Nghiên cứu một số đặc trưng nhiệt động lực qui mô lớn thời kỳ bùng nổ gió mùa mùa hè trên khu vực Nam Bộ - Pdf 39

Nghiên cứu một số đặc trưng nhiệt động lực qui
mô lớn thời kỳ bùng nổ gió mùa mùa hè trên
khu vực Nam Bộ
Bùi Minh Tuân
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS chuyên ngành: Khí tượng và Khí hậu học; Mã số: 60 44 87
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Minh Trường
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Trình bày tổng quan về bùng nổ gió mùa mùa hè khu vực Châu Á. Nhiệt động
lực qui mô lớn thời kì bùng nổ gió mùa qua số liệu tái phân tích: đặc trưng trường mưa
GPCP giai đoạn bùng nổ gió mùa; đặc trưng trường gió tái phân tích. Kết quả mô bằng
mô hình RAMS: các điều kiện ban đầu và cấu hình miền tính; phân bố mưa mô phỏng;
đặc trưng hoàn lưu mô phỏng; đặc trưng của trường nhiệt phô phỏng; vai trò của giải
phóng ẩn nhiệt quy mô lớn. Xây dựng chỉ số gió mùa và trường hợp dự báo cho năm
2012.
Keywords: Khí hậu học; Hoàn lưu khí quyển; Gió; Nam bộ

Content
MỞ ĐẦU
Gió mùa Châu Á là hệ thống gió mùa lớn nhất, đặc trưng nhất trong hệ thống khí hậu
toàn cầu. Sự hoạt động của nó có vai trò cực kì quan trọng tới sự phát triển kinh tế, xã hội của
các quốc gia nơi đây, đặc biệt với một quốc gia nông nghiệp như Việt Nam.
Trong luận văn này, mô hình RAMS được sử dụng để mô phỏng sự phát triển của hoàn lưu
khí quyển quy mô lớn thời kì bùng nổ gió mùa mùa hè khu vực Nam Bộ trong các năm 1998,
1999, 2001, 2004 và 2010 nhằm xác định những đặc trưng cơ bản và cơ chế nhiệt động lực của
quá trình bùng nổ gió mùa, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của lục địa – địa hình trong sự


tương phản với các đại dương xung quanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giai đoạn bùng nổ gió
mùa mùa hè Nam Bộ gắn liền với sự hình thành của một trung tâm nhiệt lớn phía trên khu vực
Nam Á. Trung tâm nhiệt này gây nên sự đảo ngược của gradient nhiệt độ kinh hướng tại các mực

