-i-
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc./.
Tác giả luận văn
Vũ Thị Minh Huệ
-ii-
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ
nhiệt tình, chu đáo của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học và những ý kiến đóng
góp quý báu của nhiều cá nhân, tập thể để tôi hoàn thành bản luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS.Phạm Quang Tuấn đã trực tiếp hướng
dẫn trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý của các thầy, cô giáo trong khoa Địa
lý; khoa Sau đại học, Viện Nghiên cứu quản lý đất đai; các đồng nghiệp trong và
ngoài cơ quan.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận,
Uỷ ban nhân dân thành phố Phan Thiết và các phòng, ban, cá nhân ở địa phương đã
tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập thông tin, tài liệu, nghiên cứu làm
luận văn.
trang 64
Bản đồ định hướng sử dụng đất đến năm 2020 thành phố Phan Thiết-
tỉnh Bình Thuận
Sau
trang 87 -iv-
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng Trang
Bảng 1.1: Chỉ tiêu đất cây xanh đô thị 7
Bảng 1.2: Chỉ tiêu đất đai xác định đối với từng chức năng của đô thị 24
Bảng 1.3: Chỉ tiêu các loại đất trong khu ở 24
Bảng 1.4: Tỷ lệ diện tích các thành phần đất trong khu công nghiệp 25
Bảng 2.1: Cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn 2001 - 2010 33
Bảng 2.2: Diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2001 44
Bảng 2.3: Diện tích và cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2001 45
Bảng 2.4. Diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2010 47
Bảng 2.5: Diện tích, cơ cấu các loại đất phi nông nghiệp năm 2010 49
Bảng 2.6: Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2001 - 2010 59
Bảng 2.7: Biến động diện tích đất phi nông nghiệp giai đoạn 2001 - 2010 63
Bảng 3.1: Định hướng sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2020 80
Bảng 3.2: Định hướng sử dụng đất phi nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2020 87
Bảng 3.3: So sánh diện tích các loại đất chính giữa phương án đề xuất và phương
án QHSDĐ đã được phê duyệt 88
-v-
1.3. Cơ sở khoa học cho việc định hướng sử dụng hợp lý đất đô thị 11
1.3.1. Sử dụng hợp lý đất đai 11
1.3.2. Quy hoạch sử dụng đất nói chung 15
1.3.3. Quy hoạch sử dụng đất đô thị 15
1.4. Cơ sở xác định quy mô đất đai trong việc định hướng sử dụng đất đô thị 21
1.4.1. Vấn đề xác định tính chất đô thị 21
1.4.2. Vấn đề xác định quy mô dân số đô thị 22
1.4.3. Vấn đề xác định quy mô và tổ chức đất đai xây dựng đô thị 22
1.4.4. Các chỉ tiêu đất đai quy định đối với các khu chức năng trong đô thị 24
1.5. Phương pháp nghiên cứu 25
1.5.1. Phương pháp điều tra, khảo sát và thu thập tài liệu 25
1.5.2. Phương pháp thống kê, so sánh 25
1.5.3. Phương pháp phân tích và tổng hợp 26
1.5.4. Phương pháp dự báo, tính toán 26
1.5.5. Phương pháp bản đồ và GIS 27
Chương 2 - HIỆN TRẠNG VÀ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT THÀNH PHỐ
PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN 2001 - 2010 28
2.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường 28
2.1.1. Vị trí địa lý 28
2.1.2. Địa hình, địa mạo 28
-ii-
2.1.3. Khí hậu, thủy văn 29
2.1.4. Các nguồn tài nguyên 30
2.1.5. Đánh giá chung những lợi thế, hạn chế về điều kiện tự nhiên, tài
nguyên thiên nhiên của thành phố đối với đất đai 31
2.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 32
2.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế 32
2.2.2. Dân số, lao động, việc làm và mức sống 36
2.2.3. Đánh giá chung về thực trạng và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội
3.4. Đề xuất định hướng sử dụng đất thành phố Phan Thiết đến 2020 78
3.4.1. Tiêu chí sử dụng đất hợp lý 78
3.4.2. Đề xuất định hướng sử dụng đất thành phố Phan Thiết đến năm 2020 78
3.4.3. So sánh một số chỉ tiêu sử dụng đất giữa phương án định hướng sử
dụng đất với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 đã được phê duyệt 88
3.5. Đề xuất các giải pháp thực hiện 91
3.5.1. Giải pháp về chính sách và quản lý 91
3.5.2. Giải pháp bố trí sử dụng đất 93
3.5.3. Giải pháp về bảo vệ tài nguyên đất và môi trường 94
3.5.4. Giải pháp thu hút đầu tư 95
3.5.5. Giải pháp kỹ thuật - công nghệ 96
3.5.6. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHẦN PHỤ LỤC 105
-1-
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn xây dựng và phát
triển dân sinh, kinh tế xã hội, quốc phòng và an ninh. Vai trò của đất đai đối với con
người và các hoạt động sống trên trái đất rất quan trọng, nhưng lại giới hạn về diện
tích và cố định về vị trí. Do vậy việc sử dụng đất phải hết sức tiết kiệm và hợp lý
trên cơ sở hiệu quả, lâu bền.
Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai thông qua các quy hoạch và
chiến lược phát triển, với mục tiêu hướng tới cao nhất là sử dụng hiệu quả, tiết kiệm
và bền vững các nguồn tài nguyên đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội. Để đưa ra được định hướng sử dụng đất hợp lý thì việc phân tích
hiện trạng, đánh giá biến động sử dụng đất nhằm làm rõ những mặt tích cực và hạn
vững xã hội).
4. Nội dung nghiên cứu:
- Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, đánh giá
biến động sử dụng đất có liên quan đến khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá khái quát về địa bàn nghiên cứu: điều kiện tự nhiên, tài nguyên
thiên nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Phan Thiết.
- Đánh giá hiện trạng và tình hình biến động sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2010.
- Thành lập bản đồ biến động sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2010.
- Nghiên cứu đánh giá mức độ hợp lý trong sử dụng đất, tác động đến yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội và vấn đề môi trường.
- Dự báo xu thế biến động sử dụng đất của thành phố Phan Thiết đến 2020.
- Đề xuất định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo
vệ môi trường thành phố Phan Thiết đến 2020.
- Xây dựng bản đồ định hướng sử dụng đất thành phố Phan Thiết đến năm 2020.
5. Cơ sở tài liệu để thực hiện Luận văn:
- Các văn bản, tiêu chuẩn, quy chuẩn quy hoạch sử dụng đất
- Luật Đất đai 2003 và các văn bản dưới Luật
-3-
- Các văn bản của Chính phủ, các Bộ ngành liên quan đến quản lý, sử dụng
đất trên địa bàn điều tra
- Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai của thành phố Phan Thiết qua các năm
- Báo cáo nhu cầu sử dụng đất của các cơ quan, đơn vị liên quan trên địa bàn
thành phố
- Các quyết định phê duyệt các dự án liên quan trên địa bàn nghiên cứu
- Các loại bản đồ hành chính, hiện trạng sử dụng đất, quy hoạch tổng thể…
- Tài liệu tham khảo: Các giáo trình cơ sở địa chính, hồ sơ địa chính, hệ
thống chính sách pháp luật đất đai…
6. Cấu trúc Luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung nghiên cứu của đề tài Luận văn
thị trấn [24].
Căn cứ vào các nội dung yêu cầu trên có thể định nghĩa một cách khái quát
về đô thị như sau: “Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao
động phi nông nghiệp (trên 65% - xét ở khu vực nội thị), là trung tâm tổng hợp hay
chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh
thổ (có thể là cả nước, hoặc một tỉnh, một huyện), có cơ sở hạ tầng thích hợp và
dân số nội thị tối thiểu là 4000 người (đối với miền núi tối thiểu là 2800 người). Đô
-5-
thị gồm các loại: thành phố, thị xã và thị trấn. Đô thị bao gồm các khu chức năng
đô thị” [15].
1.1.1.2. Khái niệm đất đô thị
Đất đô thị được định nghĩa là đất nội thành, nội thị xã, thị trấn sử dụng để
xây dựng nhà ở, trụ sở cơ quan, tổ chức, cơ sở tổ chức kinh doanh, cơ sở hạ tầng
phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh và vào các mục đích khác nhằm
phát triển kinh tế xã hội cho một vùng lãnh thổ. Ngoài ra, đất ngoại thành, ngoại
thị nếu đã có quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để
phát triển đô thị cũng được quản lý như đất đô thị [26].
Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, đất đô thị bao gồm: Đất sử dụng vào
mục đích xây dựng các công trình công cộng; Đất ở; Đất khu công nghiệp và kho
tàng; Đất cây xanh; Đất xây dựng mạng lưới giao thông và kỹ thuật hạ tầng; Đất
vùng ngoại ô [26].
1.1.2. Vấn đề sử dụng đất đô thị
Tốc độ đô thị hoá nhanh trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nước ở nước ta hiện nay đã đặt ra những vấn đề bức xúc đối với việc quản lý
đất đai đô thị. Hiện nay, tại các đô thị ở Việt Nam còn tồn tại một số vấn đề như sau:
- Cơ sở kinh tế - kỹ thuật tạo động lực phát triển đô thị còn yếu, chưa tạo ra
nguồn thu lớn cho nền kinh tế quốc dân và giải quyết nhiều công ăn việc làm cho
người dân đô thị.
- Tình trạng phân bố dân cư và sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng
kết cấu hạ tầng đô thị không theo kịp tốc độ tăng dân số đô thị, điều đó đồng nghĩa
với sự mất cân bằng sinh thái đô thị.
Mật độ dân số đô thị các vùng sinh thái rất khác nhau và ngay trong một đô
thị đất vùng trung tâm, các phố cũ mật độ dân số có thể gấp 2-3 lần mật độ dân số
trung bình đô thị đó. Nhìn chung mật độ dân số đô thị ở nước ta tương đối lớn,
trong điều kiện hiện nay thì mật độ dân số như vậy là thiếu cân đối.
- Đất ở đô thị: Ở Việt Nam đất ở đô thị có quan hệ mật thiết với kinh doanh -
dịch vụ đô thị. Đất ở đô thị phụ thuộc vào địa hình, khí hậu, kinh tế - xã hội và số
tầng cao trung bình các đô thị. Trong 30 năm qua, mặc dù thời gian đầu gặp nhiều
-7-
khó khăn nhưng hàng năm Nhà nước đã rất quan tâm đến việc đầu tư cho xây dựng
nhà ở và các cơ sở hạ tầng tại các đô thị. Trong những năm gần đây với cơ chế mới,
đất ở đô thị cũng tăng lên nhanh chóng do Nhà nước cấp đất và mở rộng thị trường
bất động sản cho người dân tự do mua bán nhưng đồng thời thấy rõ quỹ đất đô thị
đã ngày càng bị thu hẹp.
- Đất cây xanh, công viên đô thị: Tiêu chuẩn diện tích cây xanh/người dân đô
thị (m
2
/người) rất quan trọng để đánh giá môi trường sinh thái đô thị. Nhìn chung đô thị
nước ta diện tích cây xanh trên đầu người rất thấp mặc dù nước ta rất thuận lợi cho cây
xanh sinh trưởng và phát triển.
Chưa có một công trình nào nghiên cứu sự hợp lý đất cây xanh theo quan điểm
sinh thái đô thị và phát triển lâu bền. Tuy nhiên, theo quy phạm thiết kế quy hoạch đô
thị đã bước đầu đề xuất diện tích cây xanh trung bình trên đầu người như sau:
Bảng 1.1: Chỉ tiêu đất cây xanh đô thị
Diện tích cây xanh sử dụng công cộng
(m
2
/người)
/người.
