Một số phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm môn Hóa học THCS
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
A- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hóa học là một trong các môn khoa học cơ bản có đóng góp quan trọng vào
sự phát triển của xã hội. Quá trình phát triển của khoa học công nghệ đòi hỏi sự ra
đời của các vật liệu mới, thuốc chữa bệnh... Bên cạnh những vai trò của hóa học
với nền khoa học kĩ thuật thì hóa học còn giúp học sinh giải thích được nhiều hiện
tượng thú vị trong đời sống hàng ngày như sự biến đổi của các chất khi chế biến
thức ăn. Tại sao bột nở lại làm cho bánh xốp hơn?. Sắt để ngoài không khí bị gỉ
do đâu?... có hàng nghìn câu hỏi dạng như vậy xuất hiện trong đầu học sinh đang
cần giải đáp.
Môn Hóa học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo nói
chung, của trường THCS nói riêng. Môn Hóa học ở trường THCS có những đặc
trưng riêng. Nội dung kiến thức của môn học này luôn luôn gắn liền với sự vật và
hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Việc khám phá và tiếp thu kiến thức
phụ thuộc rất nhiều vào các thí nghiệm bởi đặc điểm của khoa học Hóa học vốn là
khoa học thực nghiệm và nguyên tắc dạy học là nguyên tắc trực quan “học đi đôi
với hành”.
Làm các thí nghiệm Hóa học có tác dụng to lớn trong việc phát triển nhận
thức của học sinh, phù hợp với nguyên lý giáo dục, giúp các em quen dần với
phương pháp nghiên cứu khoa học, vì qua đó các em được tập quan sát, tư duy
biên chứng, rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, góp phần giáo dục kỹ năng sống,
chuẩn bị cho học sinh tham gia hoạt động thực tế. Do được tự mình tiến hành các
thao tác thí nghiệm… các em có thể nhanh chóng làm quen với những dụng cụ và
thiết bị dùng trong đời sống và sản xuất sau này.
Trong chương trình Hóa học 8, học sinh đã làm quen với các thao tác thí
nghiệm đơn giản, tập đưa ra “Dự đoán’’ và được giáo viên hướng dẫn làm thí
nghiệm để kiểm tra tính đúng đắn của dự đoán. Lên lớp 9 phương pháp này được
phát triển và được nâng cao hơn, học sinh thường xuyên đưa ra nhiều dự đoán khác
hiểu kiến thức vững chắc, sâu sắc hơn.
Hình thành và củng cố tư duy hóa học về sự biến đổi chất, các hiện tượng
hóa học đặc trưng, dự đoán hiện tượng thí nghiệm …
C- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Tìm hiểu bằng cách đọc, nghiên cứu tài liệu về phương pháp dạy thí
nghiệm Hóa học.
-Thu thập các tư liệu có liên quan đến đề tài: Sách giáo khoa Hóa học, các
bài học có làm thí nghiệm, các sách tham khảo về phương pháp dạy Hóa học.
2. Phương pháp điều tra sư phạm
- Điều tra trực tiếp bằng cách dự giờ phỏng vấn.
- Điều tra gián tiếp bằng cách sử dụng phiếu điều tra.
3. Tham khảo ý kiến cũng như phương pháp giảng dạy Hóa học của đồng
nghiệp thông qua các buổi họp chuyên đề,dự giờ thăm lớp.
4. Lấy thực nghiệm việc giảng dạy Hóa học ở trên lớp đặc biệt là những bài học
Hóa học có thí nghiệm để tìm ra hướng rèn kĩ năng làm thí nghiệm cho các em học
sinh.
Áp dụng sáng kiến vào dạy học thực tế từ đó thu thập thông tin để điều
chỉnh cho phù hợp.
