Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN
------------
LƯU VĂN THANH
TĂNG CƯờNG CÔNG TáC THANH TRA THUế ĐốI VớI
DOANH NGHIệP ở CụC THUế THàNH PHố Hà NộI
Chuyên ngành: KINH Tế CHíNH TRị
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. TRầN BìNH TRọNG
Hà nội 2015
MC LC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DN
NNT
TNCN
TNDN
GTGT
TKTN
MST
NSNN
Doanh nghiệp
Người nộp thuế
Thu nhập cá nhân
việc quản lý thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội đang phải đối
mặt với nhiều khó khăn, thách thức do tình hình kinh tế đang gặp nhiều khó
khăn, tình trạng các doanh nghiệp kinh doanh gian lận, trốn thuế, trây ỳ nợ
thuế đang ngày một gia tăng và với nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, nhất là
tình trạng các doanh nghiệp mua bán hóa đơn bất hợp pháp để trốn thuế,
chuyển giá, lợi dụng chính sách thông thoáng để tìm cách trốn thuế, rút tiền
hoàn thuế, nhiều hình thức kinh doanh mới phát sinh như kinh doanh qua
mạng khó kiểm soát, kinh doanh đa cấp, đang trở lên khá phổ biến. Trong khi
2
lực lượng cán bộ công chức thì có hạn, nhưng khối lượng công việc thì nhiều,
trình độ quản lý về thuế nói chung còn ở mức thấp, chính sách thuế còn nhiều
bất cập, chưa đồng bộ, chưa bao quát đầy đủ các hoạt động, chưa ban hành
kịp thời...Từ thực tiễn này đòi hỏi Hà Nội phải tăng cường đẩy mạnh công tác
quản lý thuế đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là tăng cường công tác thanh
tra thuế đối với các doanh nghiệp, góp phần hạn chế tình trạng vi phạm luật
thuế như khai man, trốn lậu thuế, chây ỳ, chậm nộp thuế.
Thanh tra thuế là một trong những chức năng thiết yếu của quản lý thuế.
Tính hiệu qủa của thanh tra thuế có ảnh hưởng chi phối đến hiệu quả của quản
lý thuế. Đặc biệt trong bối cảnh áp dụng cơ chế doanh nghiệp “tự kê khai, tự
nộp thuế” theo Luật quản lý thuế, công tác thanh tra thuế càng có vai trò
quan trọng, bởi vì để doanh nghiệp tự giác kê khai đúng nghĩa vụ thuế thì một
trong những vấn đề mấu chốt là phải làm cho doanh nghiệp thấy được hậu
qủa của trốn lậu thuế, tức là, chỉ ra rằng các hành vi gian lận, trốn lậu thuế sẽ
bị phát hiện (thể hiện tính hiệu quả của thanh tra) và những hậu qủa do trốn
lậu thuế đem lại (xử lý kết qủa sau thanh tra).
Cục thuế Hà Nội nhận thức được tầm quan trọng của công tác thanh tra
đối với doanh nghiệp nên đã tập trung mọi biện pháp tăng cường cho công tác
này như: Tập trung nguồn lực, tổ chức sắp xếp lại bộ máy, đổi mới hoạt động
điều kiện áp dụng cơ chế “tự khai, tự nộp thuế”. Do vậy, đây được coi là một
tài liệu để các nhà quản lý tham khảo vận dụng trong thực tiễn quản lý thuế.
Nghiên cứu đề tài này còn tạo điều kiện và cơ hội để các đồng nghiệp,
học viên, sinh viên tiếp cận thực tiễn, nâng cao kiến thức chuyên môn, từ đó
góp phần nâng cao chất lượng công tác và nghiên cứu khoa học.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải quy
nạp, so sánh, …
4
6. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu số liệu, nội dung chính của
đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề cơ bản về thanh tra thuế.
Chương 2. Thực trạng công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp ở
Cục thuế thành phố Hà Nội.
Chương 3. Giải pháp tăng cường công tác thanh tra thuế đối với doanh
nghiệp ở Cục thuế thành phố Hà Nội.
5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA THUẾ
1.1 Tổng quan về thanh tra thuế của cơ quan thuế
1.1.1. Khái niệm về kiểm tra và thanh tra thuế
Theo từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn, kiểm tra là
“xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [ tr.253]. Theo Đại từ điển
Tiếng việt do Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam biên soạn, kiểm tra
tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.
