Luận văn đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất làm cơ sở đề xuất định hướng sử dụng hợp lý đất đai huyện bình chánh TP hồ chí minh - Pdf 39

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đều biết quá trình khai thác sử dụng đất luôn gắn liền với quá trình
phát triển của xã hội. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất càng cao. Bởi vì đất
đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được,
là môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn
hóa, an ninh quốc phòng ... Thế nhưng cuộc sống nhân lọai lại theo quy luật, con người số
lượng ngày càng nhiều, nhưng đất đai có giới hạn về không gian, nhưng vô hạn về thời gian
sử dụng. Vì thế đất đai ngày càng khan hiếm và trở nên quý giá hơn. Chính vì vậy mà việc
sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững luôn là nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi phải cân nhắc
kỹ càng và hoạch định khoa học hơn để sử dụng nguồn đất đai cho phù hợp, hiệu quả đáp
ứng nhu cầu chung của con người.
Các Mác đã khẳng định: "Đất là kho tàng cung cấp cho con người mọi thứ cần
thiết, vì vậy trong quá trình sử dụng đất muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất thiết phải
có kế hoạch cụ thể về thời gian và lập quy hoạch về không gian"
Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất thông qua quy hoạch và chiến lược
phát triển, với mục tiêu hướng đến là sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững đang và
sẽ đặt ra nhiệm vụ, nhu cầu quan trọng, cấp thiết nhằm cân nhắc, xác định kỹ càng và hoạch
định khoa học hơn các chỉ tiêu phân bổ sử dụng nguồn đất đai cho phù hợp và hiệu quả với
sự phát triển kinh tế - xã hội.
Việc định hướng dụng hợp lý tài nguyên đất có ý nghĩa quan trọng nhằm định
hướng trong quản lý Nhà nước trên lĩnh vực đất đai; Là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý
Nhà nước về đất đai, làm căn cứ cho việc giao đất, cho thuê, chuyển mục đích sử dụng
đất ...
Khu vực nghiên cứu huyện Bình Chánh là một trong những địa bàn của thành phố
chịu tác động của biến đổi khí hậu triều cường, ngập úng làm ảnh hưởng đến sử dụng đất
đai không nhỏ. Áp lực của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình đô thị hóa
thành phố Hồ Chí Minh nói chung và huyện Bình Chánh nói riêng đã tác động rất lớn đến
quá trình sử dụng đất.
Để phát huy tiềm năng sẵn có, hướng tới sử dụng hợp lý tài nguyên đất và bảo vệ


-

Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu, bản đồ liên quan hướng đề tài và khu vực nghiên cứu

-

Nghiên cứu các nhân tố thành tạo và ảnh hưởng tới đặc điểm và biến động sử dụng đất khu
vực nghiên cứu.

-

Phân tích hiện trạng và đánh giá biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010, 2010- 2014,
dự báo xu thế biến động sử dụng đất khu vực nghiên cứu đến năm 2020.

-

Phân tích nguyên nhân biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2014 tại khu vực nghiên
cứu.


-

Đánh giá tiềm năng đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu.

-

Đề xuất định hướng sử dụng hợp lý đất đai đến năm 2020 khu vực nghiên
cứu.


Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần xây dựng cơ sở đánh giá hiện trạng và biến động sử
dụng đất phục vụ đề xuất định hướng sử dụng hợp lý đất đai.

-

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu giúp cho địa phương có cơ sở
phục vụ quản lý và quy hoạch sử dụng đất, đề ra các giải pháp sử dụng đất quỹ đất đai hợp
lý và hiệu qủa.

7. Cơ sở tài liệu để thực hiện
-

Các văn bản, tiêu chuẩn quy hoạch sử dụng đất;

-

Luật đất đai năm 2003; các văn bản quy phạm dưới Luật qui định có liên quan đến quản lý
sử dụng đất.

-

Luật đất đai năm 2013; các văn bản quy phạm dưới Luật qui định có liên quan đến quản lý
sử dụng đất.

-

Các văn bản của Chính phủ, các Bộ ngành liên quan đến quản lý sử dụng đất trên địa bàn
Thành phố.

