SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ DẠY THÔNG QUA ĐỔI MỚI KIỂM
TRA MIỆNG TRONG CÁC TIẾT DẠY CHƯƠNG 1 SINH HỌC 12
CƠ BẢN"
1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong những năm qua, việc thực hiện đổi mới ngành giáo dục nói chung, giáo dục phổ
thông nói riêng chúng ta đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên bên cạnh
đó vẫn còn những tồn tại cần tiếp tục đổi mới, bổ sung. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2
BCH TW Đảng khóa VIII đã chỉ rõ con đường đổi mới giáo dục - đào tạo phải bằng “đổi
mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”.
Điều đó đặt ra yêu cầu cho việc dạy học cần phải tăng cường nhiều hơn nữa việc đổi mới
phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, cần phải nghiên cứu và triển khai
việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho HS sinh năng lực tư
duy sáng tạo, năng lực tự giải quyết vấn đề.
Cùng với việc đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp giảng
dạy thì vấn đề đổi mới kiểm tra đánh giá là khâu hết sức quan trọng trong quá trình giảng
dạy và học tập. Đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá là hai hoạt
động có liên quan chặt chẽ với nhau. Đổi mới kiểm tra đánh giá là động lực đổi mới
phương pháp dạy học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo. Đổi mới kiểm tra
đánh giá bao gồm nhiều khâu, nhiều nội dung, nhiều công đoạn trong đó việc đổi mới
kiểm tra miệng là khâu hết sức quan trọng vì đây là một hoạt động diễn ra thường xuyên
liên tục. Kiểm tra miệng không chỉ là kiểm tra ở đầu giờ mỗi tiết học mà cũng có thể
diễn ra xuyên suốt trong một tiết học. Nếu giáo viên lơ là không thực hiện tốt việc kiểm
tra miệng thì quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh sẽ bị gián đoạn, các em sẽ bị hổng
học tập, tích luỹ kiến thức, rèn luyện kỹ năng đồng thời tạo không khí sinh động trong
các giờ học, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường hiện
nay.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm
tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện ở chất lượng học tập của học sinh. Kiểm tra
thường xuyên giúp cho giáo viên điều chỉnh, bổ sung những kiến thức, kỹ năng, thái độ
mà môn học đề ra đồng thời sẽ giúp cho học sinh hình thành được động cơ, thái độ học
tập đúng đắn từ đó tích lũy được kiến thức, kỹ năng cần thiết.
Kết hợp với kiểm tra thường xuyên nên dành một phần điểm vào kiểm tra miệng để gắn
liền quyền lợi và trách nhiệm cho học sinh. Bởi vì nếu giáo viên không kiểm tra miệng
thường xuyên học sinh sẽ nhanh chóng lãng quên việc chuẩn bị bài gây khó khăn trong
quá trình giảng dạy của giáo viên và quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh. Do đó,
việc kiểm tra miệng thường xuyên hơn sẽ giúp học sinh hình thành thói quen trong việc
học bài cũ và chuẩn bị bài mới rất có ích cho giáo viên và học sinh trong quá trình thực
hiện tiết dạy.
3
Việc đổi mới kiểm tra miệng ngay tại lớp không những giúp không khí học tập sinh
động mà còn giúp học sinh tránh được lối học vẹt, học thụ động, học đối phó từ đó phát
huy được tính tích cực, chủ động của học sinh và đem lại hiệu quả cao trong giảng dạy và
học tập.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Thực trạng chung
Qua thực tế giảng dạy, học tập và rút kinh nghiệm, tôi nhận thấy rằng: trong những
năm trước đây, người giáo viên dạy theo cách truyền thống “thầy đọc trò chép”. Mục
đích là làm sao truyền thụ được nội dung thông tin đã định sẵn theo ý muốn chủ quan của
việc học bài cũ và thực hành các kỹ năng giải bài tập mà chỉ trông mong vào sự may rủi
trong việc làm bài trắc nghiệm.