phối hoàn toàn bởi hệ thống này. Với hơn 70% dân số làm nghề nông cùng với hệ thống nhà máy
thủy điện dày đặc, nhu cầu sử dụng nước của Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, lượng nước sản
sinh từ ngoài lãnh thổ Việt Nam chiếm tới xấp xỉ hai phần ba tổng lượng nước có được nên rất
khó chủ động trong việc khai thác và sử dụng. Hơn nữa, ở thời điểm hiện tại việc tranh chấp sử
dụng nước giữa các quốc gia đã và đang phát sinh những mâu thuẫn gay gắt, ảnh hưởng lớn tới
việc sử dụng nguồn tài nguyên này trong tương lai. Vì vậy, những dự báo chính xác về hoạt động
của gió mùa cả ở hạn ngắn và hạn dài đều có vai trò rất quan trọng giúp đưa ra những định
hướng.
Về mặt khoa học, nghiên cứu gió mùa là nghiên cứu hệ thống hoàn lưu quy mô lớn, chứa
đựng trong đó các hệ thống thời tiết quy mô nhỏ hơn. Nghiên cứu gió mùa giúp hiểu rõ hơn
những cơ chế hình thành và vận động của khí quyển, giải quyết được bài toán này sẽ cải thiện rất
lớn khả năng dự báo thời tiết trong tương lai. Đặc biệt, trong hoàn cảnh khí hậu đang bị biến đổi
do sự nóng lên toàn cầu, việc hiểu rõ được cơ chế vận động của khí quyển là cực kì quan trọng.
Mặt khác, các mô hình dự báo khí hậu hiện nay vẫn chưa thực sự nắm bắt được những quá trình
động lực có thể dẫn đến sự thay đổi hoàn toàn của hệ thống khí hậu (ví dụ như các quá trình hồi
tiếp trong khí quyển), do đó dẫn đến những dự báo chưa chính xác.
Từ những thực tiễn trên, nghiên cứu gió mùa ở Việt Nam đặt ra là một nhu cầu cấp thiết,
có vai trò quan trọng nhiều mặt. Vì vậy tôi đề xuất đề tài:“ Nghiên cứu một số đặc trưng nhiệt
động lực quy mô lớn thời kì bùng nổ gió mùa mùa hè khu vực Nam Bộ” nhằm hướng đến vấn đề
quan trọng này.
1.2. Thực tiễn nghiên cứu gió mùa mùa hè ở Việt Nam
Nam Bộ nằm trong khu vực giao tranh của hai hệ thống gió mùa lớn là hệ gió mùa mùa hè
Nam Á và gió mùa mùa hè Đông Á, do đó mưa gió mùa ở Nam Bộ có diễn biến phức tạp do chịu
tác động của cả hai hệ thống này. Theo trung bình khí hậu, mùa mưa tại Nam Bộ bắt đầu vào
cuối tháng Tư tới đầu tháng Năm, được đánh dấu bởi sự hình thành của gió tây nam nhiệt đới
thổi từ vịnh Bengal sang. Theo rất nhiều nghiên cứu trên thế giới, giai đoạn này trùng với thời
điểm xuất hiện mưa tại vịnh Bengal và nam Biển Đông, và là những khu vực xuất hiện mưa mùa
hè sớm nhất của gió mùa mùa hè châu Á. Gió mùa mùa hè Ấn Độ thường xuất hiện muộn hơn
sau đó khoảng hai tuần. Tuy nhiên, ngày bắt đầu mùa mưa tại Nam Bộ có sự dao động lớn giữa
các năm và phân bố mưa giữa các khu vực cũng không hoàn toàn giống nhau.

Gió mùa bùng nổ đầu tiên tại Biển Đông sau đó mở rộng lên phía bắc và phía tây (Tao và
Chen, 1987) [25]

-

Gió mùa bùng nổ đầu tiên tại vịnh Bengal (Wu và Zhang, 1998) [36]

-

Gió mùa bùng nổ đầu tiên tại bán đảo Đông Dương và khu vực phía nam xung quanh (Li và


Qu, 1999 [16]; Zhang, 2004 [38]; Lau và Yang, 1997 [15]; Matsumoto, 1997 [18]; Webster,
1998 [34]; Wang và Fan, 1999 [31]; Lu và đồng tác giả, 2006...) [17]
-

Gió mùa bùng nổ cùng lúc ở vịnh Bengal, Biển Đông và bán đảo Đông Dương (He và đồng
tác giả, 2004 [13]; Wang và đồng tác giả, 2003[26]...)
Gió mùa mùa hè (mùa đông) Châu Á và gió mùa mùa đông (mùa hè) Châu Úc có mối liên hệ

