1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng và trung thực. Nội dung luận văn này
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Phương Nhung
2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận văn thạc sỹ và kết thúc khóa học, em xin chân thành
cảm ơn Trường Đại học kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện cho em có môi trường
học tập tốt trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô trong Viện Ngân hàng –
Tài chính - Trường Đại học Kinh tế quốc dân, đặc biệt là PGS.TS Đặng Ngọc Đức
đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập,
trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đề tài luận văn thạc sỹ.
Em xin chân thành cảm ơn Viện Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học kinh tế
Quốc dân, các thầy cô tham gia quản lý, giảng dạy và tư vấn cho em trong suốt quá
trình học tập tại trường và nghiên cứu đề tài luận văn này.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo và các anh/chị đồng nghiệp tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đô đã tạo điều
kiện thuận lợi, góp ý và cung cấp số liệu giúp tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu, và hoàn thiện đề tài luận văn thạc sỹ.
Kính mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy cô, bạn bè và đồng
nghiệp để công trình nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn.
Tác giả luận văn
ĐT&PT
Đầu tư và Phát triển
HSBC
Ngân hàng Trách nhiệm Hữu hạn một thành viên HSBC Việt Nam
NH
Ngân hàng
NIM
Net Interest Margin – Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
KHCN
Khách hàng cá nhân
KHDN
i
LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại (NHTM) là hoạt
động mang lại lợi nhuận chính cho ngân hàng, đồng thời thông qua hoạt động cho
vay, NHTM đã có những đóng góp rất lớn trong việc cung ứng, điều chuyển vốn
cho nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững và ổn định.
Hiện nay, các NHTM đã chú trọng hơn đến đối tượng KHCN, tập trung phát
triển và mở rộng những sản phẩm cho vay tiêu dùng đối với KHCN nhằm quảng bá
thương hiệu và chiếm lĩnh thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, như vậy Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đô cũng không nằm
ngoài mục tiêu đó.
Tuy nhiên, sản phẩm cho vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo đối với KHCN yêu
cầu thủ tục phức tạp và thời gian xử lý khá lâu nên khách hàng thường gặp khó khăn
trong việc tiếp cận sản phẩm này tại các NHTM khi có nhu cầu vay vốn để tiêu dùng
và nâng cao mức sống cho bản thân và gia đình. Do vậy, hiện nay các NHTM đang
thực hiện đẩy mạnh cho vay tiêu dùng tín chấp. Sản phẩm này cho vay đối với cá
nhân phục vụ mục đích tiêu dùng, không cần tài sản đảm bảo, với thủ tục vay đơn
giản, thời gian xử lý nhanh nên cho vay tín chấp đối với KHCN đang là sản phẩm có
tiềm năng phát triển, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế có xu hướng phát triển ổn định
và nhu cầu tiêu dùng để nâng cao mức sống của khu vực dân cư ngày càng tăng như
hiện nay.
Do vậy đề tài “Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tín chấp đối với KHCN
tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đô” thực sự
có ý nghĩa lý luận và ứng dụng thực tiễn đối với BIDV Đông Đô trong giai đoạn
này.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI
tại các NHTM.
Các chỉ tiêu đánh giá mức độ mở rộng cho vay tiêu dùng tín chấp đối với
KHCN tại ngân hàng thương mại bao gồm: số lượng khách hàng vay tiêu dùng tín
chấp, doanh số cho vay tiêu dùng tín chấp, tỷ lệ nợ quá hạn trong cho vay tiêu dùng
tín chấp, tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng tín chấp, lợi nhuận từ hoạt động cho
vay tiêu dùng tín chấp.
