên, môi trường xã hội.
Sự phân bố nguồn nhân lực và tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực giữa các
vùng, các địa phương cũng rất khác nhau, không tương ứng với nguồn tài nguyên
thiên nhiên như đất, nước, rừng và khoảng sản cũng như không phù hợp với tốc độ
tăng của nền kinh tế. Điều đó dẫn đến những luồng di chuyển dân cư lao động từ
vùng này sang vùng khác, cũng là nguyên nhân gây mâu thuẫn, xung đột trong việc
khai thác, sử dụng tài nguyên trong vấn đề tìm kiếm việc làm.
Bảng 1.2: Tình hình phát triển dân số giai đoạn 1990-2009 (1000 người)
Năm
1990
2739,2
3007,0
6472
Hà Tây
2116,7
2299,0
2414,1
2479,4
Hà Nam
722,3
763,7
795,5
814,9
785,0
Nam Định
792,3
832,5
b)Tình hình phát triển kinh tế
Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy là khu vực có nền kinh tế - xã hội phát triển
liên tục từ rất lâu đời, cho đến ngày nay đây vẫn là một vùng kinh tế - xã hội phát
triển nhất đồng bằng sông Hồng. Ngoài ra, vùng còn có nhiều thị trấn, huyện lỵ với
qui mô dân số mỗi thị trấn, huyện lỵ khoảng 3000 - 5000 người. Những năm qua
các cơ sở hạ tầng của các khu đô thị đang phát triển mạnh, nhưng chưa được đầu tư
thích đáng và chưa đáp ứng được nhu cầu phất triển. Trong tương lai định hướng
phát triển đô thị vùng được bố trí theo cụm hay theo chùm. [8]
1.4. HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC
a) Lưu vực sông Đáy
Lưu vực sông Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội với chiều dài 114 km. Các
chi lưu của sông Đáy: sông Tích, sông Bùi, sông Thanh Hà. Mùa lũ kéo dài từ tháng
6 đến tháng 9, lượng dòng chảy chiếm 70 – 80% tổng lượng dòng chảy năm.
Bảng 1.3: Tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Đáy
Tần suất xuất
hiện
Tài nguyên nước mặt ( tỷ m3)
Sản sinh trên lưu
Sông Đào
Sông Ninh Cơ
vực
50%
Trong mùa mưa, mực nước và lưu lượng các sông suối lớn thay đổi nhanh,
tốc độ dòng chảy đạt từ 2- 3 m/s, biên độ mực nước trong từng con lũ thường 4- 5
m. Mực nước và lưu lượng lớn nhất năm có có khả năng xuất hiện trong tháng VII,
VIII, hoặc IX, nhưng phổ biến vào tháng VIII. Phân phối dòng chảy năm lưu vực
sông Đáy được trình bày trong bảng (1.4) [5].
Bảng 1.4: Phân phối dòng chảy năm các trạm thuộc lưu vực sông Đáy
Tháng
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Mùa lũ
Mùa cạn
Năm
Sông Bùi
Q (m3/s)
Tỷ lệ %
0 ,313
2 ,38
Q (m3/s)
Tỷ lệ %
8 ,27
2 ,35
8 ,49
2 ,42
7 ,22
2 ,05
13 ,4
3 ,81
24 ,5
6 ,97
33 ,6
9 ,36
34 ,4
9 ,79
56 ,5
16 ,1
77 ,1
21 ,9
46 ,8
13 ,3
22 ,8
6 ,49
18 ,3
5 ,21
49 ,7
70 ,7
14 ,7
29 ,3
98 ,3
78 ,6
19 ,2
21 ,4
52 ,9
100
Nguồn: Cục Bảo Vệ Môi Trường 2006
b) Lưu vực sông Nhuệ
Sông Nhuệ là một con sông nhỏ dài 74 km, nhận nước từ sông Hồng và
lượng mưa trên toàn lưu vực khống chế của sông Nhuệ cuối cùng đổ vào sông Đáy
qua cống Lương Cổ ở khu vực thành phố Phủ Lý. Về mùa kiệt cống Liên Mạc luôn
mở để lấy nước sông Hồng vào sông Nhuệ, còn về mùa lũ chỉ mở khi mực nước
sông Hồng dưới báo động cấp I và trong đồng có nhu cầu cấp nước. Cống Lương
Cổ về mùa lũ luôn luôn mở để tiêu nước và chỉ đóng lại khi có phân lũ qua đập
Đáy. Nước sông Tô Lịch thường xuyên xả vào sông Nhuệ với lưu lượng trung bình từ
11-17m3/s, lưu lượng cực đại đạt 30m3/s .
