Nâng cao năng lực cạnh tranh của trung tâm phân thối thời trang Winny (thuộc Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Phú Thái) trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO - Pdf 31

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với cam kết mở cửa thị trường khi đã là thành viên của tổ chức Thương mai
Thế giới, Việt Nam đứng trước nguy cơ phải đương đầu với nhiều đối thủ
cạnh tranh, rồi rào về nguồn vốn, kỹ năng, kinh nghiệm, với nhiều chiến
lược mang tầm cỡ quốc tế để có thể chiếm được phần lớn thị phần của các
đối thủ. Đứng trước khó khăn này để không bị con sóng thần cuốn trôi các
doanh nghiệp Việt Nam cần phải nỗ lực hết mình, tìm mọi phương án, biện
pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để có thể bỏ xa những
đối thủ cạnh tranh trong thời kỳ mở cửa. Để làm được điểu này cần phải có
sự nỗ lực hết sức lớn lao của Nhà Nước và các doanh nghiệp Viêt Nam. Trên
ý nghĩa đó việc nghiên cứu đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của
trung tâm phân thối thời trang Winny (thuộc Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn
Phú Thái) trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO” Sẽ góp phần
quan trọng để các doanh nghiệp Việt Nam dần dần hòa nhập với xu thế toàn
cầu hóa, đề tài này có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong giai đoạn Việt Nam là
thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng
phân phối thời trang của Trung tâm phân phối thời trang thuộc Công ty cổ
phần tập đoàn Phú Thái.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau
đây:
Sinh viên: Nguyễn Quang Công Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
• Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của một
doanh nghiệp.

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP, VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG
LĨNH VỰC PHÂN PHỐI
1.1. Lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp
1.1.1. Khái niệm và bản chất của cạnh tranh
Cạnh tranh theo nghĩa thông thường là ý thức và hành động "cố gắng giành
phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm
những lợi ích như nhau”
Cạnh tranh kinh tế xuất hiện và tồn tại khách quan trong quá trình
hình thành, phát triển của sản xuất hàng hoá và trở thành một đặc trưng cơ
bản của cơ chế thị trường. Hành vi cạnh tranh gắn liền với các chủ thể kinh
tế và chịu sự tác động của các quy luật trên thị trường. Do đó, cần thiết phải
nhận thức đầy đủ tính chất cũng như tác động của hành vi này đối với quá
trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng của đất nước.
Có thể nhận thấy, cạnh tranh là hành vi giải quyết mâu thuẫn lợi ích
kinh tế giữa các chủ thể, bằng mọi biện pháp, thủ đoạn đấu tranh, ganh đua
giành lấy những điều kiện sản xuất, tiêu thụ có lợi nhất nhằm tối đa hoá lợi
ích cho mỗi chủ thể trong nền kinh tế thị trường. Theo đó, nguồn gốc của
hiện tượng cạnh tranh gắn liền với điều kiện tồn tại của sản xuất hàng hoá,
mà trực tiếp là sự độc lập về mặt lợi ích của các chủ thể kinh tế trong nền
sản xuất xã hội. Bản chất của cạnh tranh phản ánh quan hệ kinh tế giữa các
chủ thể của nền kinh tế hàng hoá cùng theo đuổi mục đích tối đa hoá lợi ích
Sinh viên: Nguyễn Quang Công Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

hoặc là lợi nhuận tối đa. Để đạt được mục tiêu đó, các chủ thể phải sử dụng
các biện pháp đua tranh về kinh tế - kỹ thuật là chủ yếu và điều này có tác
dụng to lớn đối với sự tiến bộ kinh tế - xã hội, góp phần thải loại những yếu
tố lỗi thời, kém hiệu quả. Vì lẽ đó mà cạnh tranh được coi là sự phá huỷ
mang tính sáng tạo.
Thứ tư, Trong bản chất cạnh tranh hàm chứa phương thức hay công
cụ cạnh tranh rất phong phú, đa dạng và mỗi công cụ có thế mạnh riêng như
cạnh tranh bằng giá cả, chất lượng, tính độc đáo, dị biệt của sản phẩm, cạnh
tranh bằng hệ thống phân phối, dịch vụ hoặc cách thức thanh toán, cạnh
tranh bằng cả biện pháp kinh tế và phi kinh tế…
1.1.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế
của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các
đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của
doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ
được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản
trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối
tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường.
Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp
được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối
tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh,
đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình.
Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách
hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
Sinh viên: Nguyễn Quang Công Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn
đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi

giải pháp mang tính khả thi cao.
Tóm lại, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một tất
yếu khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Nếu
không làm được điều này, doanh nghiệp không chỉ thất bại trên “sân khách”
mà còn gánh chịu những hậu quả tương tự trên chính “sân nhà”. Để nâng cao
năng lực cạnh tranh thì một trong những công việc mà doanh nghiệp cần làm
là chủ động đánh giá thực lực kinh doanh của mình và tìm ra những điểm
mạnh cơ bản để phát huy những điểm mạnh đó, nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trong thị trường.
1.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp
1.1.3.1. Chỉ tiêu phản ánh quy mô hoạt động của doanh nghiệp
Nếu doanh nghiệp có quy mô lớn là cơ sở để thực hiện tốt các hoạt động, hạ
chi phí đơn vị sản phẩm, phát triển mở rộng quy mô, tạo thế cạnh tranh với
các doanh nghiệp khác. Ngược lại, nếu doanh nghiệp có quy mô nhỏ thì phải
chấp nhận bất lợi về chi phí, rất khó có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp
có lợi thế hơn về quy mô.
Thông thường khi xem xét quy mô các doanh nghiệp thì căn cứ vào
chỉ tiêu quy mô vốn; quy mô lao động; quy mô về doanh thu, thị phần lớn
hay nhỏ... Cụ thể, đối với các doanh nghiệp kinh doanh phân phối quy mô
thường được xác định theo 2 chỉ tiêu cơ bản:
Thứ nhất, Thị phần luôn luôn ở múc độ tăng trưởng ổn định sẽ là yếu
tố côt lõi để quyết định sự thành công hay thất bại, sự tồn tại và phát triển
Sinh viên: Nguyễn Quang Công Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
của công ty, từ đó làm uy tín công ty sẽ cao hơn và khả năng cạnh tranh sẽ
cao hơn.
Thứ hai, tổng doanh thu/vốn. Quy mô doanh thu trên vốn càng lớn,
năng lực cạnh tranh càng cao. Ngoài ra còn quan tâm đến cơ cấu doanh thu
từng loại dịch vụ mà công ty cung cấp.

định đó cũng mang lại lợi ích lơn cho doanh nghiệp do giảm chi phí ẩn của
sản xuất
1.1.3.3. Chỉ tiêu phản ánh sự đổi mới trong hoạt động
Không một doanh nghiệp có được năng lực cạnh tranh cao mà lại chỉ luôn
luôn áp dụng một hoạt động trong quá trình kinh doanh của mình, các công
ty đó phải luôn luôn có sự đổi mới trong qua trình hoạt động của mình, vì
diễn biến tình hình thay đổi nhu cầu của thế giới ngày càng nhanh, để đáp
ứng được nhu cầu thay đổi ngày càng nhanh đó thì doanh nghiệp phải linh
hoạt, có những thay đổi phù hợp với những thay đổi của khách hàng, đối thủ
cạnh tranh.
Một doanh nghiệp luôn có những ứng biến linh hoạt trước biến động
của thị trường thì thường có được sự chủ động khi ra các quyết định về kinh
doanh, sự chủ động này sẽ giúp công ty thu được nhiều lợi ích cho mình hơn
đối thủ cạnh tranh nếu đối thủ là kẻ chậm chạp.
Đổi mới mới hoạt động của các doanh nghiệp cụ thể là đổi mới trong
chiến lược, đổi mới sản phẩm cũng như hệ thống phân phối để đáp ứng
nhanh nhạy yêu cầu của thị trường.
1.1.3.4. Chỉ tiêu phản ánh chất lượng nguồn nhân lực
Nhân lực là nguổn rất quan trọng vì nó sáng tạo ra các nguồn lực khác.
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là vốn quý nhất. Trình độ của nguồn nhân
Sinh viên: Nguyễn Quang Công Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lực thể hiện ở trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ lành nghề của
nhân viên, công nhân, trình độ tư tưởng văn hóa của mọi thành viên. Trình
độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao.
Sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao sẽ bán được nhiều hơn, với giá cạnh
tranh hơn, lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng tăng, uy tín và danh tiếng
của doanh nghiệp ngày càng lớn. Nhờ uy tín và danh tiếng đó mà doanh
nghiệp có điều kiện phát triển thị trường, mở rộng quy mô, góp phần làm