iii
Các nhân tố ảnh hưởng tới mở rộng cho vay tiêu dùng tín chấp đối với KHCN
tại ngân hàng thương mại bao gồm nhóm nhân tố khách quan từ môi trường kinh tế,
môi trường văn hóa - xã hội, môi trường pháp lý, các chính sách của nhà nước; và
nhóm nhân tố chủ quan xuất phát từ phía ngân hàng như chiến lược kinh doanh, quy
mô vốn của ngân hàng, chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, thẩm định khách
hàng, chất lượng cán bộ tín dụng, cơ sở vật chất kỹ thuật.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TÍN CHẤP ĐỐI VỚI
KHCN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VỆT NAM
- CHI NHÁNH ĐÔNG ĐÔ
2.1. Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi
nhánh Đông Đô giai đoạn 2010 – tháng 06/2015
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đô
(BIDV Đông Đô) được thành lập dựa trên cơ sở nâng cấp Phòng giao dịch 2 của
SGD 1 Ngân hàng DDT&PT Việt Nam, đi vào hoạt động bắt đầu ngày 31/07/2004
theo QĐ số 194/QĐ – HĐQT ngày 05/05/2004 của HĐQT BIDV Việt Nam.
Chênh lệch thu chi và lợi nhuận trước thuế là chỉ tiêu cốt lõi, chiếm tỷ trọng
chủ yếu khi đánh giá chấm điểm kết quả hoạt động kinh doanh của một chi nhánh.
Trong giai đoạn 2010-2012, kết quả về chênh lệch thu chi và lợi nhuận trước thuế
mà BIDV Đông Đô đạt được là rất khả quan. Tuy nhiên, năm 2013, kết quả hoạt
dùng đối với KHCN, chiếm lĩnh thị trường và quảng bá thương hiệu của BIDV nói
chung và chi nhánh BIDV Đông Đô nói riêng. Năm 2014 và 06 tháng đầu năm
2015, dư nợ tăng trưởng với tốc độ nhỏ hơn đạt mức 31% và 14% là do nhận thấy
sự cần thiết trong phát triển mạng lưới khách hàng, quảng bá thương hiệu nên các
NHTM đều tập trung phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng tín chấp đối với
KHCN.
− Tỷ lệ nợ quá hạn trong cho vay tiêu dùng tín chấp đối với KHCN: Dư nợ
quá hạn trong cho vay TDTC đối với KHCN của Chi nhánh: tăng trong giai đoạn từ
năm 2010 đến cuối năm 2012 và có chiều hướng giữ ổn định trong giai đoạn từ đầu
năm 2013 đến nay.
Xét về tỷ lệ nợ quá hạn: giống với sự biến động của dư nợ quá hạn, tỷ lệ nợ
quá hạn trong cho vay TDTC tại Chi nhánh có xu hướng tăng lên trong giai đoạn
2010-2012, từ 1,11% năm 2010 lên 1,32% năm 2012. Tuy nhiên, từ năm 2013, tỷ lệ
quá hạn trong cho vay TDTC đối với KHCN đã quay đầu giảm xuống, tăng nhẹ
trong năm 2014, đến tháng 6 năm 2015 đã giảm còn 0,42% nhờ những biện pháp
điều hành, xử lý hiệu quả của Ban lãnh đạo Chi nhánh.
v
− Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng tín chấp đối với KHCN: Dư nợ xấu trong
cho vay TDTC đối với KHCN tại Chi nhánh diễn biến khá ổn định theo chiều hướng
tăng đân: từ 56 triệu năm 2010 lên 109 triệu tháng 06/2015. Mặc dù nợ xấu tăng lên
nhưng mức độ tăng này là chưa đáng lo ngại vì nó phù hợp với tốc độ tăng mạnh mẽ
của dư nợ cho vay TDTC đối với KHCN tại Chi nhánh trong những năm qua.
Xét về tỷ lệ nợ xấu: Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay TDTC đối với KHCN dao
động quanh mức 0,05%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ nợ xấu chung của cả Chi nhánh
và chỉ bằng một phần rất nhỏ tỷ lệ nợ xấu chung của cả hệ thống BIDV.