- Đất giao thông đô thị: Những năm gần đây, Nhà nước ta đã quan tâm đến
-8-
việc phát triển hệ thống giao thông đô thị nhưng đất giao thông đô thị hiện nay còn
ở mức thấp chỉ chiếm trên dưới 10% đất đô thị. Trong khi đó ở các nước phát triển
không tính tới điều kiện phương tiện giao thông hiện đại thì tỷ lệ đất giao thông đô
thị chiếm trung bình 35 - 40% diện tích đô thị. Theo dự báo, tỷ lệ đất giao thông đô
thị ở nước ta trong tương lai phải đạt 15-20% diện tích đô thị, bình quân diện tích
giao thông đầu người là khoảng 15-20 m
2
. Nhưng hiện nay ở Hà Nội và nhiều đô thị
bình quân diện tích đất giao thông trên đầu người thấp nên là một trong những
nguyên nhân gây ra hiện tượng tắc nghẽn giao thông thường xuyên tại các thành
phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,
- Các loại đất đô thị khác: Bao gồm đất cơ quan trường đại học, dạy nghề,
viện nghiên cứu, đất quốc phòng trong đô thị, đất công nghiệp kho tàng, nhìn
chung chiếm diện tích tương đối lớn so với nhu cầu nên sử dụng còn lãng phí, nhiều
nơi sử dụng không đúng mục đích. Một số năm trước, tình trạng các cơ quan xí
nghiệp chia hoặc bán cho cán bộ công nhân viên làm nhà ở khá phổ biến. Riêng đất
quốc phòng đặc biệt đối với các đô thị miền Nam là sự tiếp quản đất quân sự của
chế độ cũ nên đất quốc phòng trong đô thị rất lớn, nhiều nơi bỏ trống hoặc cho thuê,
chia đất cho cán bộ quân đội làm nhà ở không theo quy hoạch đô thị gây nên sử
dụng đất lộn xộn sai mục đích và lãng phí.
1.2. Mối quan hệ giữa biến động sử dụng đất và phát triển đô thị
1.2.1. Biến động đất đai
Biến động là bản chất của mọi sự vật, hiện tượng. Mọi sự vật, hiện tượng
không bao giờ bất biến mà luôn luôn biến động không ngừng, động lực của mọi sự
biến động đó là quan hệ tương tác giữa các thành phần của tự nhiên và xã hội.
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ
khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật.
+ Các yếu tố kinh tế - xã hội của địa phương có tác động lớn đến sự thay đổi
diện tích của các loại hình sử dụng đất đai, bao gồm các yếu tố: sự phát triển của
các ngành kinh tế (dịch vụ, xây dựng, giao thông và các ngành kinh tế khác, ); sự
gia tăng dân số; các dự án phát triển kinh tế của địa phương; thị trường tiêu thụ các
sản phẩm hàng hoá,
-10-
1.2.2. Đô thị hóa và sử dụng đất
“Đô thị hóa là một quá trình diễn thế kinh tế - xã hội - văn hoá - không gian
gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển các nghề
nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hoá, sự
chuyển đổi lối sống và sự mở rộng không gian thành đô thị, song song với việc tổ
chức bộ máy hành chính và quân sự”. Theo quan điểm này thì quá trình đô thị hóa
cũng bao gồm sự thay đổi toàn diện về các mặt: cơ cấu kinh tế, dân cư lối sống,
không gian đô thị, cơ cấu lao động,… [28].
Chiến lược phát triển đô thị quốc gia là một bộ phận khăng khít, hữu cơ trong
chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta. Theo dự báo, trong
vài thập kỷ tới khoảng từ năm 2020 trở đi, khi các vùng tăng trưởng kinh tế (TP Hồ
Chí Minh - Biên Hoà - Vũng Tàu, Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Đà Nẵng - Huế
- Nha Trang) đã mạnh và sẽ không có lợi nếu tiếp tục “tăng sức ép” phát triển tại các
vùng tăng trưởng, thì việc phát triển các hệ thống trung bình, nhỏ (các thị xã, thị trấn)
trong toàn quốc trở nên cấp bách và rất quan trọng.
Trên góc độ toàn quốc, quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị đang là “sức
ép” mang tính quy luật trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trong quá trình đó,
tài nguyên đất là một yếu tố quan trọng và quyết định hàng đầu. Gần đây trong nền
kinh tế thị trường, đất trong đô thị đã, đang và sẽ là một thành phần to lớn trong
kinh doanh, sản xuất, thương mại nói chung và thị trường bất động sản nói riêng.