Mặt khác, đa số học sinh trường tôi ở nông thôn, do hoàn cảnh gia đình nên nhiều
học sinh phải phụ giúp cha mẹ nên không có nhiều thời gian học tập, tài liệu tham khảo
hạn chế, kiến thức về bộ môn bị hổng nhiều nên nhiều em chưa thật sự yêu thích bộ môn
này. Điều này dẫn đến ý thức tự giác học tập của nhiều em chưa cao. Nhiều em thụ động
không học bài cũ, không chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Để đối phó với giáo viên các em
thường dùng sách “Học tốt Sinh học”, hoặc “Sách giải bài tập” mà không chịu khó học
bài cũ, nghiên cứu bài mới hay thực hành các kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Tất cả những yếu tố trên làm cho học sinh lười nhác, thụ động trong học tập, chất lượng
dạy và học không cao.
III.GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Như trên đã nói việc kiểm tra để lấy điểm miệng không chỉ thực hiện vào đầu của
mỗi tiết học mà tùy theo từng kỹ năng, kiến thức có thể thực hiện vào đầu, giữa hay cuối
của tiết học. Muốn thực hiện được việc kiểm tra miệng đạt kết quả thì cần có những nội
dung sau:
1. Chuẩn bị của giáo viên:
- Để nâng cao hiệu quả giờ day thông qua việc đổi mới phương pháp kiểm tra
miệng, công tác chuẩn bị của giáo viên rất quan trọng, đặc biệt là chuẩn bị bài soạn. Bài
soạn không phải là khuôn mẫu để giáo viên truyền đạt những hiểu biết của bản thân
mình, truyền đạt sự sáng tạo mà để khơi dậy sự sáng tạo của học sinh. Giáo viên phải tiến
hành lần lượt các bước tham khảo tài liệu, SGK đến việc lựa chọn nội dung, tình huống
có vấn đề. Có như vậy bài soạn của giáo viên mới chặt chẽ hơn, đảm bảo cho học sinh
tiếp thu tri thức chính xác, khoa học hơn.
- Công việc chuẩn bị của giáo viên trước hết là phải xác định mục tiêu, nội dung trọng
tâm của bài học, từ đó xác định nội dung cần kiểm tra.
5
M
Họ và tên học sinh
M1
Nguyễn Trọng Anh
M2
8
6
2
Phạm Văn Anh
3
3
Lê Thế Anh
6
7
4
Nguyễn Thị Bình
9
Đỗ Thị Dung
7
7
10
Đinh Thị Dung
9
5
…..
2. Chuẩn bị của học sinh:
Đây là khâu rất quan trọng và cực kì cần thiết cho chính bản thân học sinh và đồng
thời nếu học sinh làm tốt khâu này sẽ trợ giúp rất nhiều cho giáo viên trong quá trình thực
hiện tiết dạy - học.
Việc chuẩn bị của học sinh đã được giáo viên yêu cầu và hướng dẫn ngay từ đầu
năm học, học sinh sau mỗi bài học về nhà cần chuẩn bị:
+ Học bài cũ: nắm được trọng tâm bài học, làm bài tập SGK, sách bài tập, và tài liệu
tham khảo nếu có.
+ Chuẩn bị bài mới: trước hết các em đọc lướt qua nội dung bài mới, xác định nội dung
chính của bài và tập trả lời các câu hỏi lệnh trong các mục SGK. Ngoài ra với những bài
khó học sinh có thể lập dàn ý của bài theo hướng dẫn của giáo viên trước đó thông qua
chất lượng kiến thức của học sinh.
4. Các cách kiểm tra miệng:
Như ta đã biết, kiểm tra miệng là việc diễn ra thường xuyên, liên tục trong các tiết
dạy. Vì vậy hoạt động này phải đa dạng để tránh sự nhàm chán đơn điệu, tạo không khí
sinh động trong lớp học và giúp học sinh học tập có hiệu quả hơn.
8
Tuỳ theo mỗi tiết học và tuỳ theo từng yêu cầu về kiểm tra kiến thức, kỹ năng mà
giáo viên có thể áp dụng các cách kiểm tra miệng khác nhau.