GV: Trang 2
Một số phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm môn Hóa học THCS
PHẦN II :NỘI DUNG
A- TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Qua nhiều năm giảng dạy môn Hóa học tại trường THCS Đoàn Thị Điểm tôi
đã thường xuyên sử dụng các biện pháp nhằm thực hiện thành công các thí nghiệm,
từ đó làm cho học sinh hứng thú hơn trong học tập môn Hóa học. Tôi áp dụng
những biện pháp này trong tình hình thực tế như sau:
GV: Trang 3
Một số phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm môn Hóa học THCS
hiểm do hóa chất và dụng cụ bị vỡ. Từ lí thuyết áp dụng vào thực tế còn chưa tự tin,
chưa thành thạo.
2- Về giáo viên:
Một số giáo viên thì ngại dạy môn Hóa học vì nó có nhiều thí nghiệm mà
giáo viên nghiên cứu chưa kĩ các phương pháp dạy thí nghiệm Hóa học nên vẫn
còn lúng túng trong cách tổ chức hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm. Một số giáo
viên khác lại ngại không cho học sinh thực hành thí nghiệm mà chỉ giáo viên làm
cho học sinh quan sát vì kĩ năng làm của các em quá chậm ảnh hưởng đến thời
lượng 45 phút của tiết học.
Ở một số thí nghiệm giáo viên làm không thành công từ đó làm học sinh
hoang mang tiếp thu kiến thức một cách bị thụ động ép buộc
3- Về cơ sở vật chất:
Một số thiết bị và hóa chất thí nghiệm qua một thời gian sử dụng đã bị hỏng
không còn đáp ứng được yêu cầu của bộ môn nên có một số thí nghiệm giáo viên
chỉ thông báo kết quả, học sinh không được trực tiếp làm thí nghiệm.
Nhà trường đã có phòng học bộ môn rất thuận lời cho việc tổ chức các tiết
học có thực hành, thí nghiệm
Trước những tình hình đó, tôi cố gắng phát huy những thuận lợi của nhà
trường, đồng thời khắc phục khó khăn, tìm mọi biện pháp để các thí nghiệm Hóa
học được thành công
B- NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT:
Tôi đã tổng hợp các thí nghiệm Hóa học lớp 8, 9 và phân chia các thí
nghiệm thành các loại thí nghiệm, với mỗi bài lại tìm ra các hình thức tổ chức khác
nhau đối với mỗi thí nghiệm:
1- Phân loại thí nghiệm: phân theo mức độ hoạt động tích cực của học sinh
vậy, giáo viên phải làm trước nhiều lần trong khi chuẩn bị bài.
+ Giáo viên phải làm trước thí nghiệm để đảm bảo thành công, tránh trường
hợp thí nghiệm thất bại do chất lượng hóa chất, dụng cụ…
- Thí nghiệm phải ngắn gọn một cách hợp lí : Nếu thí nghiệm kéo dài sẽ
khó tập trung sự chú ý của học sinh và dễ cháy giáo án. Muốn vậy giáo viên phải
hạn chế tối đa thời gian lắp ráp thí nghiệm. Thí nghiệm đảm bảo thành công ngay
không phải làm lại. Nếu thí nghiệm kéo dài có thể chia ra nhiều bước, mỗi bước
coi như một thí nghiệm nhỏ.
- Thí nghiệm phải đảm bảo cho cả lớp quan sát : Để làm tốt điều này, giáo
viên cần phải:
Chuẩn bị dụng cụ thích hợp, có kích thước đủ lớn, có cấu tạo đơn giản thể
hiện rõ được bản chất của hiện tượng cần nghiên cứu.
Sắp xếp dụng cụ một cách hợp lí. Điều này biểu hiện:
+ Chỉ bày những dụng cụ cần thiết cho thí nghiệm, không bày la liệt những
dụng cụ chưa dùng đến hoặc chưa dùng xong.
+ Bố trí sao cho cả lớp đêu nhìn rõ. Muốn như vậy nên sắp xếp dụng cụ trên
mặt phẳng cao so với mặt đất, tốt nhất dùng mặt bàn giáo viên. Nếu không được
GV: Trang 5
Một số phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm môn Hóa học THCS
phải đem đến tận bàn cho học sinh xem. Giáo viên cũng cần chú ý không che lấp
thí nghiệm khi thao tác.
