Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh của trung tâm phân thối thời trang Winny trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO - Pdf 39

GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

Luận văn tốt nghiệp

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Xu thế toàn cầu hoá, hội nhập và mở cửa nền Kinh tế quốc tế giữa các nước với
nhau đang là vấn đề nổi trội của nền kinh tế thế giới hiện nay và trong tương lai.
Chính đặc điểm này đã tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia
và khu vực. Các định chế và các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế đã được hình
thành để phục vụ cho Kinh tế quốc tế, tạo lập hành lang pháp lý chung để các nước
cùng tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề lớn. Việc Việt Nam tham gia vào
WTO đã tạo ra cho các Doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội và thách thức mới,
trong đó bao gồm cả các Doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối.
Trung tâm phân phối thời trang Winny đã đạt được những thành tựu nhất
định trong hoạt động, tuy nhiên năng lực cạnh tranh còn nhiều hạn chế như: Chất
lượng nguồn nhân lực còn kém, danh tiếng và uy tín cũng như thương hiệu chưa
mạnh, hệ thống phân phối chưa chuyên nghiệp… Do vậy việc nâng cao năng lực
cạnh tranh của Trung tâm trong điều kiện mới là yêu cầu cấp thiết.
Với những lý do trên, trong thời gian thực tập tại trung tâm, tôi đã lựa chọn
đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của trung tâm phân thối thời trang
Winny trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO” để nghiên cứu trong
luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của mặt hàng phân phối thời trang của Trung tâm phân phối thời trang
Winny.
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
• Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của một doanh

phối thời trang Winny trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO.

Sinh viên: Nguyễn Quang Công

Lớp: Quản trị Kinh doanh quốc tế 46A


GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

Luận văn tốt nghiệp

3

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP, VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC
PHÂN PHỐI
1.1. Lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm và bản chất của cạnh tranh
Cạnh tranh theo nghĩa thông thường là ý thức và hành động "cố gắng giành phần
thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như
nhau”
Cạnh tranh kinh tế xuất hiện và tồn tại khách quan trong quá trình hình
thành, phát triển của sản xuất hàng hoá và trở thành một đặc trưng cơ bản của cơ
chế thị trường. Hành vi cạnh tranh gắn liền với các chủ thể kinh tế và chịu sự tác
động của các quy luật trên thị trường. Do đó, cần thiết phải nhận thức đầy đủ tính
chất cũng như tác động của hành vi này đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội
và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước.
Có thể nhận thấy, cạnh tranh là hành vi giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh tế

Để hiểu rõ được cạnh tranh là gì, thì phải xem xét đến bản chất của cạnh
tranh. Vậy bản chất cạnh tranh là gì?
Thứ nhất, bản chất cạnh tranh là nói đến sự đua tranh của nhiều chủ thể cùng tham
gia thị trường nhằm giành phần thắng (thị phần, lợi nhuận) về phía mình. Nếu chỉ
có một chủ thể (độc quyền) trên thị trường thì không có cạnh tranh, nhưng nếu có
nhiều chủ thể theo đuổi những mục tiêu khác nhau thì cũng có rất ít áp lực cạnh
tranh.
Thứ hai, Trong bản chất cạnh tranh thì đối tượng cạnh tranh rất phong phú,
có thể là chiếm lĩnh các yếu tố đầu vào, các nguồn lực, giành vị trí độc quyền về
khoa học - công nghệ, chi phối hay thống trị thị trường tiêu thụ, giành giật các cơ
hội đầu tư, ký kết các hợp đồng kinh tế có lợi…
Thứ ba, Bản chất của cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích bảo đảm cho sự tồn tại
và phát triển của mỗi chủ thể. Tuỳ thời điểm kinh doanh mà mục tiêu cụ thể có thể
là xâm nhập, chiếm lĩnh thị trường hay mở rộng thị phần đã có hoặc là lợi nhuận tối
đa. Để đạt được mục tiêu đó, các chủ thể phải sử dụng các biện pháp đua tranh về
kinh tế - kỹ thuật là chủ yếu và điều này có tác dụng to lớn đối với sự tiến bộ kinh

Sinh viên: Nguyễn Quang Công

Lớp: Quản trị Kinh doanh quốc tế 46A


GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

Luận văn tốt nghiệp

5

tế - xã hội, góp phần thải loại những yếu tố lỗi thời, kém hiệu quả. Vì lẽ đó mà
cạnh tranh được coi là sự phá huỷ mang tính sáng tạo.

GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

Luận văn tốt nghiệp

6

một doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của
doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ
thống thông tin…Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh
nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những
lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và
định lượng. Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh
vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Mặc dù vậy,
vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh
nghiệp bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói; kênh
phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiến thương mại; năng
lực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình độ lao
động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vị thế tài
chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp hiện nay, thông qua phương pháp so sánh trực tiếp các
yếu tố nêu trên để đánh giá năng lực cạnh tranh của mình so với đối tác cạnh tranh.
Đây là phương pháp truyền thống và phần nào phản ánh được năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là không cho phép
doanh nghiệp đánh giá tổng quát năng lực cạnh tranh của mình với đối tác cạnh
tranh mà chỉ đánh giá được từng mặt, từng yếu tố cụ thể. Để khắc phục nhược điểm
trên, việc nghiên cứu vận dụng ma trận đánh giá các yếu tố môi trường nội bộ, qua
đó giúp doanh nghiệp so sánh năng lực cạnh tranh tổng thể của mình với các đối
thủ trong ngành là một giải pháp mang tính khả thi cao.
Tóm lại, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một tất yếu
khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Nếu không làm

đó làm uy tín công ty sẽ cao hơn và khả năng cạnh tranh sẽ cao hơn.
Thứ hai, tổng doanh thu/vốn. Quy mô doanh thu trên vốn càng lớn, năng lực
cạnh tranh càng cao. Ngoài ra còn quan tâm đến cơ cấu doanh thu từng loại dịch vụ
mà công ty cung cấp.
Chỉ tiêu tổng doanh thu/vốn lớn thể hiện phần nào ưu thế dịch vụ và khả
năng chiếm lĩnh thị trường của công ty lớn so với các công ty khác, mặt khác còn
thể hiện khả năng nắm giữ, duy trì thị phần, gia tăng lợi nhuận, bảo đảm sự duy trì
và phát triển bền vững của doanh nghiệp, biểu hiện khả năng cạnh tranh của công
ty có ưu thế. Ngược lại quy mô về tổng doanh thu/vốn nhỏ thì khả năng cạnh tranh
của công ty yếu hơn.

Sinh viên: Nguyễn Quang Công

Lớp: Quản trị Kinh doanh quốc tế 46A


GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

Luận văn tốt nghiệp

8

1.1.3.2. Chỉ tiêu phản ánh chất lượng, hiệu quả hoạt động
Chất lượng, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là chỉ tiêu dùng để đánh giá năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.
Chất lượng, hiệu quả kinh doanh là trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt
được mục tiêu xác định. Nó là phạm trù phản ánh chiến lược của các hoạt động
kinh doanh, được đo bằng số tương đối: hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội tuy có khác nhau song chúng có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu doanh
nghiệp có được hiệu quả kinh doanh cao thì sẽ góp phần làm cho hiệu quả kinh tế xã hội cao. Hiệu quả kinh tế - xã hội gắn liền với nền kinh tế và được xem xét ở
góc độ quản lý vĩ mô. Mọi doanh nghiệp cần phải tìm cách nâng cao hiệu quả kinh