lợi nhuân đó để nâng cấp và tái đầu tư.
Nếu như mức chấp nhận của thị trường ở loại một và loại hai thì
chứng tỏ doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh kém cần phải nâng cấp.
nếu doanh nghiệp nào có được mức chấp nhận của thị trường ở loại ba
chứng tỏ doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh cao.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lục cạnh tranh của doanh nghiệp
Với cách tiếp cận này, khi nghiên cứu giải pháp nâng cao nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp thì không thể không nghiên cứu cả các nhân tố
bên trong và bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bao gồm:
1.1.4.1 Nhân tố bên trong (nội sinh)
Về cơ bản, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hiện nay thường bị ảnh
hưởng một số nhân tố bên trong (tự thân doanh nghiệp) tác động như sau:
Quy mô hoạt động của doanh nghiệp
Quy mô hoạt động đó là nhân tố nội sinh quan trọng để phản ánh đến năng
lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, quy mô hoạt động càng lớn chính tỏ
công ty có ảnh hưởng càng cao tới các đối thủ cạnh tranh cũng như uy tín
Sinh viên: Nguyễn Quang Công Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
của công ty với khách hàng, mà những sản phẩm của công ty có uy tín lớn
chính là sự lựa chọn của người tiêu dùng, điều này sẽ làm tăng thị phần, tăng
doanh số, cũng như tăng năng lực cạnh tranh của công ty với các đối thủ.
Trong lĩnh vực phân phối các công ty có quy mô hoạt động lớn tầm cỡ
quốc tế như: Wal Mart (Mỹ), Metro Cash&Carry (Đức) Do Burberry (Anh),
Seven Elevent (Thái Lan)… đây là những nhà phân phối đã hoạt động lâu
năm trong lĩnh vực phân phối, thị phần và doanh số của họ thường rất cao
chiếm 1/3 đến 1/4 thị trường trong nước.
Riêng lĩnh vực phân phối thời trang thì ở nước ta có các hãng như:
Kico, Ninomax, Blue exchance, PT 2000, Prestige Vietnam… đó là những

những họ được sản phẩm tốt mà họ còn được hưởng cả những hàng hóa vô
hình như sự tôn vinh, sự sành điệu đây chính là giá trị tâm lý mà họ lựa chọn
hàng hóa của một thương hiệu lớn, điều này nói lên một thương hiệu lớn là
một năng lực cạnh tranh cao.
Công tác nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu
Nghiên cứu và lựa chọn thị trường mục tiêu là một nhân tố nội sinh phản ánh
năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, một doanh nghiệp không thể nào
đáp ứng được hết tất cả các nhu cầu của người tiêu dùng được, cũng như một
sản phẩm không thể đáp ứng được hết nhu cầu của người già người trẻ hay
thanh niên được, chính vì vậy việc lựa chọ một thi trường mục tiêu trên cơ
sở đã nghiên cứu thị trường đó kỹ là một chiến lược đúng đắn của công ty.
Lựa chọn một thị trương mục tiêu rồi dùng cách thức chiếm hết thị phần của
thị trường đó thường là một chiến lược đúng đắn của các doanh nghiệp nhằm
tăng lợi nhuận của công ty đó và cũng làm tăng năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp đó.
Sinh viên: Nguyễn Quang Công Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trung tâm phân phối thời tranh Winny lựa chọn thị trường mục tiêu
hoàn toàn mới mẻ ở Việt Nam đó là thời trang đồ lót, đồ ngủ, áo bơi, thời
trang công sở, thời trang dạo phố và các thời trang khác. Trung tâm đã
nghiên cứu rất kỹ thị trường Việt Nam, và đã là người đi đâu trong thị
trường này, nhằm thu hút hết thị phần và từ đó mở rộng mặt hàng kinh
doanh.
Năng lực quản lý và điều hành
Trình độ quản lý và điều hành là nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc
xem xét năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Có quản lý và điều hành tố
doanh nghiệp sẽ làm tốt mọi việc. Nếu các yếu tố khác tốt mà quản lý và
điều hành tồi thì hoạt động của doanh nghiệp chác chắn không đạt hiệu quả.
Khi hoạt động của doanh nghiệp không tốt sẽ ảnh hưởng đến uy tín cũng