Điều đó rõ ràng là một bộ phận quỹ tài nguyên đất đai được chuyển sang dùng cho
xây dựng và phát triển đô thị.
và tạo ra những vùng địa lý thổ nhưỡng mang tính chất đặc thù – là những không
gian lãnh thổ cho các hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Theo thời gian, con người
đã dần tìm hiểu, nghiên cứu các đặc điểm, tính chất của thổ nhưỡng gắn với không
gian cụ thể và đưa vào sử dụng cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông
nghiệp. Như vậy, con người đã tác động và khai thác những điều kiện vốn có của tự
nhiên và các điều kiện này chính thức trở thành nguồn phúc lợi – tài nguyên thiên
nhiên của mỗi một đơn vị hành chính và đất đai cũng chính thức trở thành tài
nguyên và là tư liệu sản xuất đặc biệt như Mác đã từng khẳng định.
-12-
Đất đai được hiểu theo nghĩa rộng là: “một diện tích cụ thể của bề mặt trái
đất bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới
bề mặt đó bao gồm khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình – hình thái, mặt nước
(hồ, sông, suối, đầm lầy…). Tập đoàn thực vật, động vật (HST); Các lớp trầm tích
sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; trạng thái định cư của
con người; Những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền,
hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa…” [Hội nghị quốc tế
về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil 1993].
Đất đai là một vật thể tự nhiên nhưng mang tính lịch sử luôn tham gia vào
các mối quan hệ xã hội cụ thể là quá trình sử dụng đất, quá trình này chịu sự chi
phối của các điều kiện tự nhiên như khí hậu bề mặt, địa hình – hình thái, thủy văn,
quy luật sinh thái tự nhiên cùng các quy luật kinh tế xã hội và kỹ thuật.
Vậy đất đai là tổ hợp các dạng tài nguyên thiên nhiên được đặc trưng bởi
một lãnh thổ, một chất lượng của các loại đất (soil), bởi một kiểu khí hậu, một dạng
địa hình, một chế độ thủy văn, một kiểu thảm thực vật… Đất đai chính là cơ sở
không gian (đơn vị hành chính) của việc bố trí các đối tượng sản xuất, định cư và là
phương tiện sản xuất mà trước hết và rõ nhất là kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp,
dân cư và xây dựng dân dụng… Khi nói đến đơn vị đất đai (Land Unit) là bộ phận
không gian lãnh thổ đã kèm theo người sở hữu hoặc người có quyền sử dụng và
quản lý nó.
Tùy thuộc các quy mô diện tích mà khoảng không gian có thể gọi là từng khoanh
đất/khoảnh đất (có vị trí, lãnh thổ, qui mô và các yêu cầu về chất lượng nhất định).
Không có đất đai/khoanh đất sẽ không có sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp
cũng không có sự tồn tại của xã hội loài người.
Đối với các ngành phi nông nghiệp: đất đai đóng vai trò thụ động với chức
năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện lao động, là kho tàng dự trữ trong
lòng đất. Quá trình sản xuất và sản phẩm tạo ra từ sử dụng đất không phụ thuộc vào
đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật, các tính chất tự nhiên sẵn
có trong đất mà phụ thuộc vào vị trí và các vật liệu cấu thành nội tại bên trong cấu
trúc đứng của đơn vị đất đai.
-14-
Trong các ngành nông, lâm nghiệp: đất đai là yếu tố tích cực và điều kiện vật
chất – cơ sở không gian đồng thời là đối tượng lao động luôn chịu tác động trong
quá trình sản xuất cầy, bừa, xới xáo… và là công cụ hay phương tiện lao động (sử
dụng để trồng trọt, chăn nuôi…). Vì vậy, quá trình sản xuất nông – lâm nghiệp luôn
quan hệ chặt chẽ với độ phì nhiêu và các quá trình sinh học tự nhiên trong đất.
Sử dụng tài nguyên đất cần phù hợp với chức năng vốn có của đất đai kết
hợp với các biện pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường đất cho phù hợp và phục vụ
phát triển bền vững đất đai. Luật đất đai 1993 của Việt Nam đã khẳng định: đất đai
là tài sản quốc gia; là tư liệu sản xuất đặc biệt; là thành phần quan trọng hàng đầu
của môi trường sống; là địa bàn phân bố dân cư xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa
xã hội an ninh và quốc phòng.
