sáng kiến kinh nghiệm một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập bộ môn lịch sử bậc thpt - Pdf 18

Têên SKKN NĂM 2012: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HỌC TẬP BỘ MÔN LỊCH SỬ BẬC THPT.
A/ PHẦN MỞ ĐẦU.
- Bối cảnh của đề tài.
Kết quả học tập bộ môn lịch sử THPT hiện nay thấp, điều đó đặt ra cho
chúng ta nhiều vấn đề cấn quan tâm giải quyết, nhất là những người trực tiếp
làm công tác giảng dạy . Thực tế cho thấy, ít có học sinh hứng thú với tất cả các
bộ môn mà thường chỉ say mê một số môn. Kinh nghiệm cũng cho thấy không
nên đánh giá cao biểu hiện hứng thú học tập và năng khiếu của các em để kết
luận thích môn này hay môn kia, nhất là trong việc tổ chức thi cử còn chưa thật
sự hoàn hảo, chập chờn giữa học và thi, quan niệm về vị trí của từng bộ môn còn
có chỗ lệch lạc, động cơ học tập chưa đúng, thì việc tạo hứng thú cho học sinh
trong quá trình giảng dạy có vị trí , ý nghĩa hết sức quan trọng để giúp các em có
động cơ học tập đúng đắn. Thiết nghĩ cũng cần nhắc lại rằng : Học sinh không
thích học lịch sử, không phải do môn lịch sử gây ra mà chính là do quan niệm và
phương pháp dạy học của chúng ta chưa thật sự phù hợp. Bởi Lịch sử là nguồn
cảm hứng mạnh mẽ đối với mọi người, vì qua lịch sử mà ta nhận thấy được
gương mặt của quá khứ, hình ảnh của hiện tại và bước phát triển của tương lai.
Không phải ngẫu nhiên mà F.Enghen - người bạn cảm động và hết sức vĩ đại của
Các Mác - đã khẳng định: “Đối với chúng ta, lịch sử là tất cả, lịch sử được
chúng ta đánh giá cao hơn bất cứ cái gì khác…” ( Các Mác, F.Enghen toàn tập,
tập I).
Saùng kieán kinh nghieäm 2011 – 2012 Trang:1
Như vậy , vấn đề phương pháp dạy học có vai trò to lớn, quyết định đến chất
lượng bộ môn. Điều mà chúng ta cần góp ý, luận bàn để ít nhất là cải thiện thái
độ học tập bộ môn của các em trong tình hình hiện nay tại Tỉnh ta.
- Lí do chọn đề tài.
Trong một số năm trở lại đây, khi mà nền kinh tế thị trường phát triển, thì số
học sinh THPT sao nhãng việc học tập các bộ môn khoa học xã hội nói chung,
Lịch sử nói riêng càng bộc lộ rõ, tình trạng này không những ở các thành phố thị
xã mà học sinh ở vùng nông thôn, vùng sâu , vùng xa cũng có những biểu hiện

dó nguyên nhân nào là cơ bản.
2/ Có thể cải thiện được tình hình hay không? Giải pháp và nguồn lực nào?
3/ Đề xuất một số ý kiến với các cấp quản lí nhà nước và quản lí giáo dục.
Từ đó áp dụng vào việc giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào
tạo thế hệ trẻ những chủ nhân tương lai của đất nước, của từng địa phương,
những con người vừa hồng vừa chuyên, hiểu sâu sắc quá khứ để có suy nghĩ và
hành động trong hiện tại và tương lai.
B/ NỘI DUNG.
- Cơ sở lí luận của đề tài.
Saùng kieán kinh nghieäm 2011 – 2012 Trang:3
Đổi mới toàn diện, sâu sắc trên mọi lĩnh vực, từ lâu đã trở thành mệnh lệnh;
chủ trương của Đảng, sự phát triển đi lên của đất nước,đòi hỏi mỗi ngành, mỗi
đơn vị , cá nhân đều phải đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách làm cho phù hợp với
xu thế chung, đặc biệt đối với Giáo dục, được Đảng ta xác định phát triển giáo
dục là quốc sách hàng đầu,cần phải nhanh chóng “chấn hưng nền giáo dục Việt
Nam” (Nghị quyết Đại hội X), để tạo ra nguồn lực con người- yếu tố cơ bản
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế. Yêu cầu đối với giáo dục phổ thông “ bồi
dưỡng cho thế hệ trẻ có kiến thức cơ bản về văn hóa, phát huy tư duy khoa học
và phát huy năng khiếu,có óc thẩm mĩ” ( Nghị quyết Bộ Chính tri về cải cách
giáo dục) Vì vậy, cần tập trung sức lực, tài lực, trí tuệ để “ nâng cao chất lượng
toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lí, nội dung , biện pháp dạy và
học” để “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù
hợp với đặc điểm từng lớp học, cấp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
học, rèn luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm hứng thú cho học sinh”. Đây thực sự là một yêu cầu, là đơn đặt
hàng của nền kinh tế – xã hội đối với giáo dục- đào tạo; đòi hỏi giáo dục phải
đổi mới nội dung và phương pháp, phải thật sự lấy học sinh làm trung tâm, kích
thích và thông qua các hoạt động tích cực của học sinh thì mới đem lại kết quả
mong đợi.
- Thực trạng vấn đề.