4.1. Đối với kiểm tra đầu tiết dạy
a. Cách kiểm tra truyền thống:
Gọi 1 hoặc 2 học sinh lên bảng trả lời câu hỏi bài cũ, hoặc giáo viên nêu câu hỏi sau đó
lấy tinh thần xung phong của học sinh. Cách kiểm tra này hiệu quả không cao vì:
+ Nhiều học sinh không học bài cũ vì em nghĩ rằng có thể không đến lượt mình, một số
em lại học kiểu đối phó bằng cách học bài cũ một hôm để xung phong lên bảng lấy điểm
cao sau đó có thể không cần học bài cũ nữa…
+ Mặt khác, cách kiểm tra này vừa tốn nhiều thời gian, lại gây tâm lí căng thẳng cho học
sinh hơn nữa không thể kiểm tra được nhiều em cùng một lúc.
Như vậy, với cách kiểm tra bài cũ truyền thống, học sinh ngày càng trở nên lười biếng
trong việc học bài cũ, kết quả học tập không cao, không thể phát huy được tính tích cực
học tập của các em.
b. Cách kiểm tra phát huy tính tích cực của học sinh:
Qua kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi xin đưa ra một số cách kiểm tra nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh trong học bài cũ như sau:
Cách 1:
Cách thực hiện : Gọi một lượt 4 học sinh lên bảng. Giáo viên đưa ra câu hỏi chung cho
tất cả, học sinh nào trả lời được trước thì giáo viên cho phép. Các học sinh còn lại sẽ trả
Câu hỏi: Trình bày diên biến của qua trình nhân đôi ADN?
HS: Trả lời
HS khác trong lớp đặt câu hỏi bổ sung:
Vì sao trên mỗi chạc chữ Y, một mạch được tổng hợp liên tục còn mạch kia được
tổng hợp ngắt quãng?
HS đó có thể ra câu hỏi cho một học sinh khác trong lớp:
Nguyên tắc bổ sung, nguyên tác bán bảo tồn là gì?
10
Lưu ý: Khi thực hiên cách kiểm này giáo viên cần phải linh hoạt gợi ý cho học sinh đặt
câu hỏi cho phù hợp với nội dung cần kiểm tra, để không bị lạc đề và đỡ tốn thời gian
vào bài mới.
Cách kiểm tra để tự học sinh đặt câu hỏi này không chỉ áp dụng cho kiểm tra miệng
mà còn có thể áp dụng với cả khi kiểm tra củng cố cuối bài. Để phát huy hơn nữa tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giáo viên có thể ra bài tập về nhà cho các em
như sau: Dựa vào phần bài học mỗi em sẽ ra cho cô 5 câu tương tự: 2 câu trắc nghiệm
khách quan, 3 câu tự luận vừa có vận dụng cả lý thuyết vừa có liên hệ thực tế. Đến tiết
học tiếp theo giáo viên sẽ thu toàn bộ các bài của cả lớp và chọn ngẫu nhiên bài của một
số em sau đó giáo viên gọi học sinh cầm những câu hỏi đó để làm bài kiểm tra miệng của
mình.
Cách 3:
Cách thực hiện : Gọi 5 - 6 học sinh lên ngồi các dãy bàn đầu, mỗi học sinh mang theo 1
tờ giấy có đánh số thứ tự từ 1 đến 10, những học sinh trong lớp còn lại sẽ cùng làm và
dùng vở nháp để ghi các đáp án tương ứng.
Giáo viên đọc các câu hỏi lần lượt từ 1 đến 10 và yêu cầu học sinh ghi các đáp án
tương ứng. Sau đó thu bài của các em học sinh được gọi lên và 1 vài bài của các em ngồi
bên dưới để chấm điểm. Mỗi câu đúng tương ứng với 1 điểm. Sau đó giáo viên có thể ra
thêm câu hỏi phụ với nội dung kiến thức khó hơn, khuyến khích học sinh xung phong trả
lời lấy điểm cao hơn.