− Lợi nhuận từ hoạt động cho vay tiêu dùng tín chấp đối với KHCN: Lợi
nhuận thu được từ hoạt động cho vay TDTC đối với KHCN của Chi nhánh tăng
thấp: Cũng giống như các chỉ tiêu phản ánh quy mô cho vay doanh TDTC đối với
KHCN, lợi nhuận thu được từ hoạt động này mặc dù đã tăng trưởng khá tốt qua các
năm vừa qua nhưng xét về giá trị tuyệt đối vẫn còn rất khiêm tốn. Hiện nay lợi
nhuận từ hoạt động cho vay TDTC mới chỉ chiếm khoảng 3% - 6% tổng lợi nhuận
từ hoạt động tín dụng của Chi nhánh. Đây là con số khá thấp khi so với các chi
nhánh ngân hàng khác như HSBC, ANZ, Techcombank,....
− Nguyên nhân chủ quan
− Hiện nay Hội Sở chính đã có những chính sách linh hoạt hơn trong việc
giao các Chi nhánh tự quyết định những điều kiện và mức lãi suất trong quy định về
sản phẩm cho vay phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của từng chi nhánh,
Hội Sở chính chỉ quy định mức lãi suất tối thiểu và mức cộng biên độ tối thiểu cho
sản phẩm tín dụng. Tuy nhiên, BIDV Đông Đô chưa thực hiện xây dựng chính sách
phát triển, mở rộng riêng cho sản phẩm cho vay TDTC đối với KHCN tại Chi
nhánh.
− Chất lượng công tác thẩm định cho vay, tiếp cận khách hàng tại Chi nhánh
thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế.
− Công tác kiểm tra, giám sát sau khi cho vay vẫn chưa được cán bộ Chi
nhánh thực hiện sát sao, còn hời hợt và mang nặng tính hình thức.
− Công tác tiếp thị, giới thiệu sản phẩm cho vay tới khách hàng còn nhiều hạn
chế; chưa có đội ngũ chuyên làm công tác marketing, chủ động tìm kiếm khách
hàng tìm hiểu thị trường, để đưa ra chiến lược marketing phù hợp, nhằm thoả mãn
tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng.
− Các hoạt động của chi nhánh còn bó hẹp trên địa bàn thành phố Hà Nội,
chưa có chi nhánh cấp II, số lượng 6 phòng giao dịch (trong đó có 2 quỹ tiết kiệm
mới được nâng cấp lên phòng giao dịch) còn khá khiêm tốn. Điều đó gây ra hạn chế
vii
đối với việc mở rộng khách hàng và gây khó khăn cho việc phân tán rủi ro theo địa
viii
− Tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng tín chấp đối với KHCN trên cơ sở cho
vay lành mạnh bằng chất lượng phục vụ - chăm sóc khách hàng, để mở rộng thêm
mạng lưới khách hàng từ nền khách hàng cũ, đảm bảo tăng trưởng tín dụng lành
mạnh, hiểu quả, bền vững.
− Tối thiểu hóa thủ tục vay vốn cho KHCN, tạo điều kiện khách hàng không
phải bổ sung hồ sơ nhiều lần. Tích cực chủ động tìm kiếm các khách hàng cá nhân,
đặc biệt là khách hàng tiềm năng, có thu nhập hàng tháng ổn định, tài chính lành
mạnh.
− Thực hiện các biện pháp thu nợ sau giải ngân; đôn đốc thu hồi nợ quá hạn,
xử lý nợ xấu, cán bộ quản lý khách hàng của Chi nhánh cần sát sao đến từng khách
hàng mà cán bộ được phân giao trực tiếp quản lý.
− Tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp huy động vốn và quản lý vốn có hiệu quả,
khai thác các nguồn tiền gửi có lãi suất thấp, thời hạn dài, tạo điều kiện cho vay với
thời gian dài hơn cho KHCN để giảm áp lực trả nợ hàng tháng cho khách hàng, thu hút
thêm đối tượng khách hàng có nguồn thu nhập ổn định hàng tháng ở mức thấp hơn.