chặt chẽ với nhau, thậm chí có thể gộp chung thành hệ thống gió mùa Á – Úc. Do đó, sự dịch
chuyển theo mùa của gió mùa Châu Á, sự tương tác giữa khí quyển ở bán cầu bắc và bán cầu
nam và sự dịch chuyển của đối lưu vùng nhiệt đới giữa hai châu lục là không thể tách rời. Zeng
và Li (2002) [37] cho rằng sự di chuyển của vùng đối lưu nhiệt quy mô hành tinh trùng pha với
các sóng tựa tĩnh hành tinh (tác động chính) và tương phản đất biển, độ cao địa hình (tác động
phụ) là nguyên nhân của vùng mưa gió mùa Châu Á – Úc. Khu vực Maritime Continent bao gồm
cả Sumatra và Kalimanta... là khu vực đối lưu phát triển lớn nhất trên thế giới, và sự di chuyển
của đối lưu Sumatra rất “gần” với sự bùng nổ gió mùa tại bán đảo Đông Dương. Nếu gọi vùng
Maritime Continent là “cây cầu” nối giữa hai lục địa Châu Á và Châu Úc (He, 2004 [13]; Chang,
2004 [8]; Wang , 2004 [30]) thì cơ chế dịch chuyển theo mùa của đối lưu khu vực này chính là

FMA

MAM

AMJ

MJJ

JJA

JAS

ASO

SON

OND

NDJ

1998

2.2

1.8

1.4

0.9


-1.0

-1.1

-1.1

-1.3

-1.5

-1.7

2001

-0.7

-0.6

-0.5

-0.3

-0.2

-0.1

0.0

0.0


0.7

0.7

2010

1.6

1.4

1.1

0.7

0.2

-0.3

-0.8

-1.2

-1.4

-1.5

-1.5

-1.5


16/05

11/05

2004

04/05

18/05

12/05

2010

14/05

28/05

21/05

theo quan trắc tại trạm


Bảng 2.2. Thời gian mô phỏng giai đoạn bùng nổ gió mùa mùa hè của các năm
1998, 1999, 2001, 2004 và 2010.

2.2. Đặc trưng trường mưa GPCP giai đoạn bùng nổ gió mùa
2.2.1. Đặc trưng về khu vực phân bố của mưa
Dựa trên phân bố mưa quy mô lớn trung bình ngày của GPCP được thể hiện trên Hình
2.1 cho thấy, trong giai đoạn bùng nổ gió mùa mùa hè Nam Bộ tồn tại hai dải mưa chính, một tại

việc vận chuyển ẩm từ vịnh Bengal và Biển Đông với các vùng mưa nơi đây.
2.3.2. Đặc trưng khí hậu của trường gió giai đoạn đầu mùa hè
Tới thời điểm hiện tại, việc phân chia các khu vực gió mùa khu vực Châu Á vẫn còn
nhiều tranh cãi. Quan điểm truyền thống cho rằng gió mùa khu vực Việt Nam là sự mở rộng sang
phía đông của gió mùa Ấn Độ, nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng gió mùa mùa hè khu vực
Việt Nam là kiểu gió mùa chyển tiếp giữa hai hệ thống gió mùa nhiệt đới và gió mùa ngoại nhiệt
đới. Nếu chỉ dựa vào các hình thế hoàn lưu của từng năm riêng rẽ sẽ rất khó để xác định hoặc
thậm chí có thể đưa ra những nhận định sai lầm. Hơn nữa, gió mùa chịu tác động rất mạnh bởi
ENSO nên để có được góc nhìn chính xác về các đặc trưng khí hậu của hệ thống quy mô lớn này,
chuỗi số liệu phân tích cần phải đủ dài. Do đó, bằng phương pháp hàm trực giao tự nhiên (EOF),
khoảng thời gian 30 năm (từ năm 1980 tới 2010) của số liệu gió tái phân tích NCAR/NCEP
được chọn ra để phân tích. Kết quả phân tích được biểu diễn trong Hình 2.5.
2.4. Đặc trưng trường nhiệt tái phân tích
Theo quan điểm truyền thống, sự chênh lệch giữa đốt nóng bề mặt của lục địa và đại
dương vẫn được nhận định như một yếu tố có vai trò quan trọng nhất đối với việc hình thành nên
gió mùa. Đặc biệt đối với gió mùa Châu Á, cao nguyên Tibet vẫn được coi như một yếu tố nền
tảng, là chiếc lò sưởi khổng lồ, đốt nóng không khí xunh quanh và đẩy chúng lên cao theo hình
xoắn ốc.
Các đặc trưng trường nhiệt mực 850 hPa trong Hình 2.6 cho thấy, trong ngày bùng nổ gió
mùa mùa hè Nam Bộ, hai khu vực có nhiệt độ cao nhất là Ấn Độ và Ả rập với nhiệt độ khoảng
302 K. Sườn phía đông của cao nguyên Tibet tồn tại một rãnh lạnh với đường rãnh kéo dài từ
bán đảo triều tiên xuống phía bắc Việt Nam. Nam Bộ nằm giữa hai hệ thống nhiệt này với nhiệt