Đất đai là nguồn tài nguyên không tái tạo và nằm trong nhóm tài nguyên hạn
chế của Việt Nam. Vì vậy, muốn sử dụng hợp lý tài nguyên đất chúng ta cần quy
hoạch sử dụng đất bền vững. Tiến hành đánh giá tiềm năng đất đai gồm tiềm năng
tự nhiên và tiềm năng kinh tế xã hội từ đó chỉ ra những thuận lợi và hạn chế là tiền
đề cho quy hoạch sử dụng đất. Trước khi tiến hành quy hoạch sử dụng đất cần đánh
giá hiện trạng sử dụng đất qua các năm và làm rõ sự biến động đất đai trong một
giai đoạn cụ thể và gắn với một đơn vị lãnh thổ. Trên cơ sở dự báo nhu cầu đất đai
đất bảo vệ môi trường [31].
Công tác lập quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất là một nội dung quan
trọng quản lý Nhà nước về đất đai, được thể chế hóa trong Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy
hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”; trong Luật Đất
đai năm 2003 (từ Điều 21 đến Điều 30) quy định cụ thể nội dung, trách nhiệm, thẩm
quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được.
Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các văn bản pháp luật
(Nghị định, thông tư ) hướng dẫn về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
1.3.3. Quy hoạch sử dụng đất đô thị
1.3.3.1. Khái niệm
Quy hoạch sử dụng đất đô thị là tổng thể các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, sinh
-16-
thái và pháp chế để tổ chức sử dụng hợp lý đất đô thị. Nó là quá trình căn cứ vào
yêu cầu đối với đất cho sự phát triển các ngành kinh tế, các doanh nghiệp và chất
lượng, tính thích nghi của bản thân đất, tiến hành phân phối đất cho các ngành, các
doanh nghiệp, điều chỉnh quan hệ đất, xác định công dụng kinh tế khác nhau của
các loại đất, sắp xếp hợp lý đất đô thị và sắp xếp tương ứng các tư liệu sản xuất
khác và sức lao động có quan hệ với sử dụng đất [26].
1.3.3.2. Nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất đô thị
Quy hoạch sử dụng đất đô thị có nhiệm vụ cơ bản là phải cụ thể hóa và phục
vụ đắc lực cho các nhiệm vụ chiến lược, các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường
của đô thị, đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Quy
hoạch sử dụng đất khu vực đô thị phải phục vụ thiết thực cho yêu cầu xây dựng
trước mắt đồng thời kết hợp với phát triển lâu dài.
Trên cơ sở phân tích hiện trạng sử dụng đất đai, căn cứ vào kế hoạch dài hạn
phát triển kinh tế xã hội, mục tiêu và định hướng chiến lược, những thay đổi lịch sử,
thực tế hiện trạng và điều kiện xây dựng của đô thị để xác định một cách hợp lý quy
mô phát triển không gian, phương hướng phát triển và phân phối hợp lý các loại tỷ lệ
vùng phụ cận dân cư đô thị.
- Đối với việc lựa chọn vị trí khu vực ngoại ô là: cần quan tâm đến khoảng
cách nơi sản xuất nông sản, thực phẩm đến thị trường trung tâm đô thị; sự khác
nhau về diện tích đất cần thiết cho việc sản xuất nông sản của các đơn vị sản xuất;
giá thành vận chuyển nông sản thực phẩm từ ngoại ô và nội thành, nội thị.
c, Nguyên tắc quy mô thích hợp của việc sử dụng đất đô thị: Quy mô sử dụng
đất đô thị được quyết định bởi tính chất đô thị. Quy mô sử dụng đất đô thị là có sự
kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế và dân số đô thị theo một tỷ lệ nhất định. Sự
kết hợp chặt chẽ này sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng đất đô thị.
d, Nguyên tắc hiệu quả tổng hợp của sử dụng đất đô thị:
Sự vận hành của kinh tế đô thị cần phục tùng mục đích sản xuất của Nhà
nước, điều này đòi hỏi sử dụng đất đô thị phải tuân theo nguyên tắc hiệu quả tổng
hợp của các lĩnh vực kinh tế, xã hội và sinh thái.
Vì vậy, khi xác định quy hoạch sử dụng đất đô thị cần phải tuân theo tất cả các