− Tiếp tục thực hiện hiện đại hóa ngân hàng, đổi mới, cải tiến chất lượng dịch
vụ, thủ tục giao dịch và phong cách phục vụ, thực hiện thẩm định và giải quyết cho
vay, bảo lãnh với chất lượng cao và thời gian nhanh nhất, tránh trường hợp khách
hàng chỉ đến với chi nhánh một lần.
− Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn, nắm vững các nghiệp vụ;
nâng cao trình độ, ý thức trách nhiệm của cán bộ trong công tác thẩm định và quản
lý dư nợ; tăng cường kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay.
− Đưa ra những chính sách ưu đãi đối với các khách hàng cá nhân uy tín tốt,
có quan hệ làm ăn lâu dài với chi nhánh.
3.2. Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tín chấp đối
với KHCN tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt
Nam – Chi nhánh Đông Đô
biện pháp nhằm thu hút lượng vốn trung và dài hạn, đặc biệt là nguồn tiền gửi từ
khu vực dân cư, tạo cơ sở và điều kiện cho việc mở rộng cho vay trung, dài hạn đối
với khách hàng cá nhân. Nhiều KHCN có nhu cầu vay tiêu dùng, tuy nhiên mức thu
nhập hàng tháng không cao nên đề nghị với thời gian vay dài hơn để giảm áp lực trả
nợ hàng tháng, do vậy Chi nhánh cũng cần phải chú trọng hơn vào huy động nguồn
trung – dài hạn để đáp ứng nhu cầu vay TDTC trung – dài hạn đối với KHCN.
− Tổ chức sự kiện giao lưu cho KHCN, chủ các KHDN tại Chi nhánh để mở
rộng thị phần: Chi nhánh sẽ là cầu nối tạo điều kiện để liên kết các đối tác, vừa là
kênh gửi tiền, vừa là kênh chuyển tiền, đồng thời cũng là kênh cấp vốn vay. Như
x
vậy, những buổi hội thảo, sự kiện giao lưu giữa các khách hàng tiền năng là một
trong những cơ hội tốt để Chi nhánh Đông Đô mở rộng thị phần, quảng bá thương
hiệu – hình ảnh và sản phẩm đến với khách hàng.
3.3. Một số kiến nghị với Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt Nam
Thứ nhất, BIDV cần ban hành các quy định, chính sách cụ thể nhằm hoàn
thiện và đồng bộ hóa các văn bản, quy trình về nghiệp vụ tín dụng của các chi
nhánh, đặc biệt là có những định hướng cụ thể, văn bản hướng dẫn chi tiết về sản
phẩm cho vay tiêu dùng tín chấp đối với KHCN.
Thứ hai, trong thời gian tới BIDV cần giao quyền chủ động hơn cho các chi
nhánh trong việc quy định các mức lãi suất huy động và lãi suất cho vay hợp lý, linh
hoạt, thực hiện các chính sách khuyến mãi, tặng quà phù hợp với đặc điểm của từng
địa bàn hoạt động và phù hợp với đặc thù hoạt động kinh doanh của từng chi nhánh.
Thứ ba, đơn giản hóa quy trình, thủ tục cho vay TDTC đối với KHCN.
Thứ tư, BIDV cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin phân tích, đánh
giá về những xu hướng biến đổi của kinh tế thị trường và các thành phần kinh tế, để
xác định được xu hướng về mức thu nhập của lao động của từng thành phần kinh tế,
tính. Trên cơ sở đó chỉ rõ những kết quả đã đạt và những hạn chế. Đồng thời, luận
văn đã chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến các hạn chế trên
Thứ ba, trên cơ sở định hướng phát triển cho vay tiêu dùng tín chấp đối với
KHCN tại BIDV Đông Đô trong thời gian tới và những nguyên nhân dẫn tới các
hạn chế còn tồn tại, luận văn có đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát
triển hoạt động cho vay tiêu dùng tín chấp đối với KHCN tại Chi nhánh.