Nhân tố bên ngoài là những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của công ty,
mà có ảnh hưởng tới công ty. Sau đây là những nhân tố bên ngoài có
ảnh hưởng tói năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khách hàng
Khác hàng là nhân tố ngoại sinh hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực
cạnh tranh của một doanh nghiệp. Vì họ là mục tiêu của tất cả các công ty,
khách hàng là người đánh giá sản phẩm của mình một cách tốt nhất, doanh
nghiệp nào đáp ứng được những đòi hỏi của khách hàng một cách tốt nhất
thì doanh nghiệp đó càng có lợi thế cạnh trang cao. Một doanh nghiệp có
càng nhiều khách hàng thì chứng tỏ doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh
càng cao, nhiều khách hàng doanh thu cao, thị phần cao dẫn đến uy tín cao
năng lực cạnh tranh cao.
Sinh viên: Nguyễn Quang Công Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Khách hàng đa dạng cũng sẽ làm doanh nghiệp tăng được năng lực
cạnh tranh. Chẳng hạn khách hàng của Trung tâm đó là một công ty lớn tầm
cỡ quốc tế như Viettel, Trung Nguyên… hay một công ty nước ngoài danh
tiếng như Ulilever, Acnalseln… Cho tất cả các nhân viên ăn mặc quần áo
thời trang do Trung tâm phân phối, nhờ danh tiếng và uy tín của họ khi
người tiêu dùng biết đến sẽ làm tăng được uy tín và danh tiếng của Trung
tâm lên một bậc.
Số lượng doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành
Số lượng doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành là nhân tố bên ngoài có ảnh
hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu một thị trường có
nhiều doanh nghiệp tham gia vào sẽ làm tăng cường độ cạnh tranh lên, tăng
áp lực cạnh tranh, hay là phải chia sẻ thị phần nhiều hơn. Sự so sánh về
năng lực cạnh tranh cũng sẽ tăng lên khi số lượng các doanh nghiệp tăng
lên.
Khi một thị trường càng nhiều doanh nghiệp tham gia thì mức độ cạnh

Quy mô hoạt động, chiến lược kinh doanh, công tác nghiên cứu và triển khai
sản phẩm, chất lượng nguồn nhân lực… Nhân tố bên ngoài bao gồm: khách
hàng, số lượng doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành… những nhân tố này
các doanh nghiệp lên xem xét và tận dụng nhằm giúp doanh nghiệp có bước
đi đúng đắn trong việc năng cao năng lực cạnh tranh của mình.
1.1.5. Các công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Quang Công Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.1.5.1. Cạnh tranh bằng giá cả
Giá cả là một trong những công cụ hữu hiệu của doanh nghiệp nhằm để nâng
cao năng lực cạnh tranh. Giá cả phù hợp cũng là một cách để đáp ứng nhu
cầu của khách hàng, khi nhu cầu của khách hàng được đáp ứng thì họ sẽ tiêu
dùng sản phẩm của mình nhiều hơn và từ đó làm tăng doanh số, tăng thị
phần của doanh nghiệp, tăng năng lực cạnh tranh.
Nếu như xét tương quan cùng một sản phẩm, một doanh nghiệp bán
với giá rẻ hơn đối thủ cạnh tranh thì tất nhiên là doanh nghiệp đó được người
tiêu dùng lựa chọn sản phẩm của họ, vì thế đã làm tăng năng lực cạnh tranh
của họ.
Với những doanh nghiệp kinh doanh phân phối, giá cả được quyết
định rất nhiều, vì họ không phải là những nhà sản xuất họ phải đi tìm nguồn
đó là những nhà sản xuất, giá cả lúc này cũng đã bị đội lên vì không thể lắm
được chi phí sản xuất của họ là bao nhiêu, đây là một bất lợi lớn, với những
doanh nghiệp kinh doanh phân phối, họ sẽ phải cạnh tranh khốc liệt hơn đối
với những nhà sản xuất tự thân kinh doanh sản phẩm.
1.1.5.2. Cạnh tranh bằng sản phẩm
Sản phẩm là một công cụ nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh
tranh của mình với đối thủ cạnh tranh. Sản phẩm mà doanh nghiệp có, đúng
với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, sẽ giúp doanh nghiệp bán được
nhiều hàng hơn, từ đó làm tăng doanh thu, tăn thị phần và tăng năng lực

