Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần xây dựng giao thông I Thái Nguyên - Pdf 39

1

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

------------------o0o------------------

LÊ VIỆT HÙNG

hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại công ty cổ phần xây
dựng giao thông i thái nguyên

CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:

HÀ NỘI - 2010

PGS.TS.PHẠM THỊ GÁI


2

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

------------------o0o------------------

LÊ VIỆT HÙNG

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ

1.2.5.Phân tích mối quan hệ giữa Chi phí - Khối lượng - Lợi nhuận
1.2.6.Mô hình tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
1.3.Kinh nghiệm tổ chức kế toán quản trị của một số nƣớc phát triển
trên thế giới và bài học kinh nghiệm vận dụng vào các doanh nghiệp
Việt Nam
1.3.1.Kinh nghiệm tổ chức kế toán quản trị của một số nước phát triển
trên thế giới
1.3.2.Bài học kinh nghiệm vận dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam
CHƢƠNG 2.THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG GIAO THÔNG I THÁI NGUYÊN
2.1.Tổng quan về Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty CPXD giao thông I
Thái Nguyên
2.1.2.Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh
2.2.Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty CPXD giao thông I
Thái Nguyên

i
1
5
5
5
7
8
9
19
27
28
34
36

CPXD giao thông I Thái Nguyên
3.2.Nội dung hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty CPXD giao
thông I Thái Nguyên
3.2.1.Phân loại chi phí phục vụ cho kế toán quản trị
3.2.2.Hoàn thiện tổ chức vận dụng phương pháp kế toán tập hợp chi phí
sản xuất phục vụ kế toán quản trị chi phí
3.2.3.Hoàn thiện hệ thống định mức chi phí và lập dự toán chi phí
3.2.4.Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí
3.2.5.Ứng dụng phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi
nhuận phục vụ cho việc ra quyết định
3.2.6.Xây dựng mô hình tổ chức kế toán quản trị để thu nhận và xử lý
thông tin
3.3.Điều kiện cơ bản để thực hiện các giải pháp
3.3.1.Về phía Nhà nước và ngành chủ quản
3.3.2.Về phía các tổ chức đào tạo, tư vấn về kế toán, tài chính và quản lý
kinh tế
3.3.3.Về phía doanh nghiệp
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

57
59
71
74
80
81
81
82
87
87

tài chính chủ yếu cung cấp cho các đối tượng bên ngoài đơn vị sử dụng để ra các quyết
định hữu ích tuỳ từng đối tượng, còn thông tin kế toán quản trị chỉ cung cấp cho các
nhà quản trị nội bộ đơn vị để ra quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kế toán quản trị mới được phát triển trong giai đoạn gần đây nhưng đã thực sự trở
thành một công cụ khoa học giúp nhà quản trị trong công tác quản lý, điều hành hoạt
động kinh doanh của đơn vị.
Ở Việt Nam, kế toán quản trị còn khá mới mẻ, các doanh nghiệp mới chỉ có hệ
thống kế toán tài chính hoàn chỉnh, còn hệ thống kế toán quản trị phục vụ cho công tác
quản lý và ra quyết định hầu như chưa có. Đồng thời, việc triển khai ứng dụng kế toán
quản trị trong các doanh nghiệp vào hoạt động quản lý chưa được quan tâm đúng mức.
Hơn nữa, về mặt luật pháp, Nhà nước ta mới chỉ ban hành những văn bản pháp quy,
chế độ hướng dẫn về hệ thống kế toán tài chính áp dụng bắt buộc cho các doanh
nghiệp, còn kế toán quản trị mới chỉ được đề cập và vận dụng không bắt buộc đối với
các doanh nghiệp trong thời gian gần đây.


7

Mặc dù vậy, kế toán quản trị vẫn được coi là một hoạt động thiết yếu trong một
tổ chức để giúp lãnh đạo xem xét, đánh giá các hoạt động của tổ chức nhằm đưa ra các
quyết định đúng đắn và hiệu quả nhất.
Hơn nữa, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh việc quản lý tốt chi phí
luôn được doanh nghiệp quan tâm và đặt lên hàng đầu. Kiểm soát và quản lý tốt chi phí
là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh hợp lý, hiệu quả nhằm mục
tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Chính
vì vậy, việc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí là rất cần thiết đối với bất kỳ một doanh
nghiệp nào muốn đứng vững trên thương trường.
Ngành xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọng
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Việc triển khai và ứng dụng kế toán quản trị vào
công tác quản lý tại các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêng chưa

Với mục đích đã xác định, đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận chung về kế toán
quản trị chi phí trong doanh nghiệp, đồng thời nghiên cứu thực trạng tổ chức kế toán
quản trị chi phí tại Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên. Đề tài chủ yếu khảo sát
và sử dụng tài liệu của Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên trong năm 2009 để
minh hoạ cho bài viết.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, trong đó đặc biệt chú trọng quan điểm lịch sử cụ thể, phương
pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp hạch toán kế
toán và các phương pháp khác để làm rõ đối tượng nghiên cứu.

5. Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá được cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh
nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty
CPXD giao thông I Thái Nguyên.
- Đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty
CPXD giao thông I Thái Nguyên, góp phần tích cực phục vụ cho nhà quản trị công ty
đưa ra các quyết định đúng đắn và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.

6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:


9

Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần xây dựng
giao thông I Thái Nguyên

định điều hành các hoạt động kinh doanh.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để đạt được mục tiêu cuối cùng là thu
được lợi nhuận tối đa trên mỗi sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp cần phải nắm rõ sản


11

xuất, kinh doanh mặt hàng nào, sản phẩm nào có lãi, mặt hàng nào, sản phẩm nào sẽ bị
lỗ bằng cách tính toán, phân tích, tổng hợp từng yếu tố chi phí để so sánh với doanh thu
của từng nhóm sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh. Điều
này đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải được cung cấp những thông tin đặc biệt
khác nhau từ kế toán quản trị.
Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về
quá trình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất; nhằm đề ra
các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinh doanh theo
từng hoạt động. Cho đến nay, khi bàn về bản chất của kế toán quản trị có nhiều quan
điểm khác nhau, chẳng hạn như:
Theo Ronald W. Hilton, Giáo sư Đại học Cornell (Mỹ): "Kế toán quản trị là một
bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó
để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức" [21, tr.9]
Theo Ray H. Garrison: "Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấp tài liệu
cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong
việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó" [21, tr.9]
Theo các Giáo sư đại học South Florida là Jack L. Smith, Robert M. Keith và
William L. Stephens: "Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà
quản trị những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát" [21, tr.9]
Theo quan điểm của Giáo trình Kế toán quản trị - Trường Đại học kinh tế quốc
dân xuất bản năm 2002: "Kế toán quản trị là qui trình định dạng, đo lường, tổng hợp,
phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho
ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm

phần lớn phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, chịu sự chi phối chủ quan của nhà quản
trị, do vậy, kiểm soát và quản lý tốt chi phí là mối quan tâm hàng đầu của họ. Mặt
khác, kế toán quản trị chi phí với nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp thông tin toàn diện và
đầy đủ về chi phí cho các nhà quản trị trong quá trình thực hiện các chức năng quản trị.
Như vậy, bản chất của kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản
trị chuyên thực hiện việc xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm
phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổ chức
thực hiện, kiểm tra và ra quyết định.

1.2. Nội dung kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp


14

1.2.1. Phân loại chi phí
1.2.2.1. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Cách “ứng xử” của chi phí là thuật ngữ để biểu thị sự thay đổi của chi phí tương
ứng với các mức độ hoạt động đạt được. Trong doanh nghiệp sản xuất, các chỉ tiêu thể
hiện mức độ hoạt động như: khối lượng công việc đã thực hiện, khối lượng sản phẩm
sản xuất, số giờ máy hoạt động,... Xét theo cách ứng xử, chi phí của doanh nghiệp
được chia thành 3 loại: Biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp.
Biến phí (Chi phí khả biến/chi phí biến đổi)
Biến phí là những chi phí xét về mặt tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ
hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi hoạt động. Mức độ hoạt động có thể là số
lượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy hoạt động, doanh thu
bán hàng thực hiện....
Trong doanh nghiệp sản xuất, biến phí tồn tại khá phổ biến như: Chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí năng lượng.... Trong
doanh nghiệp thương mại, biến phí thường bao gồm: Giá vốn hàng bán, hoa hồng cho
người bán....

Định phí (Chi phí bất biến/chi phí cố định)
Định phí là những chi phí xét về mặt tổng số không thay đổi theo mức độ hoạt
động trong phạm vi của quy mô hoạt động. Trong các doanh nghiệp sản xuất, các loại
chi phí bất biến thường gặp là chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương nhân viên
quản lý, chi phí quảng cáo, ....
Định phí thường có đặc điểm sau:
- Trong giới hạn của quy mô hoạt động, xét về tổng chi phí thì định phí thường
không thay đổi. Nếu xét định phí trên một đơn vị mức độ hoạt động thì thay đổi tỷ lệ
nghịch với mức độ hoạt động. Doanh nghiệp có hoạt động hay không thì định phí vẫn
tồn tại. Do vậy, các nhà quản trị muốn cho cho định phí đơn vị sản phẩm thấp cần khai
thác tối đa công suất của các tài sản đã tạo ra các định phí đó.
- Định phí trong doanh nghiệp cũng đa dạng và phong phú. Xét ở khía cạnh
quản lý chi phí, định phí được chia thành 2 loại: định phí bắt buộc và định phí không
bắt buộc.