D. 23.
4. Cơ thể mà tế bào sinh dưỡng đều thừa 2 nhiễm sắc thể trên mỗi cặp tương đồng được
gọi là
A. thể ba.
B. thể ba kép.
C. thể bốn
D. thể tứ bội
5. Cơ thể mà tế bào sinh dưỡng đều thừa 2 nhiễm sắc thể trên 1 cặp tương đồng được gọi
là
A. thể ba.
B. thể ba kép.
C. thể bốn.
D. thể tứ bội
5. Ở người, một số bệnh di truyền do đột biến lệch bội được phát hiện là
A. ung thư máu, Tơcnơ, Claiphentơ.
B. Claiphentơ, Đao, Tơcnơ.
C. Claiphentơ, máu khó đông, Đao.
D. A, B đúng.
9. Cơ thể mà tế bào sinh dưỡng đều thừa 2 nhiễm sắc thể trên 2 cặp tương đồng được
gọi là
A. thể ba.
B. thể ba kép.
C. thể bốn.
D. thể tứ bội
10. Phép lai AAaa x AAaa tạo kiểu gen AAaa ở thế hệ sau với tỉ lệ
A. 2/9
B. 1/4
C. 1/8
D. 1/2.
Rõ ràng với các cách kiểm tra trên học sinh không thể học theo kiểu đối phó, mà
xem việc học bài cũ là quan trọng, cần thiết, phải được thực hiện nghiêm túc, thường
xuyên sau mỗi bài học trên lớp. Các cách kiểm tra trên đã theo hướng đổi mới kiểm tra
đánh giá: phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện để kích thích tư
duy, tính năng động về mọi hoạt động ở trên lớp, giảm “người thầy là trung tâm” mà
tăng cường “lấy học sinh là trung tâm”.
4.2. Đối với kiểm tra miệng trong tiết học
a. Cách kiểm tra truyền thống:
Thường trong các tiết học việc kiểm tra miệng và cho điểm khuyến khích học sinh
Đặc biệt, việc kết hợp kiểm tra miệng trong tiết học tôi đã áp dụng mang lại hiệu quả rất
cao, có thể phát huy tính tích cực của học sinh, các em có thể chủ động tiếp thu kiến thức,
mạnh rạn hơn trong việc trả lời các câu hỏi, thể hiện sự hiểu biết của bản thân, bộc lộ khả
năng của chính mình. Dưới đây là một số cách kết hợp kiểm tra miệng trong các tiết dạy
mà tôi đã thực hiện:
b.1. Trong tiết học lí thuyết:
* Đối với cá nhân:
Cách 1:
Cách thực hiện : Sau khi giáo viên nêu nội dung cần nghiên cứu, yêu cầu học sinh
nghiên cứu kĩ nội dung đó. Sau đó giáo viên gọi một học sinh đặt một câu hỏi về vấn đề
đó cho một bạn bất kì trong lớp trả lời, các học sinh khác chú ý theo dõi, nhận xét câu hỏi
và câu trả lời của 2 bạn, giáo viên nhận xét, bổ sung thống nhất nội dung của vấn đề và
cho điểm 2 học sinh vào cột M2.
14
Lưu ý: Với cách kiểm tra này, sẽ khó thực hiện khi đối tượng học sinh có học lực yếu,
kém. Do vậy, nội dung học sinh nghiên cứu cần được giới hạn cụ thể, phù hợp với từng
đối tượng học sinh. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới trước ở nhà bằng
cách lập dàn ý cho bài mới bằng hệ thống câu hỏi và tự trả lời.
Ví dụ: Khi dạy bài Đột biến gen, giáo viên có thể cho học sinh tự nghiên cứu nội dung
phần I.2. Các dạng đột biến gen trong thời gian 3 phút, sau đó một em được giáo viên
chỉ định tự đặt câu hỏi cho một bạn khác trong lớp trả lời, sau khi bạn trả lời xong em
học sinh đặt câu hỏi được nhận xét và bổ sung ý kiến về vấn đề đó.
Cách 2:
Cách thực hiện : Sau khi đọc câu hỏi, giáo viên yêu cầu học sinh làm theo cá nhân, đọc
bài nghiên cứu nội dung sách giáo khoa rồi sau đó làm các bài tập, câu hỏi này trong
khoảng 5 phút. Trong khoảng thời gian này giáo viên đi vòng quanh lớp để hỗ trợ cho các
em và quan sát không cho các em nhìn nhau. Sau khoảng thời gian qui định, giáo viên thu
bày quá trình dịch mã.