Theo Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 9/2/2012 của Chính Phủ thì cơ
quan thuế là cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành
và hoạt động thanh tra chuyên ngành.
Theo giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính thì thanh tra thuế
là “hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ
quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý
những hành vi trái pháp luật” [ tr.437]
Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu thanh tra thuế là hoạt động
kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và
cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế nhằm kết luận
đúng, sai, đánh giá ưu khuyết điểm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế,
phòng ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật thuế.
1.1.2. Mối quan hệ giữu thanh tra thuế và kiểm tra
Thanh tra thuế cũng là một hoạt động của kiểm tra thuế nên thanh tra
thuế và kiểm tra thuế có những điểm giống nhau:
- Thanh tra, kiểm tra thuế đều là một nội dung quan trọng của quản lý
thuế, đều có cùng một mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm
pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ
7
theo quy định của pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế,
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân.
- Chủ thể kiểm tra thuế, thanh tra thuế là cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật, thường là cơ quan thuế.
- Đối tượng kiểm tra, thanh tra thuế là các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.
- Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế là việc chấp hành pháp luật thuế.
- Về phương pháp kiểm tra, thanh tra thuế là đều phải xem xét hoạt động
đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý thuế. Việc
phân biệt thanh tra thuế và kiểm tra thuế không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận
mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành để
tránh sự chồng chéo giữa thanh tra và kiểm tra, giảm phiền hà cho các tổ chức
cá nhân là đối tượng thanh tra và kiểm tra.
1.1.3. Mục đích chính của hoạt động thanh tra thuế
Thanh tra thuế là một chức năng thiết yếu trong quản lý thuế. Đặc biệt,
trong bối cảnh áp dụng cơ chế DN “tự kê khai, tự nộp thuế”, vai trò của
công tác thanh tra thuế càng trở nên quan trọng, do cơ quan thuế sử dụng
công cụ thanh tra thuế để “ứng xử phù hợp” với người nộp thuế, người chấp
hành sẽ được tuyên dương, khen thưởng, ngược lại người vi phạm sẽ bị thanh
tra xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Do thanh tra thuế là hoạt động có tính
pháp lý cao, liên quan đến lợi ích kinh tế - chính trị của nhiều đối tượng trong
xã hội. Vì vậy, công tác thanh tra thuế phải đạt các mục đích quản lý sau:
- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hiện tượng gian lận, trốn thuế,
dây dưa, trây ỳ, nợ đọng tiền thuế…
- Phát hiện những điểm bất hợp lý, chồng chéo, bất cập và những kẽ hở
trong chính sách, chế độ thuế để kịp thời kiến nghị các cấp có thẩm quyền bãi
bỏ, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách, chế độ thuế.
9
- Điều tra xác minh, làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến thuế mà dư
luận xã hội quan tâm.
- Giải quyết kịp thời đơn thư tố giác hành vi vi phạm luật thuế, đảm
bảo quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước và các tổ chức cá nhân có
liên quan.
1.1.4. Nguyên tắc của hoạt động thanh tra thuế
- Phải tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật
Không được làm trái các quy định của pháp luật là nguyên tắc quan trọng
méo sự việc dẫn đến kết luận không đúng thực tế.
Tính công khai thể hiện ở chỗ chủ thể thanh tra phải thông báo đầy
đủ, công khai từ nội dung, kế hoạch, quyết định thanh tra đến kết luận
thanh tra để các tổ chức, cá nhân liên quan biết, giám sát và phối hợp thực
hiện. Việc công khai hoạt động thanh tra nhằm nâng cao tính khách quan
của hoạt động thanh tra, hạn chế những tiêu cực phát sinh trong qúa trình
thanh tra. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, tuỳ tính chất của cuộc thanh tra
cụ thể, cần có hình thức, mức độ công khai phù hợp để đảm bảo hiệu quả
hoạt động thanh tra.
Tính dân chủ nhằm tạo cơ hội cho đối tượng thanh tra được trình bày ý
kiến, quan điểm về những nội dung thanh tra cũng như về hoạt động của cơ
quan tiến hành thanh tra, tránh tình trạng áp đặt, ép buộc.