trường thì thường có được sự chủ động khi ra các quyết định về kinh doanh, sự chủ
động này sẽ giúp công ty thu được nhiều lợi ích cho mình hơn đối thủ cạnh tranh
nếu đối thủ là kẻ chậm chạp.
Đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp cụ thể là đổi mới trong chiến lược,
đổi mới sản phẩm cũng như hệ thống phân phối để đáp ứng nhanh nhạy yêu cầu
của thị trường.
1.1.3.4. Chỉ tiêu phản ánh chất lượng nguồn nhân lực
Nhân lực là nguổn rất quan trọng vì nó sáng tạo ra các nguồn lực khác. Nguồn nhân
lực của doanh nghiệp là vốn quý nhất. Trình độ của nguồn nhân lực thể hiện ở trình
độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ lành nghề của nhân viên, công nhân, trình
độ tư tưởng văn hóa của mọi thành viên. Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các
sản phẩm có hàm lượng chất xám cao. Sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao sẽ bán
được nhiều hơn, với giá cạnh tranh hơn, lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng
tăng, uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp ngày càng lớn. Nhờ uy tín và danh
tiếng đó mà doanh nghiệp có điều kiện phát triển thị trường, mở rộng quy mô, góp
phần làm cho năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngày càng được nâng lên.
Theo điều tra cho thấy các doanh nghiệp của Mỹ, EU, Nhật Bản Singapore,
có tính cạnh tranh rất cao là do họ có được nguồn nhân lực được đào tạo một cách
chuyên nghiệp, họ đã chú trọng tới việc tri thức hóa nguồn nhân lực, phát triển khả
năng sáng tạo của con người để tạo ra lợi thế cạnh tranh mạnh, giành được ưu thế
trên thị trường.

Sinh viên: Nguyễn Quang Công

Lớp: Quản trị Kinh doanh quốc tế 46A


GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

10


Lớp: Quản trị Kinh doanh quốc tế 46A


GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

11

Luận văn tốt nghiệp

nào có được mức nhận biết của thị trường ở loại ba chứng tỏ doanh nghiệp đó có
khả năng cạnh tranh cao.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lục cạnh tranh của doanh nghiệp
Với cách tiếp cận này, khi nghiên cứu giải pháp nâng cao nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp thì không thể không nghiên cứu cả các nhân tố bên trong và
bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Bao gồm:
1.1.4.1 Nhân tố bên trong
Về cơ bản, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hiện nay thường bị ảnh hưởng
một số nhân tố bên trong (tự thân doanh nghiệp) tác động như sau:
Quy mô hoạt động của doanh nghiệp
Quy mô hoạt động đó là nhân tố nội sinh quan trọng để phản ánh đến năng lực cạnh
tranh của một doanh nghiệp, quy mô hoạt động càng lớn chính tỏ công ty có ảnh
hưởng càng cao tới các đối thủ cạnh tranh cũng như uy tín của công ty với khách
hàng, mà những sản phẩm của công ty có uy tín lớn chính là sự lựa chọn của người
tiêu dùng, điều này sẽ làm tăng thị phần, tăng doanh số, cũng như tăng năng lực
cạnh tranh của công ty với các đối thủ.
Trong lĩnh vực phân phối các công ty có quy mô hoạt động lớn tầm cỡ quốc
tế như: Wal Mart (Mỹ), Metro Cash&Carry (Đức) Do Burberry (Anh), Seven
Elevent (Thái Lan)… đây là những nhà phân phối đã hoạt động lâu năm trong lĩnh
vực phân phối, thị phần và doanh số của họ thường rất cao chiếm 1/3 đến 1/4 thị

Xây dựng và bảo vệ thương hiệu
Thương hiệu là một trong nhũng nhân tố nội sinh nhưng lại được do khách hàng,
đối thủ cạnh tranh đánh giá là thành phần không thuộc môi trường bên trong của
doanh nghiệp. Chính điều này nói lên thương hiệu là nhân tố phản ảnh năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp một cách khách quan nhất, một thương hiệu tốt tức là
một sự bảo đảm vô hình với những hàng hóa do công ty đó sản xuất hay phân phối
đến với người tiêu dùng. Khách hàng lựa chọn một sản phẩm của một hãng phân
phối mang thương hiệu lớn họ sẽ an tâm về chất lượng cũng như sự chăm sóc
khách hàng của công ty đó, không những họ được sản phẩm tốt mà họ còn được
hưởng cả những hàng hóa vô hình như sự tôn vinh, sự sành điệu đây chính là giá trị
tâm lý mà họ lựa chọn hàng hóa của một thương hiệu lớn, điều này nói lên một
thương hiệu lớn là một năng lực cạnh tranh cao.
Công tác nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu
Sinh viên: Nguyễn Quang Công