c) Tình trạng ô nhiễm nước trên lưu vực
Trong những năm gần đây, tình hình phát triển kinh tế - xã hội diễn ra rất
mạnh đem lại nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, ngoài
những lợi ích mang lại, thì tình trạng ô nhiễm do những mặt trái của các hoạt động
17
trên gây ra đang ở mức báo động. Môi trường nói chung và môi trường nước nói
riêng trong khu vực đang bị ô nhiễm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ
người lao động cũng như người dân sống quanh vùng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến môi trường bị ô nhiễm, hầu hết là do việc xả
thải vào môi trường không đảm bảo tiêu chuẩn và quy trình gây nên tình trạng mất
động của con người [1,2].
Theo số liệu quan sát cho thấy xu thế chung từ cuối thế kỷ XIX đến nay,
nhiệt độ trung bình không khí và đại dương toàn cầu tăng lên. Kết quả đo đạc và
nghiên cứu cho thấy thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua
(IPCC, 2001). Từ 1995-2006 có đến 11 năm nằm trong số 12 năm nhiệt độ lớn nhất
theo số liệu đo đạc nhiệt độ toàn cầu từ 1850. Nhiệt độ trong 100 năm 1906-2005
tăng 0.,74 (0.,56-0.,92) lớn hơn so với giai đoạn 100 năm 1901-2000 (0.,6 0.,4:0.,8). Xu hướng trong 50 năm từ 1956-2005 ((0.,13[0.,10 to 0.,16]°C) gần gấp
đôi so với giai đoạn 100 năm từ 1906 đến 2005. Nhiệt độ tăng lên cao hơn ở các vĩ
độ cao ở Bắc bán cầu: nhiệt độ ở Bắc bán cầu trung bình tăng gần gấp đôi của toàn
cầu trong giai đoạn 100 năm qua. Nhiệt độ ở đất liền tăng nhanh hơn đại dương.
Theo quan sát từ 1961 thì nhiệt độ đại dương tăng ở cả độ sâu ít nhất là 3000 m. Đại
dương đã chiếm 80% lượng nhiệt của hệ thống khí hậu.Theo kết quả phân tích từ
khinh khí cầu và vệ tinh thì tốc độ nóng lên ở giữa tầng đối lưu và thấp hơn giống
với tốc độ của nhiệt độ bề mặt [3,4].
Hiện tượng mưa cũng biến động đáng kể, lượng mưa tăng đáng kể trong giai
đoạn từ 1900 đến 2005 ở các nước nằm ở phía Tây của Bắc và Nam Mỹ, Châu Âu,
Bắc và Trung tâm Châu Á. Trong khi đó nó giảm ở Sahel, Địa Trung Hải, Bắc Phi
và Nam Châu Á. Tương ứng với sự nóng lên toàn cầu, mực nước trung bình đại
dương cũng tăng lên do bằng tan và sự giãn nở nhiệt đại dương. Mực nước biển
tăng với tốc độ trung bình 1.,8 [1.,3 - 2.,3] mm một năm trong giai đoạn 1961-2003.
Tốc độ là 3.,1 [2.,4 - 3.,8] mm trong giai đoạn 1993-2003. Cùng với xu thế tăng
nhiệt độ toàn cầu là sự phân bố dị thường của nhiệt độ. Trên các đại lục ở Bắc Bán
Cầu, trong những năm gần đây xuất hiện hàng loạt kỷ lục về nhiệt độ cao và thấp.