của những người nghiên cứu, giảng dạy- học tập bộ môn lịch sử. Để đạt được
mục tiêu đó,chúng ta phải tiến hành hàng loạt giải pháp kết hợp, mà trước hết
cần phải thu hút và gây hứng thú cho các em, bởi chỉ có hứng thú thì mới tự
giác , tích cực học tập, bởi “tư tưởng không thông thì cầm bình tông cũng không
nổi”.Phải khách quan mà nói rằng: Lịch sử hay lắm, hấp dẫn lắm, nhưng không
phải vì vậy mà chúng ta chủ quan, lạm dụng, trong giảng dạy bộ môn lịch sử cứ
“ bê nguyên xi” sách giáo khoa vào bài giảng với hàng loạt sự kiện khô khan, rời
rạc, thì coi như chúng ta đã biết trước được kết quả: Thủ tiêu niềm ham thích,
hứng thú học tập bộ môn, biến một tiết dạy lịch sử thành một bài chính trị giáo
điều, khó tiếp nhận, học sinh lười học là tất yếu. Bởi theo I.F. Kharlamop “ hứng
thú – đó là nhu cầu nhuốm màu sắc xúc cảm đi trước giai đoạn gây động cơ và
làm cho hoạt động con người có tính hấp dẫn” Như vậy, hứng thú là một trạng
thái tâm lí, sinh lí biểu hiện bằng cảm giác thích thú, say sưa, phấn khởi do một
tác động nào đó từ bên ngoài vào con người qua các giác quan. Hứng thú không
đơn thuần là thích thú bản năng. Nó là biểu hiện của tình cảm và lí trí, là sự kết
hợp một cách khách quan hấp dẫn với một chủ quan năng động. Hứng thú gắn
liền với sáng tạo, với cái mới được phát hiện ra . Như thế, trong một ngàn lẻ một
nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng học tập bộ môn yếu kém của học
sinh, thì nguyên nhân từ phía giảng dạy giữ vai trò quan trọng, vì chưa gây được
hứng thú cho học sinh học tập sử. Sự “ tôn trọng” sách giáo khoa một cách cực
đoan, đã đánh mất vai trò của người thầy giáo, từ lâu nhà giáo dục xô viết N.G
Saùng kieán kinh nghieäm 2011 – 2012 Trang:6
Dai Ri đã cảnh báo. Ngoài vốn kiến thức dồi dào do việc tự trang bị thông qua
quá trình tự học, tự nhiên cứu, người thầy giáo cũng cần trao dồi nhiều phẩm
chất nghiệp vụ chuyên môn khác như: Đầu tư thời gian lựa chọn kiến thức cơ
bản, kiến thức hỗ trợ để làm sáng tỏ vấn đề thông qua các thao tác nhuần
nhuyễn: miêu tả, tường thuật, kể chuyện, bình và giảng với ngôn ngữ đã được
chọn lọc, truyền cảm, cách trình bày mạch lạc dễ hiểu, dễ cảm thụ thì mới hy
vọng bài giảng có chất lượng, từ đó mà thu hút lôi cuốn học sinh. Việc học sinh
không chịu học lịch sử, hậu quả là kiến thức mơ hồ, rời rạc, chắp vá thì người