- Sử dụng thí nghiệm đối chứng: Nhằm giúp học sinh rút ra kết luận một
cách chính xác nhất diện và toàn diện nhất về hiện tượng hoặc tính chất của chất
thể hiện trong thí nhgiệm.
-Thí nghiệm phải đảm bảo an toàn cho người và dụng cụ thí nghiệm: Đối
với các chất dễ cháy, nổ phải để xa ngọn lửa và nếu nó bốc cháy thì phải dùng cát
hoặc bao tải ướt phủ lên. Với những chất độc hại như clo, khí SO2 thì phải hết sức
Cách tiến hành thí nghiệm:
GV lấy đinh sắt cho vào ống nghiệm đựng dd HCl. HS sẽ thấy đinh sắt tan
ra và xuất hiện bọt khí.
Sau khi thí nghiệm được tiến hành giáo viên đặt vấn đề vào bài mới: Chất
lỏng này tại sao có thể hòa tan được sắt? Tại sao lại có khí sinh ra và sắt tan đi
đâu? Tất cả sẽ được giải đáp khi chúng ta học môn hóa học?
Vậy hóa học là gì? ngoài những hiện tượng tương tự như trên hóa học còn
nghiên cứu những vấn đề gì? Chúng ta cùng tìm hiểu bài
Cơ sở lí thuyết của thí nghiệm:
HCl tác dụng với Fe làm Fe tan ra tao thành muối FeCl2 và giải phóng khí H2
GV viên có thể tiến hành 2,3 thì nghiệm có hiện tượng nổi bật, đặc biệt là có
sự thay đổi màu sắc ví dụ: Cho mẩu Na vào cốc nước có sẵn phenol phtalein; đổ
dung dịch BaCl2 vào dung dịch Na2SO4...
Ví dụ 2:
BÀI 19:
SẮT .
Khi tìm hiểu TCHH của sắt giáo viên có thể làm thí nghiệm Fe tác dụng với
H2SO4 đặc nguội
Chuẩn bị:
Dụng cụ: 2 ống nghiệm, giá, kẹp
Hóa chất: Fe dạng phoi bào, dd H2SO4 đặc, HNO3 đặc4
Thí nghiệm:
Thí nghiệm sắt tác dụng với HNO3 đặc, nguội và H2SO4 đặc, nguội. GV nêu
vấn đề: Sắt tác dụng với HCl, H2SO4 loãng nhưng liệu sắt có (tác dụng) phản ứng
với HNO3 đặc nguội và H2SO4 đặc, nguội không?
Cách tiến hành thí nghiệm:
GV tiến hành thí nghiệm: cho mảnh sắt vào axit H2SO4 đặc nguội rồi yêu
cầu học sinh quan sát và nêu hiện tượng
tử benzen.
PTHH:
Fe
C6H5Br(l) + HBr(k)
C6H6(l) + Br2(l)
t0
đỏ nâu
không màu
? Phản ứng trên thuộc loại nào?
Học sinh nghe và ghi nhớ: Benzen phản ứng thế với brom lỏng (màu đỏ)
Giáo viên : ? Còn dung dịch brom thì thế nào?
- Thí nghiệm đối chứng: Cho benzen vào dung dịch brom màu vàng da cam
Giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét hiện tượng và giải thích
Học sinh nhận xét: Không có hiện tượng gì xảy ra
Benzen không làm mất màu dung dịch brom
Giáo viên : ? Em có nhận xét gì về tính chất của benzen?
GV: Trang 8
Một số phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm môn Hóa học THCS
Học sinh rút ra kết luận: Benzen tham gia phản ứng thế với brom lỏng còn
không tham gia phản ứng cộng với dung dịch brôm (hay không làm mất màu dung
dịch brom)
Ví dụ 2:
Bài 19: SẮT
Đỏ
Sau đó GV cho đại diện nhóm trình bày kết quả. Viết PTHH. GV hỏi: Có phải kim
loại sắt đều tác dụng với các dung dịch muối không?
