Nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Thành Đô - Pdf 28

1
MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng một vai trò quan trọng đối với phát triển kinh
tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay tuy nhiên các DNNVV vẫn chưa thể
phát triển đúng với tiềm năng. Một trong những cản trở quan trọng đó chính là việc
khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn tín dụng của các NHTM,
để phục vụ yêu cầu đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh. Điều này xuất phát từ cả hai phía là NH và DNNVV.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Thành
Đô là một trong những chi nhánh thuộc hệ thống BIDV trên địa bàn Hà Nội, nằm ở
phía bắc của Thủ đô Hà Nội có đầy đủ chức năng của một ngân hàng thương mại
theo các chính sách đầu tư phát triển của BIDV; Hoạt động kinh doanh ngân hàng
gắn với định hướng phát triển kinh tế đất nước theo từng thời kỳ. Trong thời gian
qua, về cơ bản BIDV Thành Đô đã đạt được một số thành công nhất định về sự ổn
định và tăng trưởng hàng năm thể hiện qua các chỉ tiêu cơ bản như quy mô tổng tài
sản, huy động vốn, tín dụng, lợi nhuận và thực sự vượt qua những khó khăn trong
bối cảnh khủng hoảng kinh tế kéo dài và sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng
thương mại; Tuy nhiên trong vòng 3 năm trở lại đây BIDV Thành Đô đang phải đối
mặt với những khó khăn tương đối lớn trong việc thực hiện kế hoạch kinh doanh,
một trong những mảng hoạt động kinh doanh cần được quan tâm, chú trọng để thúc
đẩy phát triển nhất là hoạt động tín dụng đối với DNNVV.
Ngoài những kế quả đạt được, hoạt động tín dụng đối với DNNVV của
BIDV Thành Đô còn những bất cập như số lượng DNNVV đang có quan hệ tín
dụng còn ít, sản phẩm cho vay đối với DNNVV chưa đặc trưng, sự tăng trưởng và
phát triển cho vay đối với DNNVV thấp, … dẫn tới hiệu quả không cao chưa thực
sự tương xứng với tiềm năng hiện có và những đóng góp của hoạt động tín dụng đối
với DNNVV vào hiệu quả hoạt động kinh doanh chung của Chi nhánh còn hạn chế.
Vì vậy, việc lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng đối
với DNNVV tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh
Thành Đô” để nghiên cứu có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục danh

gồm:
Mô hình 5 khoảng cách:
- Khoảng cách 1: xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách
hàng về chất lượng dịch vụ và nhà cung cấp cảm nhận về kỳ vọng này của họ.
3
- Khoảng cách 2: xuất hiện khi nhà cung cấp gặp khó khăn trong việc
chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính
dịch vụ.
- Khoảng cách 3: xuất hiện khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dịch
vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định.
- Khoảng cách 4: phương tiện quảng cáo và thông tin cũng tác động vào kỳ
vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ.
- Khoảng cách 5: xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng bởi
khách hàng và chất lượng mà họ cảm nhận được.
Parasuraman cho rằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ 5.
Khoảng cách thứ 5 này phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó, nghĩa là các
khoảng cách 1, 2, 3, 4. Vì thế để rút ngắn khoảng cách thứ 5 hay làm tăng chất
lượng dịch vụ, nhà quản trị dịch vụ phải nỗ lực rút ngắn các khoảng cách này.
1.3.2. Thang đo Servqual
thang đo :
1.3.3. Các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ tín dụng và sự thỏa mãn
khách hàng
Ở phần này, để thực hiện đánh giá chất lượng dịch vụ tín dụng đối với
DNNVV tại BIDV Thành Đô, tác giả đã sử dụng mô hình lý thuyết về chất lượng
dịch vụ với thang đo Servqual về chất lượng dịch vụ. Tác giả sử dụng các bước kỹ
thuật để điều chỉnh các chỉ tiêu của thang đo và sử dụng trong nghiên cứu
1.3.3.1 Thang đo chất lượng dịch vụ tín dụng
Trên cơ sở thang đo Servqual, tác giả điều chỉnh lại thành thang đo chất
lượng dịch vụ tín dụng cho phù hợp với đặc trưng dịch vụ tín dụng của ngành ngân
hàng nói chung và BIDV Thành Đô nói riêng.

về tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh BIDV Thành Đô trong giai đoạn
từ 2008 đến 2013.
2.2. Thực trạng tín dụng đối với DNNVV tại BIDV Thành Đô
Phần này nêu lên Quy trình cấp tín dụng và Chính sách khách hàng của
BIDV Thành Đô đối với DNNVV
2.3. Phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ tín dụng đối với DNNVV tại BIDV
Thành Đô
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích kinh tế 20.0 p.
Với 115 bảng hỏi đạt yêu cầu, toàn bộ dữ liệuđược nhập số liệu bằng excel
và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 để tiến hành đánh giá.
2.3.1 Kết quả các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ tín dụng đối với
DNNVV tại BIDV Thành Đô
2.3.2.1. Đánh giá thang đo chất lượng dịch vụ tín dụng:
Bằng các phương pháp phân tích hệ số tin cậy Cronbach Alpha và phân tích
nhân tố khám phá EFA, luận văn tiến hành đánh giá và loại bỏ 2 biến là DU_05 và
PT_04 không phù hợp trong nghiên cứu, còn lại 32 biến quan sát để đo lường các
thành phần của chất lượng dịch vụ tín dụng. Cụ thể:
1) Thành phần Tin cậy: 5 biến từ TC_01 đến TC_05
(2) Thành phần Đáp ứng: 5 biến DU_01, DU_02, DU_03, DU_04, DU_06.
(3) Thành phần Năng lực phục vụ: 7 biến từ NL_01 đến NL_07.
(4) Đối với thành phần Đồng cảm: 6 biến từ DC_01 đến DC_06.
(5) Đối với thành phần Phương tiện hữu hình: 9 biến từ PT_01; PT_02;
PT_03; PT_05; PT_06; PT_07; PT_08; PT_09; PT_10
2.3.2.2. Đánh giá thang đo mức độ thỏa mãn khách hàng:
Tương tự thang đo chất lượng dịch vụ tín dụng, thang đo mức độ thỏa
mãn khách hàng cũng được đánh giá sơ bộ bằng phương pháp tính toán hệ số
6
tin cậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA với các tiêu
chuẩn chấp nhận giống như thang đo chất lượng dịch vụ tín dụng như trên.
Kết quả tính toán hệ số Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá

việc phục vụ khách hàng.
- Cơ sở vật chất của Ngân hàng tương đối hiện đại, địa điểm giao dịch
thuận tiện, được khách hàng đánh giá cao.
7
2.4.2. Những hạn chếkhuyết điểmtồn tại
- Ngân hàng chưa chủ động thiết lập mở rộng quan hệ đối với khách hàng.
- Chưa quan tâm đúng mức trong việc phân tích, đánh giá đặc điểm cũng như
xu hướng phát triển từng ngành cụ thể theo từng thời kỳ nhằm cung cấp cho cán bộ
nhiều thông tin khi thẩm định khách hàng.
- Quá trình xử lý cấp tín dụng tại Chi nhánh đôi khi chưa đáp ứng được nhu
cầu ngày càng tăng cao của các DNNVV.
- Chưa có quy trình, quy định riêng cho việc cấp tín dụng, thẩm định khách
hàng, kiểm tra giám sát khoản vay đối với khách hàng .
- Lãi suất cho vay, phí tín dụng của ngân hàng còn cao so với năng lực của
các DNNVV.
- Năm Hệ thống thông tin về khách hàng còn nhiều bất cập, chưa có hệ thống
số liệu, thông tin lưu giữ về các khách hàng vay vốn tại Chi nhánh
- Khả năng tư vấn, hỗ trợ khách hàng trong việc lập và thực hiện các phương
án, dự án đầu tư đem lại lợi nhuận thì chưa được khách hàng đánh giá cao.
2.4.3. Những nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động tín dụng đối với
DNNVV tại Chi nhánh BIDV Thành Đô
Những tồn tại, hạn chế trong cấp tín dụng đối với các DNNVV là xuất phát
từ nhiều nguyên nhân bao gồm cả nguyên nhân chủ quan cụ thể là:
a. Một số nguyên nhân từ môi trường kinh doanh: Môi trường kinh tế thiếu
ổn định và những diễn biến phức tạp của thị trường trong và ngoài nước
b. Từ phía Doanh nghiệp
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNVV thiếu kế hoạch, chiến lược
cụ thể, chưa tạo nên sự khác biệt và có tính cạnh tranh.
- Phần lớn các DNNVV thiếu tài sản để làm đảm bảo vay vốn ngân hàng
- Vốn đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp thấp.