hiệu lạc quan, không để các em thất vọng, bản thân tôi trân trọng thái độ của các
em, từ đó có ý thức cố gắng hơn trong công tác dạy Người – dạy chữ của mình
bằng những việc làm cụ thể, xin được trình bày ra đây:
1/ Một số hoạt động khơi dậy ý thức “dân ta phải biết sử ta”
- Chúng tôi tranh thủ ý kiến lãnh đạo nhà trường đầu tư kinh phí làm một số Pa
– nô, treo ở những vị trí trực quan trong trường về các anh hùng dân tộc, danh
nhân văn hóa, tấm gương tiêu biểu trong sản xuất chiến đấu qua các thời kì, với
thông tin ngắn, hàng ngày mọi người có thể dễ cảm nhận.
Saùng kieán kinh nghieäm 2011 – 2012 Trang:8
- Tiến hành câu lạc bộ “ vui để học”; chủ đề về hiểu biết lịch sử , địa lí., Mang
lại kết quả đáng khích lệ, các em tích cực tham gia, thậm chí các em còn tranh
thủ tìm hiểu để kì sau trả lời . Điều quan trọng là trình bày hiểu biết của bản thân
trước toàn trường, qua đó giúp các em có tinh thần, thái độ tự giác, tìm hiểu lịch
sử, làm giàu thêm vốn tri thức lịch sử của bản thân, hỗ trợ cho việc học tập bộ
môn.
- Tổ chức “tiếng loa sân trường”, phát thường nhật vào giờ ra chơi sau tiết thứ 2
mỗi ngày. Như mưa dầm, thấm dần vào suy nghĩ và tình cảm của các em.
.Đây là những công việc không tốn kém về công sức và tiền bạc, nhưng
mang lại hiệu quả cao, thiết nghĩ là việc nên làm,và tiến hành thường xuyên, tạo
một nét sinh hoạt đậm chất truyền thống trong nhà trường, điều này có ý nghĩa
lớn, tác động tới thái độ học tập bộ môn, mà trước hết là động cơ thích thú tìm
hiểu trao đổi và tranh luận, từ đó tạo tiền đề, không khí thuận lợi cho việc học
tập bộ môn. tránh trường hợp đáng tiếc, nhiều học sinh, thậm chí cả giáo viên
giảng dạy - học tập ở trường mang tên danh nhân nhưng không biết gì về họ cả.
Thiết nghĩ, đó là khuyếm khuyết của giáo viên lịch sử công tác tại đó.
2/ Soạn bài.
Để sử dụng – khai thác hợp lí SGK, trước hết cần xác định:
a. Mối quan hệ giữa SGK và bài giảng.
Việc sử dụng – khai thác SGK hợp lý như thế nào là ở chỗ giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa nội dung SGK và bài giảng. Thực tế hiện nay giảng

Có thể kết hợp sử dụng các phương tiện thiết bị, tranh ảnh để giải quyết
phần quan trọng và khó khăn này. Bởi kênh hình không những làm cho vấn đề
sinh động, hấp dẫn mà còn là nguồn cung cấp thông tin quan trọng.
b. Giúp học sinh xây dựng phương pháp học tập đúng.
Thời gian 1 tiết trên lớp có hạn, giáo viên không thể chuyển tải hết kiến
thức nên không được đưa vào bài giảng. Bởi thế giáo viên phải biết hướng dẫn
cho học sinh phương pháp kết hợp: Nghe, nhìn, ghi chép, coi sách, trao đổi và
phát biểu ý kiến, không chỉ biết học ở bài giảng mà còn phải biết tự học ở SGK.
Không chỉ biết học mà phải biết hỏi, biết thắc mắc, trao đổi không phải chỉ với
bạn bè mà với cả thầy cô. Phải tuân thủ nguyên tắc: Chỗ nào giáo viên có thể nói
lên được thì giáo viên phải yên lặng”. Tránh tình trạng bắt học sinh nhớ chứ
không làm cho học sinh hiểu Có như vậy mới giải quyết được nhiều vấn đề đặt
ra: Tập thể lớp đều được tiếp nhận vốn kiến thức cốt lõi, cơ bản như nhau và
theo cùng định hướng, ngoài ra, việc học sinh tích cực chủ động học tập, tập
trung nghe giảng, đọc kĩ SGK với bài giảng, cùng các tài liệu khác, giúp các em
có điều kiện mở rộng kiến thức và hiểu sâu sắc vấn đề hơn. Điều này dẫn nhanh
tới sự phân hóa về trình độ nhận thức của các em, qua đó phát hiện và có biện
pháp bồi dưỡng và giúp đỡ kịp thời. Khi học bài, cần có sự đối chiếu giữa tập
ghi và SGK, cố gắng tái hiện bài giảng của thầy trên lớp để củng cố kiến thức
Saùng kieán kinh nghieäm 2011 – 2012 Trang:11
một cách vững chắc. Có thể giải quyết độc lập các câu hỏi và bài tập do thầy và
SGK đưa ra.
3. Sắp xếp lại giàn ý, lựa chọn kiến thức làm nổi bật trọng tâm.
Ví dụ bài 17 “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945
đến trước ngày 19-12-1946”
Đây là vấn đề không thể tùy tiện, nhưng xuất phát từ thực tế tình hình, có
thể sắp xếp trật tự vấn đề được nêu ra để học sinh dễ tiếp thu hơn.
Dàn ý SGK
I. Tình hình nước ta sau cách mạng
tháng Tám năm 1945.