yếu tố rất quan trọng của năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, làm tăng sụ
gần gũi, chăm sóc của người bán đối với người mua. Đây là việc làm thường
xuyên, người bán phải chăm sóc khách hàng như chăm sóc người thân của
Sinh viên: Nguyễn Quang Công Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
mình, không được từ chối bất cứ yêu cầu nào của khách hàng, phải phục vụ
khách hàng kịp thời và có chất lượng.
Thứ tư, để mọi người tiêu dùng biết tới mình, biết tới sản phẩm của
mình thì doanh nghiệp phải chú ý tới hoạt động Marketing và quảng cáo,
nếu sản phẩm thực sự tốt mà không quảng cáo thì người tiêu dùng không
biết để mua, hoặc có biết thì đã rất chậm, sản phẩm sẽ chậm được tiêu thụ.
Bởi vậy, doanh nghiệp cần phải quảng cáo.
Với doanh nghiệp kinh doanh phân phối sản phẩm, thì uy tín và danh
tiếng sẽ là phần quyết đinh nhiều nhất tới năng lực cạnh tranh của họ cũng
như sự tồn tại và phát triển của họ. Nhờ vào uy tín doanh nghiệp sẽ giúp
tránh được nhiều khuyết điểm về giá cả vì lúc này người tiêu dùng đã được
bù lại một sản phẩm vô hình đó là sự tôn trọng sự sành điệu khi dùng sản
phẩm của một doanh nghiệp danh tiếng trên thị trường.
Nhìn chung uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn
tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó, một doanh nghiệp có uy tín
cao, người tiêu dùng chỉ cần nghe thấy sản phẩm này thuộc công ty có uy tín
họ không cần e ngại tới chất lượng sản phẩm, cũng như cung cách chăm sóc
khách hàng, nhờ vậy mà thị phần cũng như doanh thu được tăng cao, góp
phần làm tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2. Một số mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong lich sử đã có rất nhiều các nhà kinh tế học đưa ra những lý thuyết về
năng lực cạnh tranh, với rất nhiều mô hình ma trận để đánh giá năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp. Nhưng tiêu biểu nhất vẫn là nhà kinh tế
học Mc. Kinsey với mô hình 7S và nhà kinh tế học Michael Porter với mô

values)
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
những giá trị được chia sẻ, cần được vạn hành và kết hợp một cách linh hoạt
để có khả năng cạnh tranh trong các đoạn thị trường mục tiêu.
1.2.2. Mô hình 5 yếu tố cạnh tranh của Micheal Porter
Michael Porter nhà quản trị chiến lược nổi tiếng của trường đại học Harvard
trong cuốn sách "Competitive Strategy: Techniques Analyzing Industries
and Competitors" đã đưa ra nhận định về các áp lực cạnh tranh trong mọi
ngành kinh doanh.
Hình 1.2: Sơ đồ 5 yếu tố cạnh tranh của M. Porter
Nguồn: giáo trình marketinh cơ bản
A. Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp:
Số lượng và quy mô nhà cung cấp: Số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định đến
áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp.
Sinh viên: Nguyễn Quang Công Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
Đối thủ
tiềm ẩn
Nhà cung
cấp
Khách
hàng
Sản phẩm
thay thế
Cạnh tranh
nội bộ ngành
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nếu trên thị trường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực
cạnh tranh, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành.

trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai. Đối thủ tiềm
ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các
yếu tố sau.
+ Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỉ
suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành.
+ Những rào cản gia nhập ngành: là những yếu tố làm cho việc gia nhập vào
một ngành khó khăn và tốn kém hơn.
1. Kỹ thuật
2. Vốn
3. Các yếu tố thương mại: Hệ thống phân phối, thương hiệu, hệ thống khách
hàng...
D. Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế:
Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn
nhu cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành. Thời trang thì
thường là chạy theo mốt lên sản phẩm phải thay đổi thường xuyên để áp ứng
được thị hiếu tiêu dùng của khách hàng hàng ngày.
E. Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành:
Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với
nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh. Trong
một ngành các yếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh trên các đối thủ
Sinh viên: Nguyễn Quang Công Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status