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do lựa chọn đề tài
Có thể nói hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại (NHTM) là hoạt
động mang lại lợi nhuận chính cho ngân hàng, đồng thời thông qua hoạt động cho
vay, NHTM đã có những đóng góp rất lớn trong việc cung ứng, điều chuyển vốn
cho nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững và ổn định. Nền kinh tế hiện
nay đang có những dấu hiệu phục hồi, thu nhập của phần lớn tầng lớp dân cư được
cải thiện đáng kể, do vậy nhu cầu tiêu dùng và nâng cao mức sống của người dân
cũng tăng theo. Bên cạnh đó, mức độ cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng cao
nên để có thể tồn tại và giành ưu thế trong cạnh tranh mỗi NHTM cần không ngừng
nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng và phát triển sản phẩm, nghiên cứu phát huy
điểm mạnh,… để có chiến lược kinh doanh hợp lý. Nhận thức được xu hướng này,
các NHTM đã chú trọng hơn đến đối tượng khách hàng cá nhân (KHCN), tập trung
phát triển và mở rộng những sản phẩm cho vay tiêu dùng đối với KHCN nhằm
quảng bá thương hiệu và chiếm lĩnh thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, như
vậy Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đô cũng
không nằm ngoài mục tiêu đó.
Tuy nhiên, sản phẩm cho vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo đối với KHCN yêu
cầu thủ tục phức tạp và thời gian xử lý khá lâu nên khách hàng thường gặp khó
khăn trong việc tiếp cận sản phẩm này tại các NHTM khi có nhu cầu vay vốn để
tiêu dùng và nâng cao mức sống cho bản thân và gia đình. Do vậy, hiện nay các
NHTM đang thực hiện đẩy mạnh cho vay tiêu dùng tín chấp đối với đối tượng
− Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
− Phạm vi lĩnh vực nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng
hoạt động cho vay tiêu dùng tín chấp đối với KHCN tại Ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đô trong giai đoạn 2010 – tháng
06/2015, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng
tín chấp đối với KHCN tại Chi nhánh trong giai đoạn tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
− Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu: Phương pháp so sánh được sử
dụng để so sánh các chỉ tiêu qua các năm, so sánh chỉ tiêu của đối tượng với đối
tượng khác, so sánh chỉ tiêu kế hoạch và thực tế từ đó rút ra nhận định chung về sự
phát triển hoạt động cho vay KHCN vay tín chấp tại Chi nhánh.
− Nguồn dữ liệu: Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ
các tài liệu sau
+ Thông tin nội bộ: các số liệu do Phòng Quản lý rủi ro, Phòng Khách hàng
cá nhân, Phòng kế hoạch tổng hợp của BIDV Đông Đô cung cấp, các báo cáo tổng
kết cuối năm, phân tích báo cáo tài chính hàng năm của Chi nhánh
+ Nguồn thông tin thu thập từ bên ngoài: Các số liệu về chỉ tiêu hoạt động
kinh doanh của BIDV và của ngành ngân hàng để đối chiếu, so sánh; Các nguồn dữ
liệu về KHCN vay tín chấp thu thập từ sách, báo, tạp chí.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình
bày gồm ba chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng đối với KHCN tại
NHTM.
Chương 2. Thực trạng cho vay tiêu dùng tín chấp đối với KHCN tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đô.
Chương 3. Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tín chấp đối với KHCN tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đô.
sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế,… và
chi tiêu cho các nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả,
tạo điều kiện nâng cao cuộc sống của người dân và đồng thời có hiệu quả trong việc
kích cầu, kích thích tiêu dùng để đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh chung
cho cả nền kinh tế.
Bên cạnh đó, trên cơ sở phân loại theo tiêu chí về mức độ tín nhiệm đối với
KHCN, cho vay tiêu dùng có thể có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm.