Lớp: Quản trị Kinh doanh quốc tế 46A


GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

Luận văn tốt nghiệp

13

Nghiên cứu và lựa chọn thị trường mục tiêu là một nhân tố nội sinh phản ánh năng
lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, một doanh nghiệp không thể nào đáp ứng
được hết tất cả các nhu cầu của người tiêu dùng được, cũng như một sản phẩm
không thể đáp ứng được hết nhu cầu của người già người trẻ hay thanh niên được,
chính vì vậy việc lựa chọ một thi trường mục tiêu trên cơ sở đã nghiên cứu thị
trường đó kỹ là một chiến lược đúng đắn của công ty. Lựa chọn một thị trương mục


Đối với lĩnh vực phân phối sự quản lý và điều hành này càng phải chặt chẽ
hơn không sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức hay tiền của, vì sự điều hành phải
gắn với một quá trình từ khi hình thành hệ thống phân phối tới khi phát triển hệ
thống này lên nữa, khi hình thành cần phải đi những bước đi vững chắc, khi phát
triển trên cở sở buớc đầu vững chắc đó tiến một bước dài, khi hệ thống phân phối
đã đi vào quy trình chặt chẽ thì Trung tâm sẽ dễ hơn trong việc mở rộng quy mô
tăng doanh số và phát triển các mặt hàng chiếm nhiều thị phần hơn, làm tăng năng
lực cạnh tranh của Trung tâm lên.
Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một nhân tố quan trọng bậc nhất của một tổ chức nó quyết định
nhiều nhất tới năng lực cạnh tranh của công ty, vì nguồn nhân lực sẽ tạo ra tất cả
các nhân tố trên như: quản lý và điều hành, đưa ra và thực hiện chiến luợc kinh
doanh, nghiên cứu và mở rộng thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu.
Một công ty có đội ngũ nhân lực với trình độ cao sẽ làm giảm bớt được thời
gian thực hiện công việc, sự gắn kết của những người có trình độ cao sẽ đa dạng
và chuẩn xác hơn. Như cấp trên giao nhiệm vụ cho cấp dưới, cấp dưới có trình độ
cao sẽ làm giải quyết công việc đó một cách nhanh chóng nhờ đó mà công ty sẽ
tăng được năng suất lao động, tiết kiệm được thời gian, từ đó làm tăng lợi thế cạnh
tranh cho công ty.
1.1.4.2. Nhân tố bên ngoài
Nhân tố bên ngoài là những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của công ty, mà có
ảnh hưởng tới công ty. Sau đây là những nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng tói
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khách hàng
Khác hàng là nhân tố ngoại sinh hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh
tranh của một doanh nghiệp. Vì họ là mục tiêu của tất cả các công ty, khách hàng là
Sinh viên: Nguyễn Quang Công

Lớp: Quản trị Kinh doanh quốc tế 46A

của khách hàng tốt hơn đối thủ cạnh tranh, vì thị phần lúc này sẽ được chia làm
nhiều mảng nhỏ, nếu như thị phần của mình mà không đổi khi số lượng các doanh
nghiệp tăng lên thì tức là những đối thủ cạnh tranh kia sẽ bị mất đi thị phần của
minh, dẫn đến lợi thế của các đối thủ sẽ giảm đi, năng lực cạnh tranh sẽ yếu hơn.