-

Chương I: Cơ sở khoa học đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất phục vụ
định hướng sử dụng hợp lý đất đai
Chương II: Phân tích, đánh giá thực trạng và biến động sử dụng đất huyện Bình
Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương III: Đề xuất định hướng sử dụng đất đai đến năm 2020 huyện Bình
Chánh, TP Hồ Chí Minh
CHƯƠNGI
CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ BIẾN ĐỘNG
SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT HỢP LÝ

1.1.

Một số vấn đề cơ bản về đất đai và sử dụng đất
1.1.1.

Đất đai
Đất là một dạng vật chất tự nhiên hình thành trong quá trình kiến tạo của trái đất.

Có nhiều lọai đất: đất cát, đất đỏ bazan ...hoặc Đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con
người.
Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình
thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian.
Thành phần cấu tạo của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, hợp chất humic 5%, không khí
20% và nước 35%.
Khái niệm về đất V.V. Đôcutraiep (1846-1903) người Nga là người đầu tiên đã xác
định một cách khoa học về đất rằng: Đất là tầng ngoài của đá bị biến đổi một cách tự nhiên


dưới tác dụng tổng hợp của nhiều yếu tố. Theo Đôcutraiep: Đất trên bề mặt lục địa là một
vật thể thiên nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp cực kỳ phức tạp của 5 yếu tố:

Đất đai là nguồn của cải, là một tài sản cố định hoặc đầu tư cố định, là thước đo sự
giầu có của một quốc gia. Đất đai còn là sự bảo hiểm cho cuộc sống, bảo hiểm về tài chính,
như là sự chuyển nhượng của cải qua các thế hệ và như là một nguồn lực cho các mục đích
tiêu dùng.
“Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của
môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, trong
lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con
người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước,
đường sá, nhà cửa...)” (Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil, 1993).
Luật đất đai 1993 của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “ Đất đai là
tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu
của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn
hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao nhiêu công
sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay !".
1.1.2.

Sử dụng đất đai
Sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp của nhà nước (thể hiện đựơc đồng thời

ba tính chất kinh tế, kỹ thuật và pháp chế) về tổ chức sử dụng đất đai phải hợp lý, đầy đủ và
tiết kiệm nhất, thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các
ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai
môi trường.
Sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất
đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng:
Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với
mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường.
Sử dụng đất đai là biện pháp hữu hiệu của nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng
đất đai, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ
tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa

hàng năm khác;

b) Đất trồng cây lâu năm;
c) Đất rừng sản xuất;
d) Đất rừng phòng hộ;
e) Đất rừng đặc dụng;
f) Đất nuôi trồng thuỷ sản;
g) Đất làm muối;
h) Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.
1.1.3.2.

Nhóm đất phi nông nghiệp: bao gồm các loại đất:

a) Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;
b) Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp;
c) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;
d) Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt


bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản
xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;

e) Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công
trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có
di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng các công trình công cộng khác
theo quy định của Chính phủ;

f) Đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng;
g) Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ;
h) Đất nghĩa trang, nghĩa địa;

Chức năng cân bằng sinh thái: Đất đai và việc sử dụng nó là nguồn và là tấm thảm xanh đã
hình thành một thể cân bằng năng lượng trái đất thông qua việc phản xạ, hấp thụ và chuyển
đổi năng lượng phóng xạ từ mặt trời và tuần hoàn khí quyển của địa cầu.

-

Chức năng tàng trữ và cung cấp nguồn nước: Đất đai là kho tàng lưu trữ nước mặt và nước
ngầm vô tận, có tác động mạnh tới chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và có vai trò
điều tiết nước rất to lớn.


-

Chức năng dự trữ: Đất đai là kho tài nguyên khoáng sản cung cấp cho mọi nhu cầu sử dụng
của con người.

-

Chức năng không gian sự sống: Đất đai có chức năng tiếp thu, gạn lọc, là môi trường đệm
và làm thay đổi hình thái, tính chất của các chất thải độc hại.

-

Chức năng bảo tồn, bào tàng lịch sử: Đất đai là trung gian để bảo vệ các chứng tích lịch sử,
văn hóa của loài người, là nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu, thời tiết và cả quá trình
sử dụng đất trong quá khứ.