Cho vay tiêu dùng đối với KHCN không có tài sản bảo đảm chính là vay tiêu dùng
tín chấp đối với KHCN.
1.1.1.2. Cơ sở hình thành cho vay tiêu dùng đối với KHCN
Ta có thể thấy cho vay là hoạt động cơ bản của các NHTM, tuy nhiên từ
những năm 2000 trở về trước các NHTM mới chỉ thực sự quan tâm đến cho vay các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa mà chưa thực sự chú ý tới nhu cầu vay
tiêu dùng của người dân. Cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân tăng cao, nhu cầu vay tiêu dùng cũng từ đó gia tăng
mạnh mẽ như mua nhà, mua xe, mua sắm trang thiết bị tiện nghi cho gia đình, nhu
cầu chăm sóc sức khỏe, du lịch, giải trí, học tập,... Tuy nhiên để đáp ứng những nhu
cầu đa dạng của con người từ ăn, mặc, ở, học tập đến du lịch, vui chơi giải trí, được
tôn trọng,... được đúng thời điểm không phải lúc nào cũng đễ dàng thực hiện được
bởi nó còn phụ thuộc vào một nhân tố quan trọng - đó là khả năng thanh toán.
Chẳng hạn một người có thu nhập ổn định hàng tháng, tuy nhiên không thể có
đủ khoản tiền lớn tại thời điểm hiện tại để mua một ngôi nhà nhằm mục đích cư trú
lâu dài và ổn định cuộc sống của bản thân cũng như của gia đình. Như vậy, người
đó cần phải thực hiện biện pháp để có thể thể sở hữu một ngôi nhà tại thời điểm
hiện tại khi thực sự biết mình có khả năng thanh toán trong tương lai.
Trên thực tế có hai cách để giải quyết, thứ nhất là mua bán hàng hóa mà người
mua chưa thanh toán ngay cho người bán khi nhận được hàng hóa, cách này chỉ có
lợi cho người mua và bất lợi cho người bán. Người mua sẽ được sử dụng hàng hóa
một số tầng lớp người dân có thu nhập cao và tương đối ổn định thì vay tiêu dùng
giúp họ nâng cao mức sống. Trong cuộc sống ngày càng hiện đại, vay tiêu dùng đã
trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, và sự hình thành cho vay tiêu dùng là điều tất yếu.
1.1.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng đối với KHCN
Cho vay tiêu dùng có những đặc trưng cơ bản sau:
1.1.2.1. Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lại lớn, nhu cầu
vay vốn phụ thuộc vào chu kỳ của nền kinh tế.
Quy mô của từng hợp đồng vay thường khá nhỏ, thời gian vay không kéo dài,
trong khi đó số lượng các khoản vay tiêu dùng lại rất lớn. Hơn nữa các thông tin về
các cá nhân thường không đầy đủ và thiếu tính chính xác, điều này khiến cho ngân
hàng mất thời gian, và nguồn lực trong quá trình tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách
hàng trước cho vay cũng như trong suốt quá trình giải ngân, cho vay và thu nợ.
Những điều đó khiến cho việc thực hiện các khoản vay tiêu dùng đối với ngân hàng
khá tốn kém và mất nhiều chi phí.
Bên cạnh đó, mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân mà
không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh nên cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào
nhu cầu, tính cách của từng đối tượng khách hàng và mức thu nhập từng thời kỳ của
khách hàng cũng như chu kỳ của nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng kéo theo
thu nhập của người dân tăng cao, từ đó phát sinh thêm nhu cầu vay tiêu dùng để
nâng cao chất lượng đời sống, là yếu tố thích hợp cho mở rộng hoạt động cho vay
tiêu dùng tại NHTM. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, đầu tư giảm dẫn đến lạm
phát tăng, thất nghiệp tăng theo, nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm sút, dẫn đến
vay tiêu dùng cũng giảm, gây khó khăn trong mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng
đối với KHCN tại các NHTM.