Lưu ý: Để phát huy tính tích cực của tất cả các nhóm và các thành viên trong từng nhóm
giáo viên cần: ghi nhận những nhóm thường xuyên có câu trả lời đúng, hoạt động tích
cực, cho điểm vào cột M2. Thường xuyên đổi vai trò nhóm trưởng của các thành viên
trong nhóm, tránh để cho một vài thành viên luôn trả lời, còn các thành viên khác thì
không có chính kiến của mình.
b.2. Trong tiết thực hành:
Cách thực hiện : Đây là một kỹ năng rất quan trọng, nếu thực hiện tốt thì việc kiểm
tra miệng học sinh kỹ năng này sẽ có tác dụng rất lớn đối việc khuyến khích các em học
môn sinh học. Tuy nhiên tùy theo trình độ của các em mà giáo viên nên có những yêu cầu
phù hợp nhằm khuyến khích và động viên các em thực hành. Trong giờ thực hành tùy
theo các nội dung mà tôi sẽ yêu cầu các em thực hành theo cặp, nhóm hoặc cá nhân. Tôi
cũng cho học sinh điểm thực hành của kỹ năng này. Đối với kỹ năng này tôi chỉ áp dụng
những nội dung vừa sức với các em. Hoặc có thể cho điểm cộng cho các em xung phong
thực hành trước lớp theo cặp hoặc nhóm.
Sau khi hướng dẫn, gợi ý và làm mẫu với một học sinh khá trong lớp, tôi yêu cầu
học sinh thực hành theo cặp, hoặc nhóm học tập. Trong thời gian các em đang thực hành,
tôi có thể đi quanh để giúp đỡ các em nếu thấy cần thiết. Sau khoảng 8- 10 phút tôi gọi
một vài cặp hoặc nhóm đứng lên thực hành, báo cáo kết quả sau đó nhận xét và cho điểm.
16
Ví dụ: Khi học Bài 7: Thực hành: Quan sát các dạng đột biến số lượng NST trên tiêu
bản cố định và trên tiêu bản tạm thời.
Sau khi hướng dẫn cho học sinh quan sát các dạng đột biến số lượng NST trên tiêu
bản cố định (bộ NST của người bình thường, người bị hội chứng Đao), tôi yêu cầu 3 cặp
học sinh quan sát và rút ra nhên xét về số lượng NST trong bộ NST của người, đồng thời
xác định số lượng NST trong từng cặp tương đồng trên tiêu bản.
Sau đó để dễ quan sát hơn, tôi cho học sinh quan sát qua máy chiếu projector, học
Ví dụ:
AabbCcDdEe X AaBbCcddEe ……………….
b.4. Trong tiết học ôn tập:
Cách thực hiện : Áp lực thời gian trong tiết ôn tập là rất lớn vì vừa phải ôn phần lí
thuyết vừa phải tải phần bài tập nên thời gian dành cho việc kiểm tra học sinh bị hạn chế.
Với tiết này sẽ giúp cho học sinh có điều kiện ôn tập lí thuyết, củng cố và rèn luyện kỹ
năng giải bài tập (đây là phần được gặp rất nhiều trong các đề thi, kiểm tra định kỳ).
Trong tiết này tôi sẽ phát bài tập gồm 10 câu trắc nghiệm khách quan cho cả lớp làm
trong 10 phút, đồng thời gọi 3 học sinh lên bảng, mỗi em làm 1 câu bài tập tự luận. Sau
10 phút tôi thu bài của 5 em học sinh bất kỳ và giao cho 5 em khác chấm, 2 em học sinh
trên bảng vẫn tiếp tục giải trong khi giáo viên sửa 10 câu trắc nghiệm. Sau đó giáo viên
thu lại bài của 5 em được chấm và kiểm tra lại, ghi điểm vào cột M2. Tiếp tục hướng dẫn
cách làm bài tự luận trên bảng và yêu cầu 3 học sinh chấm chéo cho nhau, giáo viên vừa
sửa cho cả lớp vừa quan sát để cho điểm.