Vậy điều kiện để phản ứng giữa sắt với dd muối thực hiện được là gì? Từ đó
dẫn đến kết luận về tính chất của sắt tác dụng với dd muối. (Chú ý hoá trị của sắt)
Kết luận
Những kim loại mạnh có thể đẩy được kim loại yếu hơn ra khỏi dung dịch
muối
1.2.2.2. Thí nghiệm chứng minh
Là thí nghiệm dùng để chứng minh những giả thuyết được đặt ra.
Ví dụ:
GV: Trang 9
Một số phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm môn Hóa học THCS
Bài 26: CLO
Thí nghiệm chứng minh clo có tính chất hóa học của phi kim.
Chuẩn bị: Dụng cụ và hóa chất: đèn cồn, 2 bình clo, dây đồng, dây sắt xoắn
hình lò xo, kẹp sắt
GV đặt vấn đề : để chứng minh clo có THHH của phi kim chúng ta tiến hành
làm một số thí nghiệm
Cách tiến hành thí nghiệm:
GV phát phiếu học tập cho học sinh. Nội dung: nêu hiện tượng và lập
PTHH cho các phản ứng trong thí nghiệm sau:
TN 1: Đồng tác dụng với clo
GV dùng kẹp sắt kẹp dây đồng đốt nóng trên ngọn lửa đèn cồn rồi đưa
nhanh vào bình đựng clo
KL: Giấy quỳ tím ẩm là thuốc thử khí Cl2
2. Thí nghiệm thực hành Hóa học:
2.1. Nguyên tắc thực hiện:
Thực hiện phương pháp này phải tuân thủ nguyên tắc sau:
- Thí nghiệm do tự tay học sinh tiến hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
- Thí nghiệm đơn giản, dẽ làm, ít thao tác và nhanh cho hiện tượng rõ ràng.
- Thí nghiệm không độc hại hoặc dễ cháy nổ.
- Tổ chức hướng dẫn thao tác thực hành cụ thể, chi tiết. đối với học sinh lớp
8 cần làm mẫu.
- Nêu cao tinh thần kỉ luật trong phòng thực hành.
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của thí nghiệm thực hành, bản thân tôi
luôn cố gắng thực hiện tốt các nội dung sau:
2.2. Một số kỹ năng cần rèn luyện cho học sinh THCS:
- Sử dụng chai lọ, cốc và các dụng cụ thủy tinh: Bất kì một loại dụng cụ nào
khi sử dụng đều phải được rửa sạch, nếu rửa bằng nước không sạch thì phải rửa
bằng xà phòng hoặc bằng hóa chất cần thiết và sau đó lại rửa bằng nước cho sạch.
Rửa xong úp ngược miệng xuống dưới cho ráo nước. Với ống nghiệm phải rửa
bằng chổi lông.
- Đo khối lượng các vật: bằng cân kĩ thuật.
- Tiến hành một số động tác cơ bản của thí nghiệm thực hành hóa học:
* Lấy chất lỏng từ lọ ra ống nghiệm hay dụng cụ khác, nếu lấy với lượng
nhỏ ta dùng ống hút, lấy với lượng từ 1ml thì rót nhưng không để hóa chất chảy ra
lọ và quay nhãn lên trên. Nút lọ khi mở đặt ngửa và khi không lấy nữa thì đậy nút
ngay để tránh nhầm lẫn. Ống hút sau khi lấy hóa chất xong phải hút nước rửa sạch,
để khi dùng hút hóa chất khác không bị trộn lẫn với hóa chất đã dùng.
* Lấy hóa chất rắn phải dùng thìa khô, sạch, lấy xong cũng rửa thìa lại cho
sạch và để vào giá cho khô ráo. Nếu làm thí nghiệm có sử dụng hỗn hợp các chất
GV: Trang 11
mỗi thí nghiệm.
Nhóm trưởng chịu trách nhiệm phân công , điều hành hoạt động của nhóm
theo hướng dẫn của giáo viên, yêu cầu nhóm trưởng khi phân công các thành viên
trong nhóm phải thường xuyên đổi vị trí làm việc của mỗi thành viên để tất cả học
sinh trong nhóm đều được làm thí nghiệm, qua nhiều lần thí nghiệm mỗi học sinh
sẽ có kĩ năng thực hành tốt hơn.