3, Hũa hoón vi Phỏp nhm y quõn
Trung Hoa Dõn quc ra khi nc ta.
v tay sai ca chỳng.
2, i vi thc dõn Phỏp
a/ Thi kỡ Phỏp n sỳng
b/ Thi kỡ Phỏp ký vi Trung Hoa Dõn
quc.
Mc (I), chỳng tụi tỏch thnh 2 phn: Thun li v Khú khn.
Thun li nờu trc, khú khn nờu sau, giỳp hc sinh nhn thy, Cỏch mng
thnh cụng, chỳng ta ó tip thu mt di sn mc nỏt do thc dõn phong kin
li, tỡnh hỡnh lỳc by gi c bit khú khn nghiờm trng, cựng mt lỳc k thự
ca c lp dõn tc tn cụng t nhiu phớa, cú nh vy hc sinh mi thy ht
c nng lc ca ng v Bỏc H t n: ngh thut lónh o mu mc, t ú
m cỏc em cú thỏi tin tng trit vo tng lai, tin ca t nc.
Mc (II) S d chỳng tụi a vn gii quyt th t trc sau khỏc vi sỏch
giỏo khoa, l vỡ: Trong phiờn hp u tiờn ca Chớnh ph lõm thi ngy
03/9/1945 ó nờu lờn nhng nhim v cp bỏch: Chng úi, chng mự ch, cng
c chớnh quyn.
dy tt bi ny ngoi vic xp xp li dn ý nh ó nờu chỳng tụi cũn
cho hc sinh coi trc nhng ni dung thuc v c ch s phm.
- Bi c thờm:
+ L ký Hip nh s b (ngy 6/3/1946) v ph khon ớnh kốm theo Hipnh.
Saựng kieỏn kinh nghieọm 2011 2012 Trang:13
+ Th ca H Ch tch gi ng bo Nam b trc khi sang Phỏp m phỏn.
- Ti liu tham kho.
+ Danh sỏch Chớnh ph lõm thi (quc dõn i hi Tõn tro ngy 16/8/1945)
+ Danh sỏch Chớnh ph liờn hip khỏng chin (quc hi thụng qua ngy
2/3/1946)
- Hỡnh nh minh ha.
+ nh nhõn dõn Nam b vút gy tm vụng ỏnh Phỏp

biến hơn trong nhận thức cũng như trong thực hành, kết quả học tập được nâng
lên rõ rệt.
Từ chỗ nắm được kiến thức cơ bản từng bài, từng chương thông qua việc học
tập trên lớp và tự học ở nhà mà khi ôn luyện kiểm tra, thi cử. Áp lực đối với các
em sẽ được giảm bớt. Vì vậy việc ôn luyện, hệ thống lại kiến thức nhẹ nhàng và
hiệu quả hơn. Trên cơ sở đó kết quả bài làm được cải thiện.
5/ Tích hợp một số kiến thức, kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan, chuyện
kể, làm cho tiết học sinh động và hấp dẫn hơn.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý, chuyện kể, tranh ảnh phải phù hợp với từng
loại bài; chẳng hạn, như loại bài về khởi nghĩa, chiến tranh cách mạng có thể
cho học sinh những thông tin sau:
Công dân Hi Lạp cổ đại đã phát biểu khi đất nước có chiến tranh: “ Hỡi những
người qua đường! Anh hãy đến và hãy báo tin cho các công dân La – xê – đô –
Saùng kieán kinh nghieäm 2011 – 2012 Trang:15
môn rằng: trung thành với những lời dạy của họ, tại đây chúng tôi đã hiến thân
mình nhẹ như lông hồng”. Như vậy không cần miêu tả chiến tranh chém giết,
khủng khiếp gây xúc động mạnh, mà qua đó thông qua thái độ của người trong
chiến trận để thấy lòng yêu nước vô hạn của những người lính khi cần sẵn sàng
hi sinh vì tổ quốc thân yêu của mình, một đất nước mà học sinh nhạy cảm sẽ
thấy tuyệt vời ở chỗ: Đất nước họ đã tôn trọng, và bảo vệ quyền tự do của con
người - quyền công dân – Một xã hội văn minh đã được hình thành từ buổi bình
minh của lịch sử.
Hay thanh niên thành Aten có lời thề trước khi vào quân đội…” Tôi sẽ chiến
đấu….sẽ không để lại sau lưng mình một Tổ quốc suy nhược mà là một Tổ quốc
hùng cường và mạnh mẽ. Và chính bản thân tôi cùng với tất cả mọi người, sẽ
tuân thủ mọi luật pháp hiện đang có hiệu lực cũng như mọi luật pháp sẽ có trong
tương lai”.
Hoặc khi dạy về chiến tranh thế giới thứ hai, giáo viên có thể đọc cho học sinh
một đoạn về sư đoàn 24, được mệnh danh là sư đoàn thép:
Tên: 24; Họ: Thép; Chuyên môn: Bộ binh.