độ trung bình vào khoảng 294 K. Nhiệt độ khí quyển ở các khu vực đại dương xung quanh là
tương đối đều nhau ở khoảng 292 K. Chênh lệch nhiệt độ giữa Nam Bộ và các vùng xung quanh
vào khoảng 2 K. Do đó có thể nhận định sự tương phản giữa đốt nóng bề mặt mạnh nhất giữa lục
địa và đại dương trong giai đoạn này không diễn ra ở khu vực cao nguyên Tibet mà tại khu vực
Ấn Độ và Ả rập.


3.2.2. Đặc trưng mưa mô phỏng về lượng
Khả năng mô phỏng mưa về lượng của mô hình RAMS được đánh già từ Hình 3.6 đến
Hình 3.15 khi so sánh giá trị mưa được đưa về trạm từ kết quả mô phỏng và giá trị mưa quan trắc
tương ứng của trạm đó.
Các giá trị mưa quan trắc và mô phỏng tại trạm được biễu diễn trong Hình 3.1 đến Hình
3.10. Quan trắc cho thấy khu vực cao nguyên Lâm Viên thường xuất hiện mưa sớm và lượng
mưa cũng lớn hơn các khu vực còn lại. Khu vực Tây Nguyên và vùng đồng bằng Nam Bộ có
diễn biến mưa khá giống nhau. Nếu lấy điều kiện mưa quan trắc xuất hiện trên phần lớn số trạm
(trên 50%) khu vực Tây Nguyên – Nam Bộ thì có thể xác định ngày bùng nổ gió mùa mùa hè
Nam Bộ cho các năm 1998, 1999, 2001, 2004 và 2010 lần lượt là 15 tháng Năm, 21 tháng Tư, 11
tháng Năm, 12 tháng Năm, và 21 tháng Năm. Vào ngày bùng nổ gió mùa, mưa xuất hiện đồng
thời tại hầu hết các trạm, với lượng mưa đo đạc trung bình đều đạt khoảng trên 5 mm/ngày. Các
chu kì tăng giảm lượng mưa tại các trạm cũng tương đối giống nhau. Do đo có thể khẳng định,
ngoài sự xuất hiện của mưa tiền gió mùa tại khu vực cao nguyên Lâm Viên, mưa mùa hè tại Tây
Nguyên – Nam Bộ nhìn chung là tương đối đồng nhất và giống nhau giữa các vùng, miền. Tuy
nhiên, nếu lấy tiêu chí mưa trên 5 mm/ngày kéo dài liên tục trong ít nhất một pentad sau bùng nổ
phải quan trắc thấy trên phần lớn số trạm thì có thể nói là mưa gió mùa (và do vậy là gió mùa
mùa hè) khu vực Tây Nguyên – Nam Bộ là không điển hình, nhất là trong các năm 1998, 2004,
và 2010.
3.3. Đặc trưng trường hoàn lưu mô phỏng
3.3.1. Đặc trưng của hoàn lưu mực thấp