-

Chức năng vật mang sự sống: Đất đai cung cấp không gian cho sự chuyển vận của con


xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố
các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Nói về tầm quan trọng của đất, Các Mác viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại,
là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất là vị trí để định cư, là nền tảng của tập
thể”.
Nói về vai trò của đất với sản xuất, Mác khẳng định “Lao động không phải là nguồn
duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ. Lao động chỉ là cha của của cải vật chất,
còn đất là mẹ”. Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và tồn tại ngoài ý
muốn của con người. Đất được tồn tại như một vật thể lịch sử tự nhiên. Cần nhận thấy
Sự khẳng định vai trò của đất như trên hoàn toàn có cơ sở. Đất đai là điều kiện
chung đối với mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế quốc doanh và hoạt động của
con người. Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động - thực
vật và con người. Đất đai là điều kiện rất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các
thế hệ kế tiếp nhau của loài người. Bởi vậy việc sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả và bảo vệ
lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với
mỗi quốc gia.
Đất đai có vai trò quan trọng đối với đời sống của con người và các hoạt động xã
hội, mang tính tổng hợp rất cao, đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế - xã hội
như: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội dân số và đất đai, sản suất công nông nghiệp, môi
trường sinh thái. .. Tuy vậy đối với từng ngành cụ thể đất đai có vị trí khác nhau; Trong
công nghiệp và các ngành khác (trừ ngành nông nghiệp, công nghiệp khai khoán) đất đai
nói chung làm nền móng, làm địa điểm; Trong nông nghiệp đất đai vừa là đối tượng lao
động, vừa là tư liệu lao động.

1.1.4.3.

Ý nghĩa của đất đai
Diện tích đất đai của mỗi quốc gia có giới hạn. Sự giới hạn đó là do toàn bộ diện


công.

-

Điều kiện khí hậu, thủy văn: Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sử dụng đất và
điều kiện sinh hoạt của con người; ảnh hưởng đến sự phân bố cây trồng và thực vật. Hệ
thống sông, suối, ao hồ, kênh, mương ... có vai trò quan trọng trong việc tổ chức sử dụng
đất đai, vừa là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước tưới, vừa là nơi tiêu, thoát nước cho
khu vực khi có ngập úng.

-

Yếu tố thổ nhưỡng: Quyết định đến việc sử dụng đất phục vụ cho mục đích phát triển nông
nghiệp.

-

Thảm thực vật: Là một yếu tố môi trường có vai trò quan trọng. Thảm thực vật bao gồm các
vùng rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn, rừng sản xuất, đồng cỏ, cây trồng hàng năm, cây
trồng lâu năm ... là yếu tố điều tiết khí hậu, chế độ nước sông, suối, chế độ nhiệt, độ ẩm,
nước ngầm. Trong nhiều trường hợp nó tạo nên cảnh quan thiên nhiên, làm nơi du lịch, nghỉ
mát.

-

Tai biến thiên nhiên: Các hiện tượng bão, lũ, lụt, hạn hán, xói lở... tác động mạnh và nhiều
khi ảnh hưởng nghiêm trọng đến sử dụng đất.


-

triển; Tác động trực tiếp đến cuộc sống, kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ


tầng kỹ thuật và nền kinh tế.
Ví dụ vấn đề sử dụng đất đai đối với từng ngành kinh tế rất khác nhau :
Trong các ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ
sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất
(các ngành khai thác khoáng sản). Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ
thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự
nhiên có sẵn trong đất.
Trong các ngành nông - lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản
xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự
tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo....) và công cụ hay phương tiện lao
động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi...). Quá trình sản xuất nông-lâm nghiệp luôn liên
quan chặt chẽ với độ phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất.
Yếu tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định đối với việc sử dụng đất. Điều
kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định tiềm năng và mức độ thích hợp của đất đai với
các mục đích sử dụng. Còn việc sử dụng đất như thế nào được quyết định bởi sự năng động
của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật hiện có; Và vấn đề đặt ra hiện nay
là sử dụng đất cho phát triển kinh tế xã hội phải gắn với bảo vệ môi trường.

1.3.