Sinh viên: Nguyễn Quang Công

Lớp: Quản trị Kinh doanh quốc tế 46A


GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

Luận văn tốt nghiệp

16

Những nhân tố bên ngoài khác
Môi trường kinh tế cũng có ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,
chẳng hạn như tình hình kinh tế không ổn định làm lạm phát tăng cao điều này sẽ
làm giảm sức mua của người tiêu dùng, đồng nghĩa với doanh nghiệp giảm doanh
số bán hàng ảnh hưởng tới chiến lược kinh doanh của công ty, ảnh hưởng tới năng
lực cạnh tranh của công ty với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Vì lạm phát trong
nước tăng sẽ làm cho công ty phát triển chậm lại vì sức mua giảm, nhưng so với
các đối thủ nước ngoài thì tình hình kinh tế của nước đối thủ ổn đinh, đối thủ sẽ
phát triển tốt hơn các doanh nghiệp trong nước, như vậy làm cho các đối thủ nước
ngoài tăng được năng lực cạnh tranh vi họ phát triển ổn định.
Những lời nhận xét của báo chí hay những người nổi tiếng đối với sản phẩm
của doanh nghiệp khi họ có thiện cảm cũng sẽ làm tăng được năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp đó. Nhờ vào sự nổi tiếng của họ mà người tiêu sẽ có thiện cảm
với những gì mà thần tượng của họ cho là đúng điều này cũng ảnh hưởng không

Với những doanh nghiệp kinh doanh phân phối, giá cả được quyết định rất
nhiều, vì họ không phải là những nhà sản xuất họ phải đi tìm nguồn đó là những
nhà sản xuất, giá cả lúc này cũng đã bị đội lên vì không thể lắm được chi phí sản
xuất của họ là bao nhiêu, đây là một bất lợi lớn, với những doanh nghiệp kinh
doanh phân phối, họ sẽ phải cạnh tranh khốc liệt hơn đối với những nhà sản xuất tự
thân kinh doanh sản phẩm.
1.1.5.2. Cạnh tranh bằng sản phẩm
Sản phẩm là một công cụ nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh
của mình với đối thủ cạnh tranh. Sản phẩm mà doanh nghiệp có, đúng với nhu cầu
và thị hiếu của người tiêu dùng, sẽ giúp doanh nghiệp bán được nhiều hàng hơn, từ
đó làm tăng doanh thu, tăn thị phần và tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Giá cả là phương thức tốt để doanh nghiệp giành thị phần cho mình, nhưng
sản phẩm cũng là công cụ tốt để nâng cao doanh thu cho doanh nghiệp, với giá cả
bằng nhau giữa hai sản phẩm, mà sản phẩm của doanh nghiệp được đánh giá tốt
hơn sẽ giúp doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh lớn.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh phân phối giá cả ở trên là một e ngại vì sẽ
dễ bị đội giá lên, nhưng với sản phẩm thì khác, sản phẩm thì không thể có sự khác
biệt về chất lượng vì cùng sản xuất trên một dây chuyền. Nhưng để bù lại sự mất
mát về giá thì họ phải dùng sản phẩm đa dạnh hơn chất lượng hơn để bù lại nhằm

Sinh viên: Nguyễn Quang Công

Lớp: Quản trị Kinh doanh quốc tế 46A


GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

Luận văn tốt nghiệp

18

Lớp: Quản trị Kinh doanh quốc tế 46A


GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

Luận văn tốt nghiệp

19

đã rất chậm, sản phẩm sẽ chậm được tiêu thụ. Bởi vậy, doanh nghiệp cần phải
quảng cáo.
Với doanh nghiệp kinh doanh phân phối sản phẩm, thì uy tín và danh tiếng
sẽ là phần quyết đinh nhiều nhất tới năng lực cạnh tranh của họ cũng như sự tồn tại
và phát triển của họ. Nhờ vào uy tín doanh nghiệp sẽ giúp tránh được nhiều khuyết
điểm về giá cả vì lúc này người tiêu dùng đã được bù lại một sản phẩm vô hình đó
là sự tôn trọng sự sành điệu khi dùng sản phẩm của một doanh nghiệp danh tiếng
trên thị trường.
Nhìn chung uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó, một doanh nghiệp có uy tín cao, người
tiêu dùng chỉ cần nghe thấy sản phẩm này thuộc công ty có uy tín họ không cần e
ngại tới chất lượng sản phẩm, cũng như cung cách chăm sóc khách hàng, nhờ vậy
mà thị phần cũng như doanh thu được tăng cao, góp phần làm tăng tính cạnh tranh
của doanh nghiệp.
1.3. Đặc điểm của lĩnh vực phân phối ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này
1.3.1 Đặc điểm của ngành phân phối
Ngành phân phối là trung gian của sản suất và tiêu dùng nó được biểu hiện trong
mô hình sau:
Hình 1.1: Sơ đồ sản xuất và tiêu dùng