Một trong những điều kiện giúp học sinh thực hiện thành công các thí
nghiệm thực hành là giáo viên phải tổ chức cho học sinh, nhóm học sinh nghiên
cứu trước bản hướng dẫn làm thí nghiệm thực hành do giáo viên soạn ra, học sinh
phải biết trước về mục đích của thí nghiệm thực hành, học sinh cần làm gì và làm
GV: Trang 12
Một số phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm môn Hóa học THCS
như thế nào?, giải thích các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm, rút ra kết luận
đúng.
Giáo viên cần xác định nội dung và phương pháp thực hiện các thí nghiệm
thực hành sao cho phù hợp với đặc điểm, nội dung, thời gian cho phép và cơ sở vật
chất, thiết bị dạy học có liên quan của trường.
Căn cứ vào nội dung của thí nghiệm thực hành, giáo viên cần làm trước thí
nghiệm để viết bản hướng dẫn cụ thể và chính xác, cố gắng chuẩn bị tốt các dụng
cụ, hóa chất, phương tiện chuẩn bị cho thí nghiệm thực hành.
Tất cả dụng cụ thí nghiệm phải được để trên bàn thí nghiệm, không để các
em đi lại nhiều.
Những thí nghiệm với chất độc, chất dễ nổ như KClO3, P, S, Cl2… hoặc axit
đặc,… không nên cho học sinh làm hoặc nếu làm giáo viên cần căn dặn, hướng dẫn
thật tỉ mĩ, cụ thể từng thao tác, hướng dẫn học sinh cách phòng tránh, cấp cứu tạm
thời khi sự cố không hay xảy ra để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho học sinh.
Giáo viên cần lưu ý các thí nghiệm thực hành trong giờ dạy lí thuyết hoặc
Sau khi giáo viên nêu mục tiêu của bài học, bài thực hành, giáo viên yêu cầu
học sinh các nhóm cho biết công tác chuẩn bị của học sinh , nhóm học sinh đối với
các thí nghiệm gồm:
Bảng 1
STT
Tên
Dụng cụ, hóa chất
thí nghiệm
Cách tiến hành
thí nghiệm
Dự đoán
hiện tượng
1
2
3
Sau khi học sinh báo cáo công tác chuẩn bị của mình, giáo viên nhận xét, chỉ
ra những thiếu sót trong công tác chuẩn bị của học sinh trong từng thí nghiệm để
học sinh bổ sung vào bản chuẩn bị thí nghiệm của mình cho phù hợp, sau đó giáo
viên cho học sinh nhóm kiểm tra dụng cụ, hóa chất trên bàn thực hành.
2/ Kiểm tra dụng cụ, hóa chất thí nghiệm.
Học sinh nhóm kiểm tra dụng cụ, hóa chất trên bàn thực hành của nhóm.
Báo cáo với giáo viên những dụng cụ, hóa chất còn thiếu hoặc dụng cụ bị hư hỏng
để bổ sung kịp thời .
Bước 2: Giáo viên hướng dẫn chung:
Sau khi hoàn thành các thí nghiệm, giáo viên yêu cầu các nhóm làm vệ sinh,
rửa dụng cụ, thu dọn hóa chất để dụng cụ, hóa chất còn lại đúng theo quy định như
lúc ban đầu, lưu ý hóa chất dễ chấy, nổ không để gần nhau sau đó học sinh tiến
hành viết tường trình thí nghiệm theo cá nhân hoặc nhóm theo yêu cầu của giáo
viên.
Mẫu báo cáo thực hành được giáo viên hướng dẫn ở tiết học trước theo mẫu sau:
Tên nhóm:……..
BẢN TƯỜNG TRÌNH THÍ NGHIỆM
Họ tên học sinh:……………………
Tên bài thực hành:…………….
Lớp:……
Bảng 2
STT
Tên thí
nghiệm
Cách tiến hành
thí nghiệm
hiện tượng quan
sát được
Giải thích, viết PTHH
nếu có
HS tiến hành theo nhóm rồi trả lời:
- Học sinh nêu hiện tượng:
Ô1: Xuất hiện Ag màu xám bám vào dây Cu và dung dịch có màu xanh lam.