[1-4]
a) Biểu hiện của Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
19
Theo các kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy các yếu tố của khí
đạo của bão có nhiều dịch chuyển dần về phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn,
20
nhiều cơn bão có đường đi dị thường hơn.
Mưa phùn: Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần từ thập kỷ
1981 – 1990 và chỉ còn một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây.
Mực nước biển: Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn dọc ven biển Việt Nam
cho thấy tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay là
khoảng 3mm/năm (1993 - 2008), tương đương tốc độ trung bình trên thế giới.
Trong 50 năm qua, mực nước biển tại Hòn Dấu dâng lên khoảng 20cm.
Hình 2.2: Diễn biến mực nước biển tại trạm hải văn Hòn Dấu
b) Cơ sở xây
dựng kịch bản biến
đổi khí hậu
Theo ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), kịch bản biến đổi khí
hậu là bức tranh toàn cảnh của khí hậu trong tương lai dựa trên một tập hợp các
mối quan hệ khí hậu, được xây dựng để sử dụng trong nghiên cứu những hậu quả
của biến đổi khí hậu do con người gây ra và thường được dùng như là đầu vào các
mô hình đánh giá tác động. Hiện nay có nhiều quốc gia, nhiều khu vực xây dựng
kịch bản biến đổi khí hậu với quy mô khu vực, quốc gia và các vùng khí hậu hoặc
phạm vi nhỏ hơn. Về khung thời gian, hầu hết các kịch bản biến đổi khí hậu thường
được xây dựng cho từng thập kỷ của thế kỷ 21.
Biến đổi khí hậu hiện nay cũng như trong thế kỷ 21 phụ thuộc chủ yếu vào
mức độ phát thải khí nhà kính, tức là phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì
vậy, các kịch bản biến đổi khí hậu được xây dựng dựa trên các kich bản phát triển
kinh tế - xã hội toàn cầu. Con người đã phát thải quá mức khí nhà kính vào khí
quyển từ các hoạt động khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận
tài, phá rừng,… Do đó, cơ sở xác định các kịch bản phát thải khí nhà kính là :
Trong Báo cáo đặc biệt về các kịch bản phát thải khí nhà kính năm 2000,
IPCC đã đưa ra 40 kịch bản, phản ánh khá đa dạng khả năng phát thải khí nhà kính
trong thế kỷ 21. Các kịch bản phát thải này được tổ hợp thành 4 kịch bản gốc là A1,
A2, B1 và B2 với các đặc điểm chính sau:
•
Kịch bản gốc A1: Kinh tế thế giới phát triển nhanh; dân số thế giới
tăng đạt đỉnh vào năm 2050 và sau đó giảm dần; truyền bá nhanh chóng và hiệu quả
công nghệ mới; thế giới có sự tương đồng về thu nhập và cách sống, có sự tương
đồng giữa các khu vực, giao lưu mạnh mẽ về văn hóa và xã hội toàn cầu. Họ kịch
bản A1 được chia thành 3 nhóm dựa vào theo mức độ phát triển của công nghệ:
o
A1F1: Tiếp tục sử dụng thái quá các nhiên liệu hóa thạch ( kịch bản
phát thải cao)
o
A1B: Có sự cân bằng giữa các nguồn năng lượng (kịch bản phát thải
trung bình)
o
A1T: Chú trọng đếên việc sử dụng các nguồn năng lượng phi hóa
thạch (kịch bản phát thải thấp)
Hình 2.3 .: Sơ đồ
biểu thị 4 kich bản gốc về
phát thải khí nhà kính
kỷ 21, có thể được tóm tắt như sau:
Về nhiệt độ. Nhiệt độ mùa đông có thể tăng nhanh hơn so với nhiệt độ mùa
hè ở tất cả các vùng khí hậu của nước ta. Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc có
thể tăng nhanh hơn so với các vùng khí hậu phía Nam.
Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình
năm ở các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980-1999
khoảng từ 1,6 đến 1,9oC và ở các vùng khí hậu phía Nam tăng ít hơn, chỉ khoảng từ
1,1 đến 1,4oC.
Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ
trung bình năm có thể tăng lên 2,4 oC ở Tây Bắc, 2,3oC ở Đông Bắc, 2,2oC ở Đồng
bằng Bắc Bộ, 2,6oC ở Bắc Trung Bộ, 1,8oC ở Nam Trung Bộ, 1,5oC ở Tây Nguyên
và 1,9oC ở Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999.
Theo kịch bản phát thải cao (A2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình
năm ở các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999
khoảng 3,1 đến 3,6oC, trong đó Tây Bắc là 3,3 oC, Đông Bắc là 3,2oC, Đồng bằng
Bắc Bộ là 3,1oC và Bắc Trung Bộ là 3,6 ooC. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm của
các vùng khí hậu phía Nam là 2,4oC ở Nam Trung Bộ, 2,1oC ở Tây Nguyên và
2,6oC ở Nam Bộ.
Về lượng mưa. Lượng mưa mùa khô có thể giảm ở hầu hết các vùng khí hậu
của nước ta, đặc biệt là các vùng khí hậu phía Nam. Lượng mưa mùa mưa và tổng
lượng mưa năm có thể tăng ở tất cả các vùng khí hậu.
23
Theo kịch bản phát thải thấp vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể tăng
khoảng 5% ở Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và từ 1 - 2% ở
Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999 .
Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ giảm từ 3-6% ở các vùng khí hậu
phía Bắc và lượng mưa vào giữa mùa khô ở các vùng khí hậu phía Nam có thể giảm
tới 7 - 10% so với thời kỳ 1980 - 1999. Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa
0,8
1,3
2,0
2,8
Đông Bắc
0,7
1,2
1,5
1,7
0,7
1,2
1,8
2,3
0,7
1,3
Bắc Trung Bộ
0,8
1,4
1,7
1,9
0,8
1,5
2,1
2,6
0,9
1,5
2,2
3,1
Nam Trung Bộ
0,6
1,1
0,5
0,8
1,2
1,5
0,5
0,8
1,3
1,8
Nam Bộ
0,6
1,0
1,3
1,4
0,6
9% ở Tây Bắc, Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ, khoảng 13% ở Bắc Trung Bộ,
lượng mưa vào giữa mùa khô ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ có thể giảm
tới 13 - 22% so với thời kỳ 1980 - 1999.
Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 12 đến 19% ở cả bốn
vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam Bộ chỉ vào
khoảng 1 - 2% .
Bảng 2. 2. :Mức tăng lượng mưa trung bình năm (%) so với thời kỳ
1980 - 1999 theo các kịch bản phát thải
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
Vùng
KB-B1
KB-B2
KB-A2
2030 2050 2070 2090 2030 2050 2070 2090 2030 2050 2070 2090
Tây Bắc
2,1
3,6
4,4
4,8
2,1
6,8
2,2
2,8
5,7
8,0
Đồng bằng Bắc Bộ
2,3
3,9
4,8
5,2
2,3
4,1
5,9
7,3
2,3
8,4
Nam Trung Bộ
1,0
1,6
2,0
2,2
1,0
1,7
2,4
3,0
1,0
1,7
2,5
3,6
Tây Nguyên
0,9
1,0
0,4
0,8
1,1
1,4
0,4
0,7
1,2
1,6
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường
d) Lựa chọn kịch bản biến đổi khí hậu cho khu vực nghiên cứu
Theo Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam [2] các kịch
bản phát thải khí nhà kính chọn để tính toán xây dựng kịch bản cho khí hậu 7 vùng
của Việt Nam là kịch bản phát thải thấp (kịch bản B1), kịch bản phát thải trung bình
của nhóm các kịch bản phát thải trung bình (kịch bản B2) và kịch bản phát thải
trung bình của nhóm các kịch bản phát thải cao (kịch bản A2).
Dựa vào các điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội, dân số và mức độ
quan tâm đến môi trường của khu vực. Trong luận văn này đã lựa chọn 2 kịch bản