Có đội ngủ bán hàng tiếp cận khách hàng



Lưu giữ hàng hoá



Tiếp nhận và giải quyết đơn đặt hàng



Nắm thông tin thị trường



Dịch vụ khách hàng

Đối với khách hàng


Đảm bảo luôn có sẵn hàng khi khách hàng cần



Trưng bày hàng một cách tiện lợi



GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

21

Luận văn tốt nghiệp

doanh phân phối. Nhưng đối với riêng ngành kinh doanh phân phối vì đặc điểm của
ngành này là trung gian của nhà sản xuất với người tiêu dùng, thì năng lực cạnh
tranh của ngành phân phối này có khác đôi chút với năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp khác.
Năng lực cạnh tranh của ngành kinh doanh phân phối khác ở điểm đó là họ
còn cạnh tranh với nhau ngay cả việc lựa chọn nhà sản xuất danh tiếng. Chỉ tiêu lựa
chọn được nhà sản xuất danh tiếng trên thị trường cũng làm cho doanh nghiệp kinh
doanh phân phối tăng cường được năng lục cạnh tranh, vì nhà sản xuất danh tiếng
thường họ đưa ra tiêu chí để lựa chọn nhà phân phối cho sản phẩm của mình hết
sức khắt khe, phải nhà phân phối nào có uy tín, có tiềm lực đáp ứng được yêu cầu
của họ thì họ mới lựa chọn, chính vì vậy mà khi được nhà sản xuất danh tiếng lựa
chọn thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh phân phối cũng sẽ được
củng cố. Và thường thì các nhà sản xuất danh tiếng là những nhà sản xuất có sản
phẩm nổi tiếng được nhiều khách hàng tin dùng, và khi được lựa chọn là nhà phân
phối cho họ, thì nhờ vào các sản phẩm nổi tiếng đó mà uy tín của doanh nghiệp
kinh doanh phân phối sẽ tăng lên và làm cho năng lực cạnh tranh cũng từ đó mà
tăng.
Sự khác biệt nữa về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phân phối với
các doanh nghiệp khác ở chỗ. Doanh nghiệp kinh doanh phân phối họ chỉ được lựa
chọn thương hiệu của một nhà sản xuất và không được phân phối hàng cho đối thủ
cạnh tranh của nhà sản xuất mà doanh nghiệp đã lựa chọn để phân phối. Ví dụ: Nếu
đã phân phối đồ lót nam nữ cho hãng Triumph thì không được phân phối hàng đồ
lớt nam nữ cho hãng Zeki Triko, vì hai hãng này là đối thủ cạnh tranh của nhau.

doanh nghiệp sản xuất đề ra chính tỏ nhà phân phối đó có ưu thế cạnh tranh hơn
các doanh nghiệp khác nhất là khi Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương
mại thế giới (WTO) thì sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn rất nhiều, các tiêu chí
này sẽ ngày càng tăng cao, có rất nhiều các doanh nghiệp kinh doanh phân phối với
tiềm lực kinh tế mạnh, uy tín và sẽ là cuộc chiến rất gay go giữa các doanh nghiệp
trong nganh này. (Bảng tiêu chí lựa chọn nhà phân phối xem phụ lục 1)
1.4. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt
Nam hoạt động trong lĩnh vực phân phối
Thương trường là chiến trường hiển nhiên điều này tất cả các doanh nghiệp đều
hiểu rất rõ. Chính vì vậy để tồn tại và phát triển trên thị trường thì tất cả các doanh
nghiệp cần phải chiến thắng được đối thủ cạnh tranh của mình. Để thắng thế trong