- Giải thích: Do Cu đã đẩy Ag ra khỏi dung dịch muối AgNO3 và một phần Cu bị
hoà tan tạo thành dung dịch Cu(NO3)2 có màu xanh lam.
- PTHH:
Cu(NO3)2(dd) + 2Ag(r)
Cu(r) + 2AgNO3(dd)
Ô2 : Không có hiện tượng gì.
Từ đó học sinh thấy được rằng: Không phải tất cả kim loại đều tác dụng với dung
dịch muối.
Giáo viên : ? Qua 2 thí nghiệm trên rút ra được kết luận gì?
Kết luận: Dung dịch muối có thể tác dụng với kim loại tạo thành muối mới và kim
loại mới.
Ví dụ 2:
Tiết 23- Bài 17: Dãy hoạt động hoá học của kim loại
- Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ, ống nhỏ giọt, giá đựng ống nghiệm, thìa lấy hoá
chất
- Hoá chất: FeSO4 , CuSO4, AgNO3 , Cu(NO3)2, HCl, dung dịch phenolphtalein,
Fe, Cu, Ag, Na
- Thí nghiệm 1: Cho đinh Fe vào Ô1 đựng đồng sunfat, cho dây Cu vào Ô2 đụng
sắt sunfat. Trả lời câu hỏi
1. Hiện tượng ở 2 ống nghiệm như thế nào?
GV: Trang 16
Một số phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm môn Hóa học THCS
2. Giải thích và lập PTHH
Theo tôi xuất hiên chất rắn màu đen bám lên dây kẽm là do nguyên nhân
sau:
+ Phản ứng xảy ra nhanh nên đồng được sinh ra chưa hình thành được mạng
tinh thể.
+ Có bọt khí thoát ra ( H2) do hình thành thế điện hóa. Khi đồng được sinh ra
bám trên lá kẽm tạo pin điện hóa.
PTHH: Zn + CuSO4 ZnSO4 + Cu
Cu2+ + H2O CuOH+ H+
Zn + H+ Zn + + H2
GV: Trang 17
Một số phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm môn Hóa học THCS
Chuẩn bị: - Dụng cụ: Ống nghiệm, giá để ống nghiệm.
- Hóa chất: Kẽm dây hoặc viên ( có thể lấy kẽm từ vỏ pin cũ ), dung
dịch đồng II clorua để thay cho đồng II sufat. Vì khi dùng dung dịch đồng II sunfat
hiện tượng xuất hiện thường là chất rắn màu đen bám lên.
Một số đồng nghiệp thay kẽm bỡi sắt hoặc nhôm nhưng theo tôi các thí
nghiệm giữa sắt, nhôm với đồng II sunphat sẻ được học ở các bài tiếp theo nên cố
gắng giữ nguyên kim loại kẽm chỉ nên thay dung dịch CuSO4 bằng dung dịch
CuCl2.
Tiến hành:
Dưới sự hướng dẫn của GV. Các nhóm HS tiến hành thí nghiệm.
- Cho khoảng 2-3 ml dung dịch CuCl2 vào ống nghiệm. Nhúng dây Zn trong
dung dịch CuCl2.
- GV yêu cầu các nhóm HS nêu hiện tượng và giải thích cho hiện tượng.
Hiện tượng
Giải thích
PTHH
2. Thí nghiệm thực hành loại phối hợp.
Trong hình thức tổ chức này học sinh được chia thành nhiều nhóm khác nhau,
mỗi nhóm chỉ làm thí nghiệm một phần đề tài trong thời gian như nhau, sau đó phối
hợp các kết quả của các nhóm lại sẽ được kết quả cuối cùng của đề tài.
Ví dụ: Trong bài 17 “Dẫy hoạt động hóa học”. bài này có 4 thí nghiệm Giáo
viên phân công:
Nhóm 1, 2: Làm thí nghiệm 1.
Nhóm 3, 4: Làm thí nghiệm 2.
Nhóm 5, 6: Làm thí nghiệm 3.