Tính kịp thời: Hoạt động thanh tra thuế nhằm phục vụ các mục tiêu quản
lý thuế trong những thời điểm nhất định. Vì vậy, thanh tra kịp thời ngoài việc
giúp cho đối tượng kịp thời nhận rõ sai phạm để sửa chữa, khắc phục ngay,
tránh vi phạm kéo dài còn giúp cơ quan thuế chấn chỉnh và sửa đổi cơ chế,
chính sách phù hợp thực tiễn, nâng cao hiệu quả quản lý thuế. Mặt khác tính
kịp thời còn đảm bảo cuộc thanh tra có biên bản, kết luận đúng thời hạn luật
định, tránh tình trạng dây dưa, kéo dài thời gian công bố kết luận thanh tra.
11
- Không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra.
Nguyên tắc này nhằm hạn chế tối đa những cuộc thanh tra chồng chéo
của các cơ quan quản lý, đảm bảo quyền hoạt động bình thường của đối tượng
được thanh tra. Khi tiến hành thanh tra thì mọi hoạt động của đối tượng thanh
tra vẫn hoạt động bình thường. Cùng với việc thực hiện tốt nguyên tắc kịp
thời trong hoạt động thanh tra, nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền lợi chính
đáng của đối tượng thanh tra.
1.1.5. Phân loại thanh tra thuế
1.2. Công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp
của cơ quan thuế
1.2.1. Nội dung thanh tra
Nội dung thanh tra thuế đối với doanh nghiệp tập trung vào những vấn
đề chủ yếu sau:
- Thanh tra việc chấp hành những quy định về kê khai đăng ký thuế
Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế là quyền và nghĩa vụ của đối tượng
kinh doanh. Mục tiêu của việc kê khai, đăng ký thuế nhằm giúp cho cơ quan
quản lý thuế quản lý chặt chẽ DN ngay từ khi bắt đầu hoạt động; quản lý hồ
sơ DN để lưu giữ, tra cứu, kiểm tra khi cần thiết.
Căn cứ vào số liệu tổng hợp về đăng ký kinh doanh, đăng ký kê khai,
nộp thuế, cơ quan thuế phối hợp với các ngành có liên quan để chuẩn bị điều
kiện vật chất phục vụ tốt nhất công tác quản lý thuế đối với các DN. Xác định
những đối tượng đã hoạt động kinh doanh, nhưng chưa đăng ký kinh doanh
hoặc chưa đăng ký thuế để xử lý kịp thời.
Nội dung kiểm tra đăng ký thuế là xem xét trên từng địa bàn, trong từng
loại ngành nghề có bao nhiêu đơn vị thực tế có hoạt động kinh doanh, số lượng
đơn vị đăng ký và chưa kê khai đăng ký thuế và DN đã đăng ký có làm đúng
13
những quy định về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế không.
Đối với mỗi DN khi kiểm tra cần đi sâu xem xét tính pháp lý của đăng
ký thuế; kiểm tra tính trung thực của các tài liệu, số liệu kê khai trong đăng ký
kinh doanh và đăng ký thuế về tư cách pháp nhân, người đại diện theo pháp
luật, vốn kinh doanh, địa điểm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, nhằm
phát hiện và xử lý những vi phạm trong kê khai đăng ký thuế. Cần coi trọng
việc kiểm tra nội dung ghi trong đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế vì đây là
khâu đầu tiên trong quy trình quản lý thu thuế, để tránh bỏ sót đối tượng chịu
thuế, doanh nghiệp, bỏ sót nguồn thu.
và các Luật khác có liên quan.
+ Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của DN để xác định
xem DN có thực hiện nghiêm túc quy định về thời hạn nộp thuế của các
luật thuế không, có dây dưa nộp chậm tiền thuế để chiếm dụng ngân sách
nhà nước không, có nợ đọng thuế không. Đặc biệt chú trọng đến những cơ
sở có biểu hiện vi phạm nhiều lần, với số lượng lớn nhằm giảm thiểu tối
đa khả năng thất thoát tiền thuế của Nhà nước. Để đạt được yêu cầu trên,
cần đối chiếu thời gian nộp thuế theo quy định của các luật thuế với thời
gian nộp thuế của DN qua các chứng từ nộp thuế như giấy nộp tiền vào
kho bạc, biên lai thuế.
