SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“GIẢI PHÁP PHỤ ĐẠO HIỆU QUẢ CHO HỌC SINH YẾU, KÉM
LỚP 2”
A- PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Hòa chung với sự đi lên của toàn cầu, đất nước ta đã và đang có những sự chuyển mình
trong xu thế đổi mới toàn diện trong mọi lĩnh vực để bước sang một thời đại mới – Thời
đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ngành giáo dục nói riêng đã có những bước
chuyển mình rõ rệt có những đầu tư lớn trong việc cải cách vì đại hội Đảng lần thứ VII đã
khẳng định rằng: “Giáo dục vừa là động lực, vừa là tiêu đề của sự phát triển xã hội
trong thời kỳ đổi mới đất nước ta”. Thật vinh dự và tự hào biết bao khi bản thân tôi được
đứng trong hàng ngũ là những kỹ sư tâm hồn – Những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn
hóa trong sự nghiệp giáo dục và cả sự đổi mới của đất nước. Với những tự hào và trách
nhiệm đó tôi luôn tâm niệm lời Bác dạy “Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là
thầy giáo vẻ vang nhất dù tên tuổi không được đăng báo, không được thưởng huân
chương song những thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh”. Những điều đó đã
giúp tôi nhận thức được một cách đầy đủ hơn về nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục về vai trò,
vị trí là trọng trách của bản thân là người giáo viên trực tiếp giảng dạy và giáo dục, là
những người có vai trò quyết định, người giữ vai trò then chốt trong việc tổ chức phát
triển nhân cách, năng lực, trí tuệ của học sinh đặc điểm đó là học sinh nhỏ tuổi, học sinh
Tiểu học.
Chúng ta biết rằng học sinh ở bậc Tiểu học là nhân vật trung tâm của nhà trường, là mục
đích của nhà trường, hơn thế nữa đây là giai đoạn đầu phát triển của cả một đời người là
nền móng cho các em sau này. Ở lứa tuổi Tiểu học là từ 6 đến 11 tuổi thì hoạt động chủ
đạo của các em là hoạt động học, mà yêu cầu trước hết để các em thực hiện tốt hoạt động
này là các em phải biết đọc thông, viết thạo một yêu cầu tưởng chừng như là đơn giản
nhưng lại rất quan trọng đối với các em.
2. Phương pháp nghiên cứu:
-
Phương pháp điều tra.
-
Phương pháp thống kê.
-
Phương pháp phỏng vấn.
-
Phương pháp phân tích tổng hợp.
-
Phương pháp so sánh.
-
Phương pháp thực hành.
III. Giới hạn của đề tài:
Tìm hiểu về các biện pháp phụ đạo học sinh yếu kém HS lớp 2F trường Tiểu học An
Thạnh 1, thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Đúc kết thành hệ thống những kinh nghiệm
dạy học đạt hiệu quả.
Qua thực tế ở trường, tôi đã tìm ra các nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu kém như
sau:
- Trí tuệ của các em chậm, phát triển kém.
- Sức khoẻ yếu nên nghỉ học nhiều.
- Do hoàn cảnh khó khăn, điều kiện học tập thiếu thốn, cha mẹ chưa quan tâm đến
việc học của con.
- Do các em mắc bệnh tự ti.
- Do giáo viên chủ nhiệm phương pháp còn yếu, dạy học theo kiểu “đồng loạt",
chưa chú ý được hết tất cả các đối tượng học sinh, nhất là học sinh yếu nên các em đã yếu
lại càng yếu thêm vì bị giáo viên cho ra đứng bên lề trong các tiết học.
III. Thực trạng của việc bồi dưỡng học sinh yếu kém trong trường tiểu học
1. Thuận lợi: Công tác phụ đạo HS yếu trong nhà trường cũng có những thuận lợi
nhất định đó là:
- Phía HS: Tinh thần và thái độ học tập có chuyển biến tốt, tham dự đầy đủ các
buổi học phụ đạo.
- Phía nhà trường và giáo viên: Cơ sở vật chất trường lớp phục vụ tốt cho công tác
phụ đạo, ngay đầu năm nhà trường đã có xây dựng kế hoạch phụ đạo HS yếu và được
giáo viên hưởng ứng tốt, tích cực tham gia giảng dạy.
2. Khó khăn: Bên cạnh đó còn những khó khăn bức xúc chung rất khó có thể giải
quyết triệt để nếu không có sự đồng tâm của tập thể giáo viên, cụ thể là:
- Học sinh: Đọc chậm, đọc sai, viết chậm, viết sai, học vẹt không có khả năng vận
dụng kiến thức, nói chung các kĩ năng cơ bản: nghe -đọc –nói -viết của các em chưa hoàn
chỉnh. Không biết làm tính, yếu các kĩ năng tính toán cơ bản, cần thiết như (cộng, trừ
nhân, chia). Khả năng phân tích, so sánh còn hạn chế.
- Giáo viên: Chưa xác định được cách phụ đạo học sinh, chưa biết phải bắt đầu từ
đâu, luôn lúng túng khi xây dựng nội dung phụ đạo, nên kết quả thường không cao.
Chính vì vậy công tác phụ đạo hiện nay luôn được các nhà trường và giáo viên đặc
biệt quan tâm.