16

Định phí bắt buộc là những định phí không thể thay đổi một cách nhanh chóng,
chúng thường liên quản đến tài sản cố định và cấu trúc tổ chức sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Thể hiện rõ nhất là chi phí khấu hao TSCĐ hay tiền lương nhân viên
quản lý ở các phòng ban chức năng. Các định phí bắt buộc gắn liền với các mục tiêu
dài hạn của doanh nghiệp, chúng biểu hiện tính chất cố định khá vững chắc và ít chịu
sự tác động của các quyết định trong quản lý ngắn hạn, không thể cắt giảm hết trong
thời gian ngắn. Để quản lý loại chi phí này cần tập trung vào việc nâng cao hiệu suất sử
dụng các yếu tố vật chất và nhân lực cơ bản của doanh nghiệp.
Định phí không bắt buộc là các định phí có thể được thay đổi nhanh chóng bằng
các quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp. Chúng thường được kiểm soát theo các
kế hoạch ngắn hạn và phụ thuộc nhiều vào chính sách quản lý hàng năm của các nhà
quản trị, có thể cắt giảm khi cần thiết. Do vậy, loại chi phí này còn được gọi là chi phí


(1.1)
Chênh lệch mức độ hoạt động cao nhất và
thấp nhất

Xác định tổng biến phí và định phí:
Tổng biến phí ở mức hoạt động
cao nhất (thấp nhất)
Định phí
(a)

=

=

Mức hoạt động cao nhất
(thấp nhất)

Chi phí hỗn hợp ở mức hoạt
động cao nhất (thấp nhất)

-

X

Biến phí
đơn vị (b)

Tổng biến phí ở mức hoạt
động cao nhất (thấp nhất)

● ● ●
● ● ●●
● ●
Biến phí

Định phí
Mức độ hoạt động
Sơ đồ 1.2. Phƣơng pháp đồ thị phân tán

- Phương pháp bình phương nhỏ nhất:
Phương pháp bình phương nhỏ nhất căn cứ trên sự tính toán của phương trình
tuyến tính:

Y = a + bX

(1.5)

Trong đó:
Y: là hàm chi phí
b: là biến phí/một đơn vị sản lượng
a: là định phí
X: là qui mô hoạt động (còn gọi là sản lượng)
Từ phương trình này, tập hợp n phần tử quan sát, ta có hệ phương trình sau:
n

n

n

i=1

thành hai loại: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
* Chi phí sản xuất
Giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm bằng
sức lao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết bị. Chi phí sản
xuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là giá trị của những nguyên vật liệu cấu thành
thực thể của sản phẩm và có thể xác định được một cách tách biệt, rõ ràng, cụ thể cho
từng sản phẩm. Đặc điểm của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể tập hợp thẳng cho
các đồi tượng chịu chi phí, thường mang tính chất biến phí, nó cấu thành nên thực thể
của sản phẩm, chiếm tỷ trọng khá cao trong chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Thông thường
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể định mức cho một đơn vị sản phẩm vừa cơ sở
xây dựng dự toán, vừa là cơ sở kiểm soát chi phí.
Chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp là chi phí về tiền lương, phụ cấp, các khoản trích
theo lương, tiền ăn ca... của những lao động trực tiếp chế tạo sản phẩm. Chi phí nhân
công trực tiếp có thể tập hợp thẳng cho đối tượng chịu chi phí. Khoản mục chi phí này
thường mang tính chất biến phí, thường xây dựng định mức cho một đơn vị sản phẩm
nhằm góp phần kiểm soát chi phí, xây dựng hệ thống dự toán chi phí.


20

Chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là các chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng
để phục vụ hoặc quản lý quá trình sản xuất sản phẩm. Chi phí sản xuất chung bao gồm
các yếu tố sau:
- Chi phí nhân viên phân xưởng, đội sản xuất: Là tiền lương, phụ cấp, các khoản
trích theo lương và các khoản khác phải trả cho nhân viên phân xưởng, đội sản xuất