- Kết quả cụ thể:
+ Thơng qua đánh giá thái đợ học tập: Tiết lịch sử dạy vào tiết thứ năm trong
b̉i học, nhưng cac em cảm thấy vẫn hào hứng chờ đợi để được học Lịch sử!
+ Điểm sớ trong các bài kiểm tra được nâng lên rõ rệt, tỉ lệ điểm khá – giỏi cao
hơn so với trước đây, trong khi sớ học sinh ́u kém cũng giảm đáng kể .
Số lượngh/s Khá - Giỏi Trung bình
́u - Kém
Năm học 2008 -
2009
216 học sinh 25% 57% 18%
Năm học 2010 -
2011
234 học sinh 37% 55% 8%
Điều lí thú nữa là các em học sinh lớp nâng cao các mơn tự nhiên cũng đã rất
hứng thú khi vào tiết học lịch sử. Nhiều em đạt học sinh giỏi cấp tỉnh.
C/ PHẦN KẾT ḶN.
Như vậy, theo chúng tơi, ḿn nâng chất lượng bợ mơn, người thầy giáo
dạy sử cần phải biết tự ái, để nở lực phấn đấu, nâng cao trình đợ chun mơn –
nghiệp vụ, tìm tòi và sáng tạo áp dụng vào thực tế hoàn cảnh giảng dạy cụ thể,
trước hết tạo ra được sự niềm tin và hứng thú của các em học sinh. Bài học được
rút ra là phải liên tục “ giữ lửa” cả đới với thầy và trò.
Tồn bộ nội dung trên đây là thiển ý của chúng tơi, những điều đã được
rút ra từ thực tiễn giảng dạy. Củng là lương tâm, tình cảm, trách nhiệm của một
Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012 Trang:18
người đứng trên mục giảng. Phần trình bày chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết
về lý luận và thực tiễn cả về nội dung và cách diễn đạt, trình bày. Chúng tơi
chân thành mong muốn sự góp ý của các nhà quản lý chun mơn, các bậc
trưởng lão trong làng” Sử”, các bạn đồng nghiệp đồng mơn. Chúng tơi xin được
trân trọng ghi nhận, tiếp thu ý kiến để thực hiện tốt tiêu chí mà ngành giáo dục
Tỉnh nhà nói riêng, cả nước nói chung đã đề ra.

- Cơ sở lí ḷn của đề tài Trang 3
- Thực trạng vấn đề Trang 3
- Các biện pháp tiến hành Trang 6.
C/ KẾT ḶN Trang 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1/ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ- Tủ sách đại học sư phạm – NXB
Giáo dục – đào tạo 1980.
2/ GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP LỊCH SỬ – NXB Giáo dục – đào tạo 1983.
3/ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHỦ ĐỘNG SÁNG TẠO – NXB Giáo dục
- đào tạo 1980.
4/ TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN GIẢNG DẠY LỊCH SỬ DÙNG TRONG NHÀ
TRƯỜNG PTTH KIÊN GIANG – SỞ Giáo dục – đào tạo Kiên Giang.
5/ SÁCH GIÁO KHOA NGOÀI GIỜ LÊN LỚP – KHỐI 10 NĂM 2006 –
2007.
6/ Mợt sớ tờ báo: Giáo Dục và Thời Đại, T̉i trẻ, t̉i trẻ Nét, Dân trí,.v.v
Sáng kiến kinh nghiệm 2011 – 2012 Trang:21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status