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng đối với DNNVV tại
BIDV Thành Đô
Dựa trên những hạn chế còn tồn tại của chất lượng dịch vụ tín dụng đối với
DNNVV, xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan, luận văn đã đưa ra một số giải
pháp áp dụng tại Chi nhánh để nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng đối với
DNNVV:
3.2.1 Giải pháp về cơ sở vật chất và phát triển mạng lưới
- Nâng cấp cơ sở vật chất, văn phòng làm việc
9
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác hiện đại hoá ngân hàng
- Phát triển mạng lưới hoạt động
3.2.2 Giải pháp về năng lực cán bộ tín dụng
Năng lực cán bộ tín dụng đóng vai trò quyết định trong việc định vị hình ảnh,
uy tín cũng như chất lượng dịch vụ tín dụng của Ngân hàng nên việc nâng cao năng
lực cán bộ tín dụng phải được ưu tiên. Để làm được việc này thì công tác tuyển
dụng và đào tạo của ngân hàng cần được quan tâm xem xét, đặc biệt là khả
năng đáp ứng và năng lực phục vụ của các nhân viên
Định kỳ hàng năm, ngân hàng cần tổ chức các buổi kiểm tra để đánh
giá và xếp loại nhân viên.
223.3 Một số kiến nghị
Bên cạnh những giải pháp mà Chi nhánh có thể chủ động trực tiếp triển
khai, luận văn có đưa ra kiến nghị đối với BIDV hội sở chính, Chính phủ, các cơ
quan chức năng nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho việc mở rộng cho vay doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
Đối với BIDV hội sở chính đó là tiếp tục hoàn thiện quy trình cấp tín dụng
đối với DNNVV theo hướng đơn giản hóa, xây dựng hệ thống định hạng tín dụng
cho DNNVV. Các chính sách khách hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa cần
được sửa đổi bổ sung theo hướng phù hợp với đặc điểm hiện tại của doanh nghiệp
nhỏ và vừa.
Các Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và Ngân hàng Nhà nước Việt

tiễn về hoạt động tín dụng của một số chi nhánh NHTM.
Thứ hai, đã phân tích đánh giá được chất lượng dịch vụ tín dụng đối
với DNNVV tại BIDV Thành Đô, từ đó đưa ra những kết quả đạt được,
những điểm còn tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. Những bài học kinh nghiệm
trong hoạt động cấp tín dụng đối với DNNVV tại BIDV Thành Đô.
Thứ ba, trên cơ sở những lý luận và thực tiễn chất lượng dịch vụ tín dụng đối
với DNNVV tại BIDV Thành Đô cũng như định hướng hoạt động tín dụng
trong thời gian tới, tác giả đã đưa ra những giải pháp chủ yếu cho BIDV
11
Thành Đô để nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng đối với DNNVV; những
kiến nghị, đề xuất với Chính phủ, các bộ ngành quản lý, nhằm khắc phục
những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại, giúp DN tiếp cận với vốn vay ngân
hàng thuận tiện hơn cũng như giúp ngân hàng có đủ cơ sở để phát triển cấp tín
dụng cũng như nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ tín dụng với đối tượng
khách hàng này.

1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng một vai trò quan trọng đối với phát triển
kinh tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện. Theo số liệu thống kê của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư tính đến hết năm 2012, cả nước ta có 312.642 DNNVV,
chiếm 97% số doanh nghiệp trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp (DN) này có
vốn đạt gần 2 triệu tỷ đồng và giải quyết công ăn việc làm cho hầu hết lao
động. Xác định vai trò quan trọng của DNNVV đối với phát triển kinh tế
nước ta, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách, giải pháp quan trọng
nhằm phát huy tối đa hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng
của loại hình kinh tế này. Tuy nhiên các DNNVV vẫn chưa thể phát triển
đúng với tiềm năng. Một trong những cản trở quan trọng đó chính là việc khó
khăn trong tiếp cận nguồn vốn, dịch vụ tín dụng của các NHTM mà nguyên
nhân chủ yếu là do các dịch vụ tín dụng của NHTM hiện nay chưa phù hợp
với điều kiện và hoàn cảnh thực tế của DNNVV, chính vì vậy các DNNVV

triển.
Bên cạnh đó, cho tới nay tại BIDV Thành Đô chưa có đề tài nghiên cứu
khoa học nào đề cập đến nâng cao chất dịch vụ tín dụng cho đối tượng khách
hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài: "Nâng cao chất
lượng dịch vụ tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thành Đô" để nghiên cứu có ý nghĩa cả
về mặt lý luận và thực tiễn. Góp phần đưa ra cái nhìn tổng quan về chất lượng
dịch vụ tín dụng đối với khách hàng DNNVV và đưa ra một số giải pháp
tham khảo cho Ban lãnh đạo ngân hàng có những định hướng nâng cao chất
lượng dịch vụ tín dụng cho đối tượng khách hàng này.
2. Mục tiêu của nghiên cứu
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về đánh giá chất lượng dịch vụ tín
dụng đối với DNNVV của Ngân hàng Thương mại làm cơ sở lý luận để phân
tích thực trạng Chất lượng dịch vụ tín dụng hiện nay
- Phân tích và đánh giá thực trạng Chất lượng tín dụng đối với DNNVV
tại BIDV Thành Đô, để tìm ra những ưu điểm và hạn chế;
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm Nâng cao chất lượng dịch vụ
tín dụng đối với DNNVV tại BIDV Thành Đô.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng dịch vụ tín dụng đối với DNNVV
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng đối với
DNNVV tại BIDV Thành Đô
+ Về Thời gian: Giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
nghiên cứu- Tiếp cận từ mức độ thỏa mãn của các đối tượng khách hàng nhỏ
và vừa để đánh giá chất lượng dịch vụ tín dụng của Ngân hàng thương
mạiphương pháp
- Phương pháp cụ thể:
+ Phương pháp điều tra Luận văn sử dụng Bảng hỏi (Phụ lục 02) để đánh giá