Sử dụng đất hợp lí và bền vững đất đai
“Sử dụng hợp lý đất đai là sự sử dụng phù hợp với lợi ích của nền kinh tế trong

tổng thể, đạt hiệu quả nhất đối với mục đích đặt ra trong khi vẫn đảm bảo tác động thuận
với môi trường xung quanh và bảo vệ một cách hữu hiệu đất đai trong quá trình khai thác
sử dụng” V.P. Trôiski [14].
Năm nguyên tắc chính đóng vai trò nền tảng của việc sử dụng đất bền vững[5]:


1.4.

Nội dung và phương pháp đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất
Đánh giá nói chung là sự ước lượng vai trò, giá trị của các đối tượng nghiên cứu và

tùy thuộc vào mục đích mà cùng một đối tượng có thể đánh giá bằng nhiều cách khác nhau.
Nói cách khác, nhiệm vụ đánh giá thường gắn với mục tiêu, đối tượng nghiên cứu cụ thể và
từ đó có những chỉ tiêu đánh giá và phương pháp đánh giá thích hợp.
Tùy thuộc vào mức độ yêu cầu mà có thể phân chia đánh giá thành các hình thức
sau:
1.4.1.

Đánh giá định tính: đánh giá định tính đã có từ lâu, từ những cảm nhận đơn

giản, chủ quan người ta phân chia thành các mức độ “tốt, xấu” và “nhiều, ít”, cho đến
những phân tích, đánh giá một cách khoa học. Như vậy, đánh giá định tính cũng có hai mức
độ là: định tính theo cảm tính của thời kỳ trước đây và định tính trên cơ sở nhận định có
tính khoa học trong giai đoạn hiện nay. Đánh giá định tính là đánh giá tiềm năng hay mức
độ thích hợp của các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho các mục đích sử dụng
nhất định. Kết quả đánh giá định tính thường không cụ thể thành các con số mà chủ yếu là
đưa ra nhận xét.
1.4.2.

Đánh giá định lượng: Nếu không tiến hành đánh giá định lượng thì kết quả

nghiên cứu sẽ phụ thuộc nhiều vào trình độ hay kinh nghiệm của nhà nghiên cứu và kết quả
đánh giá sẽ thiếu khách quan, tính thuyết phục sẽ giảm. Kết quả đánh giá định lượng
thường được biểu diễn dưới dạng các con số, giá trị cụ thể hoặc số lượng sản phẩm thu
được.

e. Bình quân diện tích đất đai trên đầu người (bình quân diện tích đất tự nhiên/người; diện
tích đất sản xuất nông nghiệp/người; diện tích đất ở/hộ hoặc theo đầu người).

g. Hiệu quả kinh tế sử dụng đất:
-

Hiệu quả kinh tế sử dụng đất sản xuất nông nghiệp: được xác định bằng phương pháp phân
tích chi phí - lợi ích với các chỉ tiêu chủ yếu bao gồm: tổng thu, tổng chi, giá trị hiện ròng
(lợi nhuận), hiệu quả đồng vốn (tỷ suất lợi ích chi phí).

-

Hiệu quả kinh tế sử dụng đất lâm nghiệp (rừng trồng sản xuất) thể hiện qua giá trị khai thác
lâm sản.
- Hiệu quả kinh tế sử dụng đất sản xuất, kinh doanh: có thể đánh giá bằng các chỉ
tiêu sau:
+ Mức độ thuận lợi về vị trí cho các mục đích sản xuất công nghiệp, thương mại,


dịch vụ: được đánh giá bằng lợi nhuận theo vị trí đối với mục đích thương mại, dịch vụ và
giảm chi phí đối với sản xuất công nghiệp.
+ Mật độ xây dựng.
+ Giá đất.
+ Tiền thuê đất.
- Hiệu quả kinh tế sử dụng đất giao thông: được đánh giá bằng các chỉ tiêu:
+ Mức độ thuận lợi về giao thông đối với sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.
+ Tỷ lệ đất giao thông trong cơ cấu sử dụng đất.
+ Mức đầu tư và thời gian hoàn vốn (đối với các công trình theo kiểu BOT).

h. Hiệu quả kinh tế sử dụng đất ở: được đánh giá thông qua giá trị đất ở và mức độ sử dụng

1.5.

Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu

1.5.1.