Ngoài ra, vào các dịp lễ Tết, nhu cầu mua sắm nhiều thì nhu cầu vay tiêu dùng
cũng tăng lên, thúc đẩy mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng đối với KHCN và
ngược lại, những ngày bình thường, đặc biệt khi vừa qua đợt lễ Tết thì nhu cầu mua
sắm của khu vực dân cư giảm sút, hạn chế mở rộng cho vay tiêu dùng đối với
cho ngân hàng phụ thuộc nhiều vào yếu tố liên quan đến môi trường bên ngoài và
nền kinh tế như chu kỳ của nền kinh tế, cơ cấu kinh tế và đặc biệt là thu nhập của
khách hàng. Nếu một trong những yếu tố trên có những biến động ngược lại với dự
đoán của ngân hàng sẽ gây ra rủi ro cho hoạt động tín dụng tiêu dùng.
Thứ ba, nguồn trả nợ của người vay có thể gặp những biến động lớn, nó phụ
thuộc vào quá trình làm việc, kinh nghiệm, tài năng và sức khỏe của người
vay,...Nếu rủi ro xảy ra với người vay như tử vong, mất khả năng lao động hoặc mất
việc làm thì ngân hàng sẽ gặp khó khăng trong việc thu hồi nợ. Ngân hàng thường
yêu cầu người vay mua bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm
khoản vay,....để một phần giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay tiêu dùng đối
với KHCN.
Quản lí sau cho vay cũng là một vấn đề lớn mà ngân hàng gặp phải do quy mô
món vay nhỏ nhưng số lượng các món vay lại lớn vì thế việc kiểm soát về tình hình
thu nhập và khả năng tài chính của từng khách hàng đối với tất cả các món vay
không phải là điều dễ dàng. Nó phụ thuộc rất lớn vào đạo đức của người vay. Tuy
nhiên cũng do cho vay tiêu dùng luôn tiềm ẩn rủi ro ở mức cao vì thế lợi nhuận kì
vọng mang lại từ nguồn cho vay tiêu dùng cũng lớn.
Như vậy rủi ro của những khoản vay tiêu dùng đối với KHCN khá lớn, và để
mở rộng cho vay tiêu dùng đồng thời đảm bảo được mức độ rủi ro ở mức thấp là
vấn đề lớn của các NHTM. Các NHTM cần phải thực hiện mở rộng cho vay tiêu
dùng tín chấp đồng thời đưa ra được những quy trình, chính sách hợp lý để giảm
thiểu rủi ro.
Từ những đặc điểm trên của cho vay tiêu dùng, các NHTM có thể căn cứ vào
đó để đưa ra quy trình, những chính sách, sản phẩm và hình thức cho vay tiêu dùng
phù hợp để mở rộng dư nợ và đáp ứng tốt nhất nhu cầu đa dạng của khách hàng.
1.1.3. Các hình thức cho vay tiêu dùng đối với KHCN
Phân loại cho vay tiêu dùng là việc sắp xếp các khoản cho vay tiêu dùng theo
từng nhóm dựa trên một số chỉ tiêu nhất định, việc phân loại cho vay là có cơ sở
trạng pháp lý của tài sản (quyền sở hữu, quyền sử dụng,...) , định giá giá trị tài sản
tại thời điểm thẩm định cho vay (theo phương pháp chi phí, phương pháp so sánh
trực tiếp, khả năng phát mại,...), sau đó ngân hàng thực hiện đăng ký giao dịch bảo
đảm đối với tài sản đảm bảo của khách hàng trước khi thực hiện giải ngân cho
khách hàng.
− Cho vay không có tài sản bảo đảm (Cho vay tiêu dùng tín chấp): Cho vay
tiêu dùng không có tài sản bảo đảm là sản phẩm tín dụng không yêu cầu tài sản bảo