Nhóm 7, 8: Làm thí nghiệm 4
=>Kết quả thí nghiệm của các nhóm khái quát thành dãy hoạt động hóa học
đơn giản: Na, Fe, H, Cu, Ag
-Ưu điểm của loại thí nghiệm này:
+ Tiết kiệm thời gian cho tiết học.
+ Rèn luyện cho học sinh ý thức lao động tập thể.
+ Kích thích tinh thần thi đua làm việc giữa các nhóm.
-Một số hạn chế của loại thí nghiệm này:
+ Mỗi nhóm không được rèn luyện đầy đủ các kĩ năng làm toàn diện thí
nghiệm.
Vì vậy, nếu có thời gian, cần khắc phục bằng cách cho các nhóm luân phiên
nhau làm lại thí nghiệm.
3. Thí nghiệm thực hành ở ngoài lớp:
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm ở nhà với mục đích chuẩn bị
bài sau hoặc củng cố bài học.
Qua thời gian giảng dạy, tôi thấy rằng khi hướng dẫn học sinh những thí
nghiệm đơn giản học sinh tự làm ở nhà giúp học sinh hiểu sâu hơn về kiến thức đã
được học trên lớp, góp phần phát triển khả năng tư duy cũng như các kĩ năng của
học sinh. Đồng thời qua những thí nghiệm Hóa học đó giúp học sinh khám phá,
giải thích được nhiều hơn các kiến thức Hóa học có liên quan tới đời sống hàng
Ví dụ 2:
Bài
MÊTAN(CH4)
Ở bài trước, khi hướng dẫn học sinh về nhà GV hướng dẫn làm thì nghiệm thu khis
metan rồi đốt trong không khí.
GV hướng dẫn: Lấy một mảnh nilon rộng 1-2m2 rồi chải trên mặt ao hoặc
rãnh nước. Dùng gậy chọc xuống đáy bùn rồi khuấy để bọt khí nổi lên mặt nước
trong mảnh nilon. Cuộn mảnh nilon lại thành quả bóng chứa dầy khí metan ở
trong. Lấy một ống nứa nhỏ, dải khoảng 30cm luồn vào quả bóng sao cho khí
GV: Trang 20
Một số phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm môn Hóa học THCS
không thoát ra ngoài ống. Châm lửa ở đầu ống rồi đưa ngọn lửa của khí cháy hơ
vào tấm kính.
Nêu hiện tượng: Khí thu được có cháy không?
Tấm kính có hiện tượng gì? Chứng tỏ có sản phẩm gì sinh ra?
Giải thích và dự đoán sản phẩm rồi lập PTHH.
4. Thí nghiệm vui:
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm vui với mục đích củng cố bài
học, gây hứng thú, tạo niềm say mê học tập.
Với môn hóa học, các thí nghiệm vui chủ yếu là các thí nghiệm phức tạp
hoặc đòi hỏi hóa chất khó kiếm. Tuy nhiên nên tận dụng những thí nghiệm có thể
làm ở nhà để học sinh tự tiến hành ở nhà (thí nghiệm thực hành ngoài lớp)
Ví dụ 1: Mực thần kì:
Khi dạy về tính háo nước của axit sunfric đặc ta có thể làm thí nghiệm này
Chuẩn bị: Dung dịch H2SO4 loãng, tờ giấy A4 trắng, bút lông.
- Dung dịch axit boric 2%
- Dung dịch NH3 5%
- Nước oxi già (H2O2)
- Dung dịch KMnO4 2 - 3%
- Bông, băng, gạc đã tẩy trùng.
- Dung dịch AgNo3 10%
- Vơlơlin
- Dung dịch Na2S203 5%.
b.Cách cứu chữa một số tai nạn thường gặp.
* Cứu chữa chảy máu nhẹ:
- Lấy bông tẩm máu.
- Cầm máu bằng dung dịch FeCl3.
- Lấy bông bôi sát trùng bằng dung dịch KMnO4, cồn iot
- Dùng băng gạc băng lại.