Quan điểm lịch sử
Đối với một đơn vị đất đai, hướng sử dụng và khai thác tiềm năng trong đơn vị đất

đai đó được quy định bởi một quá trình sản xuất lâu dài của con người. Sự thay đổi hướng
sử dụng phụ thuộc vào sự phát triển của nhận thức, sự thay đổi thể chế chính trị, thay đổi
quan hệ và phương thức sản xuất, ...
Sự hình thành sử dụng đơn vị đất đai là kết quả tác động tương hỗ giữa các hợp phần
tự nhiên và con người theo thời gian và không gian. Việc nghiên cứu lịch sử phát triển sử
dụng đất đai khu vực nghiên cứu tạo cơ sở vững chắc cho mục tiêu cuối cùng của quá trình
nghiên cứu đánh giá thực trạng, biến động sử dụng đất phục vụ định hướng sử dụng hợp lý
lãnh thổ.
1.5.2.

Quan điểm hệ thống
Khi tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng và biến động sử dụng đất làm cơ sở cho

đề xuất định hướng quy hoạch sử dụng đất đai cần đặt lãnh thổ nghiên cứu trong một hệ
thống thống nhất và hoàn chỉnh cả về tự nhiên và xã hội. Các dạng tài nguyên thiên nhiên
có trong khu vực đều có sự tương tác lẫn nhau để tạo thành một hệ thống đầy đủ về cấu trúc
và chức năng. Giữa các thành phần và bộ phận cấu tạo nên hệ thống đều có những mối
tương tác qua lại qua các dòng vật chất, năng lượng và thông tin. Khi một thành phần hay
bộ phận nào đó bị tác động thì kéo theo sự thay đổi dây chuyền của các thành phần khác.
1.5.3.


đề xuất định hướng quy hoạch sử dụng đất cần phải cân nhắc, phân tích một cách tổng hợp,
toàn diện các đặc điểm điều kiện địa lý tự nhiên trên quan điểm lịch sử, hệ thống, tổng hợp
với các mục đích phát triển kinh tế-xã hội gắn liền bảo vệ môi trường.

1.6.
-

Các phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập tài liệu, số liệu: Nhằm thu thập các tài liệu, số liệu
về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, các số liệu thống kê về diện tích các loại đất để phục
vụ cho việc đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất đai huyện Bình Chánh.

-

Phương pháp thống kê, so sánh: Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, tiến hành
thống kê, so sánh số liệu qua các năm để thấy được sự biến động, thay đổi về cơ cấu các
loại đất.

-

Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp: Từ số liệu thu thập được và hiện trạng sử dụng
đất tiến hành phân tích làm rõ những tồn tại, những điểm chưa hợp lý trong sử dụng đất của
huyện.

-

Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của cơ quan chuyên môn, cán bộ địa phương
về các giải pháp sử dụng hợp lý đất đô thị và định hướng phát triển quỹ đất của huyện.
Phương pháp bản đồ: Phương pháp này có ưu điểm là tiết kiệm thời gian và kinh phí trong


Địa hình, địa mạo
Bình Chánh có dạng địa hình đồng bằng tương đối phẳng và thấp, bị chia cắt bởi rất nhiều

sông rạch, kênh mương. Hướng dốc không rõ rệt với độ dốc nền rất nhỏ, hầu như bằng 0.
Cao độ mặt đất phổ biến thay đổi từ 0,2m đến 1,1m, riêng khu vực ở phía bắc xã Vĩnh Lộc
B có cao độ nền đất từ 1,1m lên đến 4,2m và độ dốc mặt đất thay đổi từ 0,1% đến 1%.
Phần lớn diện tích huyện Bình Chánh hiện nay được bảo vệ không bị ngập do triều cao
trên sông rạch nhờ vào hệ thống thủy lợi với đê bao-cống ngăn triều.
Đê bao có chiều rộng mặt phổ biến 3,0m và mặt đê được thiết kế với cao độ 2,0m (cao độ Quốc
gia).
2.1.3.