Sinh viên: Nguyễn Quang Công

Lớp: Quản trị Kinh doanh quốc tế 46A


GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh

Luận văn tốt nghiệp

23

cạnh tranh thì buộc tất cả các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình bao gồm kể cả các công ty kinh doanh phân phối.
Ngành phân phối là một ngành cũng khá mới đối với nước ta nó xuất hiện
được khoảng 10 năm ở nước ta, và mới được chú trọng phát triển, vì vậy kinh
nghiệm, và quy mô, uy tín cũng như năng lực kinh doanh chưa được mạnh, trong
khi đó ngành phân phối ở các nước trên thế giới đã có trước chúng ta hàng mấy
trăm năm, như vậy hẳn là kinh nghiệp, tài chính, uy tín và danh tiếng đã hơn hẳn


CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TRUNG TÂM
PHÂN PHỐI THỜI TRANG WINNY
2.1. Giới thiệu chung về Trung tâm phân phối thời trang Winny
2.1.1. Khái quát về Trung tâm phân phối thời trang Winny

Trung tâm phân phối thời trang Winny là một thành viên của Công ty cổ phần tập
đoàn Phú Thái. Hoạt động độc lập Trong lĩnh vực phân phối sản phầm thời
trang. Trung tâm được ra đời vào năm 2002, trong bối cảnh Tổng Công ty
Phú Thái đã hoàn thành cơ bản mạng lưới phân phối của mình, và muốn mở
rộng lĩnh vực phân phối ra nhiều chủng loại mặt hàng. Qua nghiên cứu thị
trường tiêu dùng trong nước Phú Thái thấy sản phẩm thời trang trong nước
đang có xu hướng tiêu dùng tăng lên trong tương lai, nắm bắt được nhu cầu
đó và mong muốn cung cấp mặt hàng này tới tay người tiêu dùng và Trung
tâm phân phối thời trang Winny đã ra đời.
Khi mới ra đời Trung tâm mới chỉ phân phối 2 loại sản phẩm đó là sản
phẩm đồ lót nam nữ và đồ bơi, nhưng trong quá trình kinh doanh của mình
Trung tâm nhận thấy sản phẩm thời trang ngày càng được chú trọng tới và có
xu thế phát triển mạnh trong tương lai, chính vì vậy trong 5 năm vừa qua
Trung tâm đã đa dạnh hoá danh mục sản phẩm của mình để đáp ứng tốt hơn
nhu cầu ngày cang phát triển của người tiêu dùng Việt Nam.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm phân phối thời trang Winny

2.1.2.1. Chức năng của Trung Tâm phân phối thời trang Winny


Phân phối các sản phẩm thời trang của các nhãn hiệu nổi tiếng và tạo lập chỗ

đứng trên thị trường bằng việc tự xây dựng cho mình một sản phẩm mang thương

Thương mại Thế giới (WTO), chính vì vậy Trung tâm nhận định việc mở rộng thị
trường là điều kiện cần thiết để củng cố và phát triển uy tín của Trung tâm cũng như
của toàn thể Công ty. Nhiệ vụ của Trung tâm trong những năm tới là duy trì và phát
triển thị phần trên thị trường Miền Bắc và tiến tới Miền Nam cũng như sẽ ra thị
trường nước ngoài
Trong tương lai sẽ tiếp tục tiếp thị và quảng cáo nhiều về sản phẩm thời
trang Winny, tạo lập thương hiệu mạnh đồng thời sẽ tiếp tục cải thiện sản phẩm
mẫu mã chất lượng. giá cả. Phù hợp với người tiêu dùng.
Đẩy mạnh quá trình nghiên cứu thị trường, phân tích, nhận định, đánh giá
nhu cầu về sản phẩm mà Trung tâm đang phân phối ở từng khu vực địa lý.
Đưa thương hiệu Trung tâm trong tốp những thương hiệu được người tiêu
dùng ưu thích nhiều nhất.
Sinh viên: Nguyễn Quang Công

Lớp: Quản trị Kinh doanh quốc tế 46A



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status