Như vậy, việc thanh tra thuế đối với DN là công việc mang tính tổng hợp
cao, đòi hỏi cán bộ thanh tra thuế phải nắm vững các văn bản pháp luật, đặc
biệt là hệ thống các văn bản pháp luật về thuế, hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh
vực kinh tế xã hội khác, cán bộ thuế phải thông thạo nghiệp vụ kế toán, có
trình độ về tin học, có kỹ năng về thanh tra, kiểm tra về thuế…
1.2.2. Phương pháp thanh tra thuế đối với doanh nghiệp
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng thường xuyêntrong quá trình
15
thanh tra thuế từ khâu lập kế hoạch đến khâu thanh tra trực tiếp tại doanh
nghiệp. Nội dung của phương pháp này là thực hiện việc so sánh, đối chiếu
nội dung cần thanh tra với các nguồn thông tin khác nhau để đánh giá, xem
xét nội dung cần thanh tra thuế, đối chiếu các chỉ tiêu báo cáo của doanh
nghiệp với thực tế, so sánh cùng quy mô, cùng ngành nghề để phát hiện các
mâu thuẫn, bất hợp lý trong việc kê khai thuế của DN để đi sâu vào thanh tra
phát hiện sai phạm.
- Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết
Đây là phương pháp tối ưu để kiểm tra số liệu trên số sách kế toán, báo
kiểm tra, thanh tra.
+ Ngoài ra còn một số phương pháp khác như: Phương pháp thẩm tra và
xác nhận từng phần, phương pháp quan sát, phương pháp truy lần, phương
pháp loại trừ …
1.2.3. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra thuế đối với
doanh nghiệp
Hiệu quả công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp không chỉ được
xem xét, đánh giá đơn thuần ở khía cạnh vật chất (hiệu quả kinh tế, số thuế
thu về cho ngân sách) mà còn được xem xét, đánh giá dưới giác độ hiệu quả
tác động tích cực đến các mặt xã hội - chính trị. Vì vậy, các tiêu chí đánh giá
hiệu quả công tác thanh tra thuế được chia 2 nhóm là:
- Nhóm các tiêu chí định lượng:
Các tiêu chí định lượng thể hiện ở kết quả thực tế công tác thanh tra đã
được tiến hành. Đó là kết quả cụ thể của việc thực hiện nhiệm vụ được giao phản
ánh bằng định lượng (như số doanh nghiệp được thanh tra, số thuế truy thu, số
tiền phạt, số thuế thu hồi qua thanh tra vv…). Các tiêu chí này thường gồm:
+ Kết quả thực hiện kế hoạch thanh tra thuế thường phản ánh qua các chỉ
17
tiêu như: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số lượng đối tượng thanh tra so với kế
hoạch năm; Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số thời gian thanh tra so với kế
hoạch năm; Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số vụ việc khiếu tố giải quyết được
so với kế hoạch năm; Tỷ lệ số doanh nghiệp được thanh tra hàng năm so với
tổng số doanh nghiệp đang quản lý.
+ Tình hình vi phạm pháp luật thuế phát hiện qua thanh tra: Đánh giá
tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ vi phạp pháp luật
thuế/tổng số đối tượng thanh tra; Tổng số tiền thuế truy thu qua thanh tra; Số
tiền truy thu bình quân/đối tượng thanh tra.
+ Chi phí vật chất và thời gian cho thanh tra: Đánh giá tiêu chí này
+ Tác dụng trong việc phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan
quản lý thuế và tạo lòng tin của nhân dân vào hoạt động thanh tra thuế. Có thể
đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật
trong thanh tra; Tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật bị xử lý; những vụ việc
vi phạm quan trọng và nhạy cảm được phát hiện và xử lý…
Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu qủa thanh tra được đánh giá theo kỳ
(quý, năm) và được chia theo sắc thuế, theo hình thức thanh tra; theo loại
doanh nghiệp và từng nội dung thanh tra tương ứng.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác thanh tra doanh nghiệp của
cơ quan thuế
1.3.1. Điều kiện kinh tế xã hội và trình độ dân trí
Môi trường kinh tê vĩ mô, môi trường pháp lý, môi trường xã hội, đặc
điểm hoạt động doanh nghiệp của người nộp thuế là một trong những yếu tố
có ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý thuế nói chung và hoạt động thanh tra thuế
đối với doanh nghiệp nói riêng. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội trong
giai đoạn hội nhập sâu rộng hiện nay thì hệ thống luật pháp sẽ được hoàn
thiện. Số lượng người nộp thuế không ngừng tăng lên nhanh chóng…Tất cả
những biến đổi trên đều tác động lớn tới hiệu quả của công tác thanh tra thuế.
19
Việc có được một hệ thống pháp luật thuế đồng bộ, hoàn thiện, phù hợp với
tình hình kinh tế xã hội của đất nước sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt
động thanh tra thuế đi vào khuôn khổ, đồng thời nó cũng giúp cho người nộp
thuế hiểu và nghiêm túc thực hiện theo quy định của pháp luật.