Hình 3.16 tới Hình 3.20 lần lượt biểu diễn sự phát triển của hoàn lưu mực thấp mô phỏng
của các năm. Với độ phân giải cao hơn gấp năm lần so với trường tái phân tích, mô hình đã giúp
đưa thêm vào tính toán những hiện tượng quy mô dưới lưới, đồng thời giúp ước lượng chính xác
hơn vai trò của địa hình và các dòng thông lượng bề mặt. Mặc dù mô hình luôn chứa sai số, tuy
nhiên sau mười bốn ngày tích phân kết quả mô phỏng bởi mô hình vẫn giữ được những đặc
trưng cơ bản nhất của hoàn lưu gió mùa quy mô lớn giống như ở trường tái phân tích được biểu
diễn trong Hình 2.3 và Hình 2.4.

gió tây nam mực thấp và gió đông bắc mực cao. Điều này khá giống với lí thuyết bảo toàn động
lượng của khí quyển như đã được đề cập trong những quan điểm truyền thống. Nghĩa là khi gió
di chuyển từ vĩ độ thấp lên vĩ độ cao sẽ được gia tốc và hướng sang phía đông, còn khi gió di
chuyển từ vĩ độ cao về vĩ độ thấp sẽ giảm tốc và hướng sang phía tây. Trên thực thế do lớp biên
có ma sát, động lượng của khí quyển sẽ không thực sự bảo toàn mà tồn tại quá trình vận chuyển
động lượng rất phức tạp giữa trái đất và khí quyển thông qua các dòng bề mặt... Tuy vậy khi sử
dụng mô hình phân giải cao để tăng tính chính xác của những tác động của bề mặt như trong thí
nghiệm đối với mô hình RAMS này, ta vẫn nhận được một kết quả tương tự. Do đó có thể thấy
định luật bảo toàn động lượng, ở một khía cạnh nào đó, vẫn là cơ chế động lực rất quan trọng
của hoàn lưu gió mùa. Vấn đề này sẽ được trình bày rõ hơn trong các thí nghiệm tiếp theo, khi
địa hình được loại bỏ hoàn toàn trong quá trình mô phỏng.
3.4. Đặc trưng của trường nhiệt mô phỏng
3.4.1. Đặc trưng của trường nhiệt mực thấp
Hình 3.26 tới Hình 3.30 lần lượt biểu diễn nhiệt độ trung bình ngày tại mực 850 hPa giai
đoạn bùng nổ gió mùa mùa hè Nam Bộ của các trường hợp mô phỏng. Dưới sự đốt nóng theo
mùa của bức xạ mặt trời, mực 850 hPa hình thành nên ba khu vực có nhiệt độ cao là Iran, Ấn Độ
và Myanmar. Dựa trên số liệu tái phân tích cho thấy, các khu vực đốt nóng này hình thành từ rất
sớm (khoảng đầu tháng Hai), tuy nhiên trong suốt giai đoạn bùng nổ gió mùa, hình thế nhiệt mực
thấp này không có nhiều thay đổi. Độ lớn của các trung tâm nhiệt chỉ tăng khoảng 2 đến 3 K sau
vài tháng. Sự thay đổi chỉ được nhận thấy rõ nét hơn ở vùng ngoại nhiệt đới với sự di chuyển lên
phía bắc của các đường đẳng nhiệt và sự thưa dần của chúng. Sườn phía đông của cao nguyên
Tibet lúc này vẫn tồn tại một rãnh lạnh khá sâu, phát triển từ phía Nhật Bản tới gần phía bắc Việt
Nam. So với khu vực phía tây, sườn phía đông này có nhiệt độ thấp hơn rất nhiều. Khu vực Nam
Bộ và bán đảo Đông Dương nằm ở giữa hai đới nhiệt này nhưng gần như không chịu tác động
của hệ thống nhiệt nào, nhiệt độ tại đây khá đồng nhất so với nhiệt độ của các vùng nhiệt đới


xung quanh.
3.4.2. Đặc trưng của trường nhiệt mực cao
Hình 3.31 tới Hình 3.35 lần lượt biểu diễn trường nhiệt trung bình từ 500 hPa tới 200 hPa