Khí hậu, thủy văn
Bình Chánh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với nền nhiệt độ cao và ổn

định, lượng bức xạ phong phú, số giờ nắng dồi dào, với 2 mùa mưa và khô rõ rệt. Mùa mưa tương
ứng với gió mùa Tây Nam bắt đầu từ cuối tháng 5 đến hết tháng 11, mùa khô ứng với gió Đông


Nam bắt đầu từ tháng 12 đến cuối tháng 5.
Lượng bức xạ bình quân trong năm 12 Kcal/cm2, thời gian chiếu sáng trong ngày trong
các tháng ít thay đổi dao động từ 12 giờ trong tháng 3 và tháng 4 đến 11 giờ trong các tháng 7,8.
Nhiệt độ: tương đối ổn định, cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình năm khoảng
26,6oC. Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28,8oC (tháng 4), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất
24,8oC (tháng 12). Tuy nhiên, biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch khá lớn, vào mùa khô
có trị số 8 - 10oC.
Số giờ nắng: mùa khô có giờ nắng trung bình từ 7,4 đến 8,1giờ, hầu như không có sương
mù. Từ tháng 5 đến tháng 10 có số giờ nắng bình quân 6 giờ/ngày. Số giờ nắng bình quân trong
năm là 6,5giờ/ngày.

2.14.1.

Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 25.255,29 ha, chiếm tỷ trọng 11,97% diện tích toàn

Thành Phố và gấp 1,8 lần diện tích khu vực nội thành. Trong đó: có 888ha đất sông suối mặt nước
chuyên dùng, còn lại 24.376,29 ha đất mặt, chia làm 3 nhóm đất chính:


Bảng 2.1: Diện tích các loại đất huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh
Chuyển đổi
Ký hiệu
ST
Diện tích
Phân
loại
theo
HTVN
Fao/UNESCO
theo FAO
T
Ha
%
2 Đất xám
Acrisols
AC
2.749,16
10,89
1

10.452,39
41,39
Fluvisols
1
2

Đất phèn phát triển

orthithionic
Fluvisols

FLto

5.950,52

23,56

Đất phèn tiềm tàng

protothionic
Fluvisols

FLtp

4.501,86

17,83

888,00


Đất phù sa: có diện tích 11.174,74 ha (44,25% diện tích đất mặt trên địa bàn toàn huyện) do hệ
thống sông Cần Giuộc và Chợ Đệm bồi đắp, phân bố chủ yếu ở các xã Tân Quý Tây, An Phú Tây,
Hưng Long, Quy Đức, Đa Phước, Bình Chánh, Tân Túc. Đây là nhóm đất tốt nhất cho sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn huyện, đất có thành phần cơ giới trung bình, hàm lượng hữu cơ khá (210%), nghèo lân, kali khá.

-

Đất phèn : thuộc vùng đất thấp trũng, bị nhiễm phèn mặn, phân bổ chủ yếu tại các xã Tân Nhựt,
Bình Lợi, Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân, có diện tích 10.452,39 ha (41,39% diện tích đất mặt trên


địa bàn toàn huyện). Chia làm 2 nhóm đất phèn hoạt động (đất phèn phát triển) có diện tích
5.950,52 ha và đất phèn tiềm tàng với diện tích 4.501,86 ha. Đất có thành phần cơ giới nặng (hàm
lượng sét đạt 40-50%), hàm lượng chất hữu cơ cao nhưng độ phân hủy kém nên đất dễ thiếu N,
nghèo lân, kali ở mức trung bình, đất chua, pH
-

Thân quặng 3 : Sét gạch ngói nằm trên địa bàn xã Tân Túc, trữ lượng dự đoán khoảng 10 triệu m3.

-

Than bùn nằm rải rác phía cầu An Hạ, nông trường Lê Minh Xuân.

2.1.4.4.

Tài nguyên rừng
Theo kết quả thống kê đất đai năm 2011, diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện

981,94 ha, chiếm 3,89% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Tập trung ở 2 xã Lê Minh Xuân, Phạm
Văn Hai do lâm trường Láng Le và công ty TNHH Một Thành Viên Cây Trồng quản lý. Trong đó,
diện tích rừng sản xuất chiếm chủ yếu với 718,37 ha (73,16% diện tích đất lâm nghiệp), diện tích
đất rừng phòng hộ 234,46 ha, còn lại diện tích rừng đặc dụng 29,11 ha (trại thực nghiệm lâm
nghiệp)
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn khoảng 3.370ha đất trồng cây lâu năm khác (chủ yếu là
tràm) phân bố ở hầu hết ở các xã. Trong đó, diện tích cây lâu năm khác trồng mang tính tập trung
phân bổ chủ yếu ở các xã Vĩnh Lộc A 164ha; Vĩnh Lộc B 123ha, Bình Lợi 224ha...