phí khấu hao, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền phục vụ cho máy thi
công. Đặc điểm của chi phí sử dụng máy thi công là chi phí hỗn hợp mang cả tính chất
định phí và biến phí.
Chi phí sản xuất chung và chi phí sử dụng máy thi công theo mối quan hệ của
chi phí với đối tượng chịu chi phí thường là chi phí gián tiếp. Do vậy, cuối mỗi kỳ hoạt
động cần phải phân bổ các khoản mục chi phí này theo tiêu thức phù hợp tuỳ theo tính
chất của chi phí và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp để phục vụ cho việc tính giá
thành sản phẩm, dịch vụ.
* Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản
phẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung
toàn doanh nghiệp. Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: Chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Chi phí bán hàng:
Khoản mục chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu tiêu thụ
sản phẩm. Có thể kể đến các chi phí như chi phí vận chuyển, bốc dỡ thành phẩm giao
cho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiện vận chuyển, tiền lương nhân
viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thị quảng cáo, ...
Chi phí quản lý doanh nghiệp:
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho công tác
tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trên giác độ toàn doanh
nghiệp. Khoản mục này bao gồm các chi phí như: chi phí văn phòng, tiền lương và các
khoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định
của doanh nghiệp, các chi phí dịch vụ mua ngoài khác, ...


22

Chi phí ngoài sản xuất bao gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tố cũng thường bao gồm
cả định phí và biến phí. Do vậy, muốn kiểm soát các yếu tố chi phí cần tách thành 2 bộ

nghiệp. Các chi phí này được ghi nhận ở chi tiêu "Chi phí bán hàng" và "chi phí quản
lý doanh nghiệp" trên báo cáo kết quả kinh doanh.

1.2.1.4. Các tiêu thức phân loại chi phí khác
Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với đối tượng chịu chi phí, chi phí chia
thành: Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: là các khoản chi phí mà kế toán có thể tập hợp thẳng cho
từng đối chịu chi phí. Ví dụ: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
tiếp...
- Chi phí gián tiếp: là các khoản chi phí mà kế toán không thể tập hợp thẳng cho
từng đối tượng chịu chi phí mà phải phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu
thức phân bổ phù hợp. Ví dụ: Tiền lương của nhân viên phân xưởng... Độ chính xác
của chi phí gián tiếp cần phân bổ còn phụ thuộc vào tiêu thức phân bổ. Tiêu thức phân
bổ phải lựa chọn phù hợp và thường dựa vào những căn cứ khoa học như: Có tính đại
diện cao cho chi phí gián tiếp cần phân bổ, thuận tiện cho việc tính toán, thống nhất cả
kỳ hạch toán...
Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với mức độ kiểm soát của nhà quản trị, chi
phí được chia thành: Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được.
- Chi phí kiểm soát được: là các khoản chi phí phát sinh trong phạm vi quyền
của các nhà quản trị đối với các khoản chi phí đó.
- Chi phí không kiểm soát được: là các khoản chi phí phát sinh ngoài phạm vi
kiểm soát của các cấp quản trị doanh nghiệp.
Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với các quyết định kinh doanh, chi phí chia
thành: Chi phí cơ hội, chi phí chênh lệch, chi phí chìm.
- Chi phí cơ hội: là lợi ích tiềm tàng bị mất đi do chọn phương án (hoặc hành
động) này thay vì chọn phương án (hoặc hành động) khác. Chi phí cơ hội không thể
hiện trên bất cứ sổ sách kế toán nào nhưng lại là cơ sở rất cần thiết để lựa chọn phương
án kinh doanh.



phẩm riêng biệt hoặc một số sản phẩm cùng loại. Để áp dụng phương pháp này thì sản
phẩm thường có các đặc điểm dưới đây:


25

Sản phẩm thường mang tính đơn chiếc do sản xuất theo đơn đặt hàng của khách
hàng như: công trình xây dựng, bưu thiếp...
Sản phẩm thường có giá trị cao như tàu thuỷ, máy bay, kim loại quý, ...
Giá bán sản phẩm được xác định trước khi sản xuất theo hợp đồng đã ký kết.
Sản phẩm thường có kích thước lớn, gắn liền với các yêu cầu kỹ thuật, tính thẩm
mỹ và thường thông qua bản thiết kế kỹ thuật, dự toán chi phí như: công trình xây
dựng, đồ gỗ làm theo đơn đặt hàng của khách.
- Đối tượng tập hợp chi phí là từng đơn đặt hàng, còn đối tượng tính giá thành
có thể cũng là đơn đặt hàng hoặc từng loại sản phẩm của đơn đặt hàng. Do độ dài thời
gian cho sản xuất của từng đơn hàng có thể xác định riêng và không như nhau nên kỳ
tính giá thành là khi đơn đặt hàng hoàn thành. Vì thế, vào cuối kỳ kế toán, nếu đơn
chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí lũy kế cho công việc (đơn đặt hàng) đó được xem
là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
- Nội dung và quá trình tập hợp chi phí sản xuất theo công việc:
Đơn đặt hàng

Lênh sản xuất

Phiếu xuất kho
vật liệu

Phiếu theo dõi
lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status