trong trường hợp không có địa hình. Những kết quả của thí nghiệm này sẽ được so sánh với
trường hợp mô phỏng có địa hình đã được phân tích ở các mục trước nhằm đưa ra những thảo
luận về các quá trình vận chuyển động lượng trong khí quyển và cuối cùng đi tìm lí giải cho
nguyên nhân hình thành của dòng xiết vượt xích đạo mực thấp từ nam bán cầu lên bắc bán cầu.
3.6.1. Trường mưa mô phỏng
3.6.3. Quá trình vận chuyển động lượng ngang
Do có ma sát ở bề mặt nên giữa trái đất và khí quyển luôn tồn tại một quá trình trao đổi
động lượng. Động lượng sẽ được truyền từ trái đất vào khí quyển ở vùng nhiệt đới khi gió bề
mặt là gió đông, sau đó động lượng được vận chuyển lên cao và theo phương ngang về phía cực.
Cuối cùng, động lượng được vận chuyển thẳng đứng xuống dưới và truyền trở lại trái đất ở các
vĩ độ cao, nơi gió bề mặt là gió tây. Nếu tính toán được các dòng vận chuyển này có thể giúp
chuẩn đoán ngược lại được những thành phần chính gây nên sự tăng cường hoặc suy yếu của
trường gió vĩ hướng trong quá khứ, thậm chí có thể đưa ra được dự báo được sự phát triển của
dòng vĩ hướng hướng này trong tương lai. Do đó, để giải thích cho sự hình thành và phát triển
của các dòng vượt xích đạo, việc nghiên cứu các dòng vận chuyển động lượng trong khí quyển
là cực kì quan trọng.
Chương 4
XÂY DỰNG CHỈ SỐ GIÓ MÙA VÀ TRƯỜNG HỢP DỰ BÁO
CHO NĂM 2012
4.1. Xây dựng các chỉ số gió mùa
4.1.1.Chỉ số mưa
Một chỉ số mưa gió mùa thường đặt ra hai chỉ tiêu, một về diện mưa (mưa diễn ra trên
quy mô lớn) và một về lượng mưa (mưa diễn ra trong một thời gian đủ dài). Đối với các khu vực
gió mùa điển hình như gió mùa Ấn Độ hoặc gió mùa Đông Á, ngày bùng nổ gió mùa thường
được đánh dấu bởi sự xuất hiện của mưa lớn và kéo dài liên tục trong nhiều ngày. Tuy nhiên theo


phân tích dựa trên các thành phân trực giao tự nhiên trong Hình 2.5, Nam Bộ không nằm trong
khu vực gió mùa điển hình mà thuộc đới chuyển tiếp của các hệ thống gió mùa. Trong giai đoạn
đầu mùa hè, khu vực này đồng thời chịu tác động của hai hệ thống hoàn lưu quy mô lớn, một là


1999

2001

2004

2010

15/05

22/04

06/05

10/05

21/05

15/05

22/04

07/05

08/05

21/05

Bàng 4.2. Ngày bùng nổ gió mùa dựa vào chỉ số gió vĩ hướng mô phỏng và

Trường mưa dự báo được biểu diễn trong Hình 4.8 cho thấy từ ngày 04 tháng Năm tới
ngày 07 tháng Năm diễn ra sự di chuyển rất nhanh của dải mưa quy mô lớn từ khu vực nam
Bengal lên phía bắc. Ngày 04 tháng Năm, vị trí của dải mưa vẫn ở Malaysia thì sang ngày 05
tháng Năm, dải mưa đã bao phủ toàn bộ Thái Lan và một phần bắc Lào. Ngày 06 tháng Năm