4.3. Đối với kiểm tra miệng cuối tiết học
Đây là khâu rất quan trọng giúp giáo viên có thể đánh giá được khả năng tiếp thu
kiến thức của học sinh trong tiết học. Tuy nhiên, thời gian dành cho khâu củng cố lại rất
ngắn, nhiều khi không còn thời gian. Do vậy không thể yêu cầu học sinh trả lời nhiều câu
hỏi hết toàn bộ nội dung của bài học.
a. Cách củng cố bài truyền thống:
Theo cách dạy truyền thống, giáo viên thường yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi
cuối bài, hoặc chỉ đơn giản là nhắc lại nội dung của bài học. Với cách củng cố bài như
vậy học sinh thường ỷ lại vào vở ghi, nội dung trên bảng hoặc dựa vào tài liệu sách giải
bài tập để trả lời câu hỏi. Như vậy, giáo viên không thể đánh giá khả năng tiếp thu kiến
thức thật sự của học sinh. xem nhẹ hoặc bỏ qua khâu củng cố.
b. Đổi mới củng cố bài bằng kiểm tra miệng:
18
+ Điểm trung bình học kỳ môn của các em thấp hơn.
19
* Ở lớp áp dụng đề tài trên:
- Sau một kì áp dụng phương pháp mới này, bản thân tôi cũng như học sinh gặp rất nhiều
khó khăn, tuy nhiên bước đầu chúng tôi đẫ làm quen dần với các cách kiểm tra miệng
trên lớp, một số biểu hiên tích cực như:
+ Không khí tiết học trở nên nhẹ nhàng hơn, sôi nổi hơn, các em chủ động hơn trong việc
trả lời câu hỏi, một số học sinh có thể tự tin đặt câu hỏi cho các bạn, tự tin trình bày
những hiểu biết của bản thân về vấn đề học tập, tham gia hoạt động nhóm sôi nổi và có
hiệu quả….
+ Học sinh tích cực học bài cũ và chuẩn bị bài mới trước ở nhà, tích cực nghiên cứu bài
mới trên lớp.
+ Hầu hết học sinh của tôi có điểm kiểm tra miệng cao hơn năm trước, số em bị điểm
kém rất thấp, không có em bị điểm 0.
+ Điểm trung bình môn học kỳ cũng được tăng lên rõ rệt.
* Cụ thể: Số liệu thống kê điểm kiểm tra miệng, và điểm trung bình môn học kì I năm
học 2011 – 2012 giữa lớp đối chứng (không áp dụng đổi mới kiểm tra miệng) và lớp thực
nghiệm (áp dụng các cách đổi mới kiểm tra miệng) như sau:
Số liệu thống kê điểm kiểm tra miệng học kỳ I năm học 2011-2012
Lớp
12A11
12A2
12.5%
37.5%
32.5%
10%
7
9
17
9
0
16.7%
21.4%
40.5%
21.4%
0%
42
42
1
3
23
2.5%
7.5%
57.5% 25%
7.5%
6
10
21
0
14.3% 23.8% 50%
5
11.9% 0%
- Chương trình sách giáo khoa nên được giảm tải để giáo viên có thời gian hơn trong
việc kiểm tra miệng học sinh.
- Hình thức đánh giá và thi cử nên được cải tiến, các đề kiểm tra không nên 100%
trắc nghiệm, vì như vậy sẽ không đánh giá được các kỹ năng của học sinh. Qua đó hạn
chế tính ỷ lại, lười nhác của học sinh trong việc tích luỹ kiến thức, kỹ năng, đồng thời
giúp học sinh thấy được kết quả phản ánh đúng với khả năng thực của các em.
- Thư viện nhà trường nên bổ sung thêm nhiều sách tham khảo cho học sinh và giáo
viên.
-Mở các cuộc hội thảo chuyên đề về phương pháp dạy học thường xuyên hơn.
Trên đây là kinh nghiệm nhỏ bé của tôi trong việc đổi mới kiểm tra miệng nhằm góp
phần đổi mới kiểm tra, đánh giá. Rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các
đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
22