2.1.4.5.

Tài nguyên nhân văn
Bình Chánh hiện nay được chính thức thành lập vào ngày 02/12/2003 (thực hiện theo

Nghị định 130/2003/NĐ ngày 5 tháng 11 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc chia tách địa
giới hành chánh) trên cơ sở tách 4 xã, thị trấn: Tân Tạo, Bình Trị Đông, Bình Hưng Hòa và Thị trấn
An Lạc thuộc huyện Bình Chánh cũ để thành lập quận Bình Tân, phần còn lại tái lập lại huyện Bình

Hoàn tại ấp 6 xã Vĩnh Lộc A diện tích 5 ha, khu tưởng niệm liệt sỹ Tết Mậu Thân ở xã Tân Nhựt
diện tích 12ha. Các khu công viên có quy mô lớn cũng đang được đầu tư xây dựng như khu công
viên hồ sinh thái tại xã Vĩnh Lộc B, khu công viên Sinh Việt...
Ngoài ra còn một số điểm, địa danh lịch sử của huyện trong giai đoạn trước năm 75 cũng
được nhiều người biết đến đã và đang được quan tâm đầu tư xây dựng đúng mức để thành điểm văn
hóa - du lịch hoặc vui chơi giải trí, góp phần giáo dục truyền thống ... như các vùng căn cứ cũ: đình
Tân Túc, vùng bưng Vĩnh Lộc, khu vực Lê Minh Xuân.

2.I.5.2.

Môi trường
Trong thời gian qua quá trình phát triển kinh tế xã hội, đô thị hóa trên địa bàn huyện Bình

Chánh diễn ra nhanh chóng, đời sống người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Đi cùng với
quá trình phát triển đó là vấn đề ô môi trường của huyện ngày một nhiều hơn. Ở một số vùng nông
thôn của Huyện vẫn còn không ít các hộ dân sống trong môi trường chưa hợp vệ sinh, vẫn còn sử
dụng nhà vệ sinh lộ thiên. Nước thải, chất thải trong các hoạt động sản xuất công, nông nghiệp,
sinh hoạt chưa được kiểm soát chặt chẽ là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực
tiếp tới đời sống, sức khỏe của cộng đồng dân cư và ngoài ra nó còn ảnh hưởng ngược lại tới chính
hoạt động sản xuất.
Nước thải từ 2 Khu công nghiệp Lê Minh Xuân, Vĩnh Lộc A trên địa bàn huyện có các chỉ
tiêu COD, BOD5, Coli vượt quá nguồn nước loại B, C do đó làm suy giảm chất lượng nguồn nước
mặt khi xả thải vào nguồn tiếp nhận. Ngoài ra, hiện tượng sống trên sông, đồ phế thải, đất đá thải
trực tiếp xuống dòng chảy cũng đã tác động không nhỏ đến chất lượng nguồn nước mặt của Huyện.
Các chỉ tiêu về môi trường không khí so với tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5937, 59381995): kết quả các chỉ tiêu SO2, NO2, CO, Pb, THC đạt. Chỉ tiêu bụi trước cổng bưu điện Láng Le,
ngã tư đường số 6 và đường số 9, ngoài khuôn viên khu công nghiệp (cách khu công nghiệp 100 m


theo hướng về vòng xoay An Lạc) vượt đáng kể do ảnh hưởng luồng gió tại thời điểm đo đạc.
Chất lượng môi trường nước bề mặt:

một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong đó rõ nét ở khu vực ven bờ hoặc lĩnh vực nông nghiệp, sẽ
có sự dịch chuyển lao động, dân cư đến các khu vực cao, khu vực có hoạt động kinh tế thuận tiện,
ổn định hơn. Các bệnh viện, trạm xá, trường học, cơ sở công nghiệp nằm trên các địa bàn ngập



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status