chính thức đánh dấu sự bùng nổ gió mùa mùa hè tại bán đảo Đông Dương khi dải mưa đã bao
phủ gần như toàn bộ Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia và miền nam Việt Nam. Sang ngày 07
tháng Năm, mưa tiếp tục được duy trì cả về diện và lượng ở nơi đây. Do đó nếu bắt đầu tích phân
dự báo từ ngày 04 tháng Năm, mô hình RAMS sẽ cho dự báo ngày bùng nổ gió mùa tại bán đảo
Đông Dương và Nam Bộ đều là ngày 06 tháng Năm.
4.2.3. Chỉ số mưa dự báo
4.2.4. Chỉ số gió vĩ hướng dự báo
Giá trị trung bình gió vĩ hướng mực 850 hPa khu vực (10o N – 15o N, 100o E –110o E) được
biểu diễn trong Hình 4.10 cho thấy, về hình thế chung, chỉ số gió vĩ hướng dự báo đã nắm bắt tốt
những thay đổi của trường gió quy mô lớn với một cực đại vào ngày 05 tháng Năm và một cực
tiểu vào 06 tháng Năm. Các ngày sau đó, chỉ số này cũng cho thấy những nét tương đồng so với
chỉ số gió vĩ hướng sử dụng số liệu tái phân tích NCAR/NCEP với một xu thế tăng vào ngày 07
tháng Năm và giảm vào đầu ngày 08 tháng Năm.
Với ngưỡng chỉ tiêu 0,5 m.s-1, cả hai chỉ số gió vĩ hướng dự báo và chỉ số gió vĩ hướng tái
phân tích đều cho ngày bùng nổ gió mùa khu vực Nam Bộ năm 2012 xảy ra trước so với chỉ số
mưa quan trắc vài ngày, ngay từ khi bắt đầu dự báo. Kết quả này cũng giống như trường hợp
năm 2001 như đã nói trên đây và cũng giống với kết quả thu được của Phạm Thị Thanh Hương
và Trần Trung Trực (1999) [4], đó là trong nhiều trường hợp gió tây thịnh hành trong một thời
gian khá dài trước khi mưa gió mùa diễn ra. Kết quả này cho thấy, chỉ số gió vĩ hướng đã chỉ thị
khá chính xác ngày bùng nổ gió mùa, ngoại trừ trong các năm La Nina đang suy yếu.
4.2.5. Chỉ số gradient nhiệt độ
Mang đặc trưng của một năm La Nina đang suy yếu, gradient nhiệt độ trung bình mực cao
khí quyển năm 2012 cũng đảo ngược sớm ở cả số liệu dự báo và số liệu tái phân tích. Hình 4.11
cho thấy nhiệt độ trung bình mực cao khu vực phía bắc Việt Nam (đường liền đậm) đã lớn hơn

nghịch này làm tăng cường trường gió đông mực cao khu vực xích đạo. Đến ngày bùng nổ gió
mùa, trường gió đông này vượt qua xích đạo, phát triển xuống nam bán cầu, hoàn lưu chuyển từ
cấu trúc đối xứng sang cấu trúc bất đối xứng qua xích đạo.
Đặc trưng trường nhiệt giai đoạn bùng nổ gió mùa mùa hè được đánh dấu bởi sự hình
thành của một trung tâm nhiệt lớn tại khí quyển mực cao tại Nam Á. Dựa trên tương quan giữa
các nguồn nhiệt đốt nóng, có thể nhận định rằng trung tâm nhiệt này được hình thành bởi giải
phóng ẩn nhiệt đối lưu tại vùng mưa xích đạo Nam Á trong giai đoạn tiền gió mùa.