VD: Khi làm bài toán tìm số bị chia :
x:5=5
Tôi cho học sinh nhớ thuần thục những tên gọi các thành phần trong phép tính. Sau đó
nhắc lại qui tắc tìm số bị chia cho học sinh đọc thầm bảng nhân 5, chia 5. Sau dó mới giải
:
X:5=5
X= 5 x 5
X = 25
Hoặc :
Khi hướng dẫn một bài văn tả ngắn về biển thì tôi lại phải hướng dẫn bằng cách cho
học sinh nhắc lại những từ ngữ tả về biển chẳng hạn tả sóng: bồng bềnh, dào dạt, cuồn
cuộn, trắng xóa,… tả về mặt biển: xanh biếc, phẳng lặng,…
Sau đó lại cho phép từ ngữ đó vào thành câu văn tả về sóng biển, tả mặt biển,… Cuối
cùng mới viết thành đoạn văn ngắn.
- Giáo viên luôn tạo ra niềm vui trong học tập cho các em thông qua trò chơi để các em
tiếp thu bài, khắc sâu kiến thức dễ dàng hơn (vì khi đọc đã kém thường các em hay chán
nản, ít có hứng thú học tập, không chú ý nghe giảng).
VD: Có những bài toán tôi tổ chứa trò chơi “truyền điện” hoặc giờ luyện từ và câu có
những bài tìm từ có tiếng “biển” chẳng hạn.
Đối với những bài dạy trên lớp (không phải là giờ phụ đạo) tôi luôn tìm tòi biện
pháp giảng dạy thích hợp có trọng tâm như tự điều chỉnh nhịp độ giảng dạy, tổ chức việc
học tập bằng phương pháp phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. Tổ chức hướng
dẫn dìu dắt để các em được tiếp cận, chiếm lĩnh hoàn toàn tri thức không áp đặt, các câu
hỏi được sắp đặt rõ ràng có hệ thống trong từng bài, từng đối tượng cụ thể trong những
bài soạn. Với yêu cầu vừa sức các em và nâng cao dần và không nản chí, thiếu tự tin, sốt
ruột, khắc phục tính ngại khó và những định kiến thiếu tin tưởng và sự tiến bộ của học
sinh.
Trong khi giảng bài tôi thường xuyên theo dõi sự chú ý của những học sinh yếu để
- Ngoài những biện pháp trên (tổ chức giảng dạy đó là phần bắt buộc) tôi luôn tổ chức
trò chơi, văn nghệ, kể chuyện và những hoạt động khác để tạo dựng nơi các em lòng tin
yêu trường lớp, tha thiết học tập thích gần gũi với thầy cô, bạn bè để từ đó các em luôn
chấp hành tốt nhiệm vụ và kỷ luật của buổi học tập.
- Cuối cùng là biện pháp phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm với gia đình
bằng cách qua sổ liên lạc để gia đình tạo điều kiện đôn đốc các em thực hiện tốt kết
hoạch ở trường, ở nhà.
Hơn thế nữa bản thân tôi cũng đã gắn bó với học sinh thân yêu, từng thấy trách nhiệm
của mình đối với học sinh là cả một bước quan trọng không thể nhìn thấy sau mỗi giờ
học, buổi học mà nhìn thấy học sinh mình có nhiều em vẫn chưa hiểu bài nên tôi đã nghĩ
mọi phương pháp giảng dạy (như đã trình bày trên). Ngoài ra, tôi còn dành thời gian1-2
buổi/ tuần phụ đạo cho các em yếu kém.
Tóm lại, tùy và từng đối tượng để giáo viên có biện pháp cụ thể thích hợp để tổ chức
dạy học chứ không theo phương pháp cứng nhắc, áp đặt. Đó là biện pháp thiết thực nhất
để nâng cao học, hạn chế được tối đa học sinh yếu kém, không có học sinh lưu ban,
không có học sinh ngồi nhầm lớp, đẩy nhanh tiến bộ phổ cập giáo dục tiểu học mà kế
hoạch năm học đã đề ra.
V. Hiệu quả áp dụng:
Qua một thời gian tôi tự tìm tòi, nghiên cứu ra những biện pháp để thực hiện vào việc
giảng dạy, phụ đạo học sinh yếu kém. . Với lòng yêu nghề, yêu trẻ với những kinh
nghiệm ít ỏi của mình tôi đã mạnh dạn áp dụng trong những năm qua. Kết quả cho thấy
rằng lớp tôi sau những đợt kiểm tra định kỳ tăng lên rõ rệt. Những học sinh từ không biết
đọc, không biết làm toán, không biết viết văn bây giờ đã tiến bộ rõ nét đáng khen ngợi.
C- KẾT LUẬN
I. Ý nghĩa của đề tài đối với công tác:
Những kinh nghiệm sau khi được tập hợp, phân loại và xếp vào quy trình sẽ
nghiệm và thấy cũng mang lại những dấu hiệu tốt trong quá trình phụ đạo cho những học
sinh yếu kém.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
SÁCH TOÁN 2 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – ĐỖ ĐÌNH HOAN (Chủ biên)NGUYỄN ÁNG- ĐỖ TIẾN ĐẠT- ĐỖ TRUNG HIỆU- ĐÀO THÁI LAN
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
SÁCH TIẾNG VIỆT 2 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO- NHÀ XUẤT BẢN GIÁO
DỤC
-
Phương pháp điều tra.
-
Phương pháp thống kê.
-
Phương pháp phỏng vấn.
-
Phương pháp phân tích tổng hợp.
-
Phương pháp so sánh.
-