Thêm vào đó, việc được đầu tư trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại
như: máy móc, thiết bị, hệ thống ứng dụng tin học hiện đại tích hợp đầy đủ
các thông tin về từng người nộp thuế nói riêng và các thông tin ngành nói
chung…cũng hỗ trợ cho công tác thanh tra thuế được tiến hành thuận lợi, có
tính chính xác và hiệu qủa cao hơn. Số lượng người nộp thuế ngày càng tăng
Quản lý thuế là hoạt động quản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại
diện, thông qua việc tổ chức, điều hành bộ máy ngành thuế, thực hiện hệ
thống chính sách pháp luật thuế và hệ thống các quy trình quản lý thu để động
viên một phần thu nhập từ lao động, của cải, vốn, từ việc tiêu dùng hàng hoá,
dịch vụ và từ việc lưu giữ, chuyển dịch tài sản của các thể nhân và pháp nhân
vào NSNN nhằm trang trải cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Quản lý thuế được thực hiện theo những mô hình quản lý nhất định. Lịch
sử quản lý thuế cho thấy có 3 mô hình quản lý thuế cơ bản: Mô hình quản lý
theo sắc thuế; Mô hình quản lý theo chức năng và Mô hình quản lý thu theo
DN. Mỗi mô hình có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả công tác
thanh tra thuế.
- Mô hình quản lý theo sắc thuế
Đây là mô hình được “tổ chức sớm nhất” [37, tr.20] trong hoạt động
quản lý thuế, được các ngành thuế áp dụng dựa trên nguyên tắc “sắc thuế”.
Theo mô hình này, cơ quan thuế được tổ chức thành các bộ phận (phòng,
ban) riêng biệt để chuyên trách quản lý một sắc thuế cụ thể. Mỗi phòng, ban
thực hiện tất cả các chức năng, các nghiệp vụ để quản lý thu đối với một
hoặc một vài sắc thuế. Mô hình quản lý theo sắc thuế áp dụng có hiệu quả ở
21
cơ quan thuế Trung ương do nhiệm vụ của các cơ quan này là nghiên cứu,
ban hành chính sách chế độ thu. Mô hình này thích hợp đối với những nước
sử dụng các vấn đề nghiệp vụ cụ thể và quy trình quản lý khác nhau đối với
mỗi sắc thuế.
Mô hình này phát huy hiệu quả cao nhất trong từng trường hợp thanh
tra một sắc thuế của một doanh nghiệp bởi tính chuyên môn hóa theo sắc
thuế cao. Tuy nhiên, trong trường hợp thanh tra một doanh nghiệp nộp
nhiều sắc thuế khác nhau lại xảy ra hiện tượng chồng chéo về chức năng
thanh tra giữa các phòng ban. Ở bất kỳ phòng, ban nào cũng có các bộ
đủ về DN để tiến hành thanh tra phải mất nhiều thời gian để tổng hợp thông
tin từ các phòng, ban chức năng khác nhau làm ảnh hưởng không nhỏ đến
kết quả thanh tra.
- Mô hình quản lý thu theo DN
Đây là mô hình đang được áp dụng tại một số nước phát triển. Theo
mô hình này, DN được phân loại để quản lý theo nhóm trên cơ sở đặc điểm
và mực độ tuân thủ pháp luật thuế của DN, hoặc phân theo quy mô DN. Do
đặc điểm và mức độ tuân thủ pháp luật thuế của mỗi nhóm DN là khác
nhau nên mỗi nhóm cũng có những rủi ro khác nhau về số thu. Để quản lý
hiệu quả những rủi ro này, cơ quan thuế cần phải phát triển và thực hiện
các chiến lược sao cho phù hợp với đặc tính và sự tuân thủ của từng nhóm
doanh nghiệp. Do đó, mỗi bộ phận trong cơ quan thuế sẽ chịu trách nhiệm
quản lý một hoặc vài nhóm đối tượng cụ thể. Các nhóm DN được phân chia
dựa trên cơ sở quy mô hoạt động, hình thức sở hữu, ngành kinh tế… Ví dụ:
Nhóm doanh nghiệp lớn, Nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nhóm người làm
công ăn lương…
Áp dụng mô hình này, hiệu qủa công tác thanh tra mỗi nhóm DN khá
cao, do có sự chuyên môn hoá theo đối tượng, kết hợp với chuyên môn