Kết quả thí nghiệm mô phỏng không có địa hình cho thấy các đặc trưng của khí quyển
trong giai đoạn bùng nổ gió mùa đều không xuất hiện khi địa hình bị loại bỏ. So sánh với trường
hợp mô phỏng có địa hình, thông lượng động lượng tương đối được vận chuyển từ vùng nhiệt
đới về vùng cận nhiệt đới trong trường hợp không địa hình nhỏ hơn rất nhiều.
Luận văn đã xây dựng được ba chỉ số chỉ thị ngày bùng nổ gió mùa tại Nam Bộ bao gồm
chỉ số mưa, chỉ số gió vĩ hướng và chỉ số gradient nhiệt độ. Chỉ số mưa mô phỏng cho ngày bùng
nổ gió mùa chính xác trong những năm El Niño và năm trung tính nhưng sớm hơn một ngày
trong những năm La Nina mạnh.
Nhìn chung, chỉ số gió vĩ hướng mô phỏng cho ngày bùng nổ gió mùa trùng hoặc sớm
hơn so với mưa quan trắc, ngoại trừ năm La Nina mạnh 1999 chỉ số gió vĩ hướng mô phỏng và
tái phân tích đều muộn hơn một ngày. Chỉ số gradient nhiệt độ mô phỏng nói chung cho ngày
bùng nổ sớm hơn so với mưa quan trắc, ngoại trừ năm El Niño 1998 muộn hơn bốn ngày. Chỉ số
gradient nhiệt độ không có độ tin cậy trong năm La Nina mạnh 1999.
Trong trường hợp áp dụng dự báo cho năm 2012, chỉ số mưa dự báo nội suy về trạm cho
ngày bùng nổ gió mùa sớm hơn một ngày so với mưa quan trắc. Chỉ số gió vĩ hướng và chỉ số
gradient nhiệt độ đều cho ngày bùng nổ gió mùa sớm hơn so với mưa quan trắc tương tự như
trường hợp năm La Nina suy yếu 2001. Vì các chỉ số khác nhau đưa ra thời điểm bùng nổ khác
nhau, do đó luận văn đề xuất kết hợp chỉ số mưa dự báo với các chỉ số khác để có dự báo ngày
bùng nổ gió mùa chính xác.

References


Alan P. (2007), “Monsoon dynamics with interactive forcing. Part I:

Axisymmetric Studies”, J. atmos. Sci., 64, 1417–1430.
22. Rao Y. P. (1976) “Southwest monsoon”, Meteorological Monograph, Synoptic Meteorology
No. 1/1976. India Meteorological Department, New Delhi.
23. Syukuro M., Theodore B. T. (1973), “The effect of mountains on the general circulation of
atmosphere as identified by numerical experiments”, Geophysical Fluid Dynamics
Laboratory/NCAR/NCEP, Princeton University, Princetion, N.J. 08540.
24. Tanaka M. (1992), “Intraseasonal oscillation and the onset and retreat dates of the summer
monsoon east, southeast Asia and the western Pacific region using GMS high cloud amount
data”, J. Meteorol. Soc. Japan 70 613 – 628.
25. Tao S., Chen L. (1987), “A review of recent research on East summer monsoon in China”,
Monsoon Meteorology, C. P. Changand T. N. Krishramurti, Eds, Oxford University Press,
Oxford, 60 – 92.
26. Wang B. (2003), “Atmosphere–warm ocean interaction and its impacts on Asian–Australian
monsoon variation”, J.Climate, vol. 16, Issue 8, pp.1195-1211.
27. Wang B. (2004), “Definition of South China Sea monsoon onset and commencement of the
East Asia summer monsoon”, J. Climate, 17, 699–710.


28. Wang B. and Wu R. (1997), “Peculiar temporal structure of the South China Sea summer
monsoon”, J. Climate 15 386 – 396.
29. Wang B., Lin H. (2002), “Rainy season of the Asian Pacific summer monsoon”, J. Climate,
15, 386 – 398.
30. Wang L., He J., and Guan Z. (2004), “Characteristic of convective activities over Asian
Australian ”landbridge” areas and it spossible factors”, Act a Meteorologic a Sinica, 18,441–
454.
31. Wang, B., and Z. Fan (1999), “Choice of South Asian Summer Monsoon Indices”, Bull.
Amer. Meteor. Sci., 80, 629–638.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status