* Cứu chữa bỏng A xit đặc, nhất là a xit H2SO4 đặc:
-Dội nước rửa ngay nhiều lần, nếu có vòi nước thì cho chảy vào vết bỏng khoảng
5 phút.
-Rửa lại bằng dung dịch NaHCO3( tuyệt đối không rửa bằng xà phòng).
* Cứu chữa bỏng kiềm:
- lúc đầu rửa như bỏng a xit.
- Rửa lại bằng dung dich CH3COOH 3-5% hoặc giấm ăn.
* A xit bắn vào mắt ( Kiềm bắn vào mắt)
- Nhanh chóng phun nước cất ở bình tia vào mắt hoặc nhúng mắt vào chậu nước
- Giáo viên cùng học sinh phân tích các phương án, nếu khả thi và dụng cụ
có đủ thì cho học sinh tiến hành.
- Giáo viên cho học sinh học và nghiên cứu thí nghiệm trong sách giáo khoa
(vì đây là thí nghiệm khả thi nhất, dụng cụ đầy đủ và tiến hành thuận lợi nhất) học
sinh cần nêu được các dụng cụ để tiến hành thí nghiệm, các bước tiến hành thí
nghiệm.
- Sau khi học sinh nêu cách tiến hành thí nghiệm giáo viên cần giới thiệu thí
nghiệm cụ thể, cách sử dụng các dụng cụ đó một cách cụ thể, tỉ mỉ. Nhất là các
dụng cụ có độ chính xác cao, các dụng cụ dễ vỡ, các dụng cụ đảm bảo an toàn.
- Giáo viên yêu cầu các nhóm ngồi đúng vị trí qui định của nhóm mình,
chuẩn bị vị trí đặt thí nghiệm sao cho học sinh cả nhóm cùng quan sát và tiến hành
thuận tiện.
- Trong quá trình học sinh làm thí nghiệm giáo viên bao quát các nhóm, giúp
đỡ sửa sai nếu cần.
- Giáo viên lưu ý thời gian làm thí nghiệm sao cho hợp lí. Sau khi làm thí
nghiệm yêu cầu các nhóm trả lại dụng cụ nhanh chóng an toàn.
GV: Trang 23
Một số phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm môn Hóa học THCS
- Kết thúc thí nghiệm giáo viên cho học sinh nêu kết quả của mỗi nhóm từ
đó giáo viên cùng học sinh thảo luận để rút ra được nội đung chính của bài.
- Giáo viên cũng cần nhận xét thái độ của học sinh trong các nhóm, có phê
bình, khuyến khích.
2. Một tiết dạy có các thí nghiệm:
Học sinh THCS mới bước đầu làm quen với môn hóa học nên việc rèn luyện kĩ
năng thực hành cho học sinh phải thật tỉ mỉ, cẩn thận trong từng thao tác thí
nghiệm. Giáo viên phải soạn trước nội dung những yêu cầu, cách thức tiến hành
Hóa chất:
- 3 lọ oxi (100ml).
- Bột S và bột P.
Dụng cụ:
- Đèn cồn, diêm.
- Thìa đốt hóa chất.
C. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
Hoạt động I: Kiểm tra chuẩn bị của học sinh (5')
*Thí nghiệm nêu vấn đề: Chiếu video thí nghiệm Sinh học lớp 6 "Cây thải ra khí
nào khi chế tao tinh bột" cho học sinh quan sát.
? Em có biết khí trong bình là khí gì không?
Qua thí nghiệm ta thấy vai trò của oxi trong việc làm que đóm bùng cháy. Vậy tại
sao lại như vậy? Điều đó thể hiện tính chất gì của oxi? Ngoài ra oxi còn có những
tính chất và vài trò nào khác chúng ta cùng tim hiểu bài.
Hoạt động II. Tính chất vật lí của oxi (10')
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
? Nêu một số thông tin về oxi mà em
biết (...)
-
GV ghi bảng
amoniac.
Vậy theo em oxi tan nhiều hay tan ít
Oxi ít tan trong nước
trong nước ?
GV ngoài ra oxi có một số TCVL khác
KL: Oxi là chất khí không màu,
GV: Trang 25