trình kỹ thuật rất phong phú, phức tạp đòi hỏi nhà quản trị ngân hàng phải
nắm vững nghiệp vụ này để làm tốt công tác quản trị và kế toán.
- Đặc điểm tín dụng ngân hàng:
+ Tín dụng là có lòng tin: Bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng la-
tinh “creditum” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”. Nghiên cứu
khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời
gian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của người
cho vay vào người đi vay. Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu
trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là
điều liện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh.
Trong quan hệ tín dụng “lòng tin” được biểu hiện từ nhiều phía, không
chỉ có lòng tin từ một phía của người cho vay đối với người đi vay. Nếu người
cho vay không tin tưởng vào khả năng hoàn trả của người đi vay thì quan hệ
tín dụng có thể không phát sinh và ngược lại, nếu người đi vay cảm nhận thấy
người cho vay không thể đáp ứng được yêu cầu về khối lượng tín dụng, về
thời hạn vay,…thì quan hệ tín dụng cũng có thể không phát sinh. Tuy nhiên,
trong quan hệ tín dụng lòng tin của người cho vay đối với người đi vay quan
trong hơn nhiều bởi lẽ người cho vay là người giao phó tiền bạc hoặc tài sản
của họ cho người khác sử dụng.
+ Tín dụng là có tính thời hạn: Khác với các quan hệ mua bán thông
thường khác (sau khi trả tiền người mua trở thành chủ sở hữu của vật mua hay
còn gọi là “mua đứt bán đoạn”), quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng
giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay. Người cho vay
giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng
trong một thời gian nhất định. Sau khi khai thác giá trị sử dụng của khoản vay
trong thời hạn cam kết, người đi vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay
cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo như cam kết đã giao ước với người
cho vay.
Mọi khoản vay dưới dạng hiện vật hay tiền tệ cũng đều là hàng hoá và
vì thế nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Trong kinh doanh tín dụng người

dụng. Muốn vậy, doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin
để định lượng hoạt động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả. Điều đó
làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án, phương án.
Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâu
giám sát sử dụng vốn vay. Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc
doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những
thay đổi của thị trường, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.
+ Thứ hai: Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên
tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ
chế phân phối vốn một cách có hiệu quả.
Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng
giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh
doanh trước đó. Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có
lúc thiếu vốn. Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn
tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách… được ngân hàng thương mại
huy động và sử dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp đang tạm thời thiếu
vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũng
như cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi chưa có nguồn thu.
Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát Ngân hàng thương mại sẽ chỉ cho
vay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn. Điều này tạo nên
một cơ chế phân phối vốn hiệu quả.
+ Thứ ba: Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế
vàcác chính sách tiền tệ.
Một trong những đặc điểm quan trọng của ngân hàng thương mại là khả
năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi nhà nước muốn
tăng khối lượng tiền cung ứng thì Ngân hàng nhà nước có thể tăng hạn mức
tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế và ngược lại. Do
vậy thông qua hình thức tín dụng ngân hàng nhà nước có thể kiểm soát được
khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông.

nhỏ, nhỏ và vừa.
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát
triển DNNVV, thay thế cho Nghị định số 90/2001/NÐ-CP, khái niệm
DNNVV được định nghĩa lại như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở
kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành
ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn
tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh
nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên);
Cụ thể như sau: (Quy mô doanh nghiệp theo ngành).
Quy mô
Khu vực
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao
động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
I. Nông, lâm
nghiệp và thủy
sản
10 người

trở xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
từ trên 10
tỷ đồng đến
từ trên 50
người đến
50 người 50 tỷ đồng 100 người
(Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP)
- Đặc điểm và vai trò của DNNVV trong nền kinh tếViệt Nam
+ Đặc điểm của DNNVV
Thứ nhất là quy mô vốn nhỏ, số lượng lao động ít: Từ khái niệm và các
tiêu thức phân loại DNNVV, có thể thấy đặc điểm nổi bật của đối tượng DN
này là quy mô vốn nhỏ, cấu trúc doanh nghiệp đơn giản, số lượng lao động ít
(điều này càng dễ nhận thấy ở Việt Nam khi các DNNVV thường có quy mô
nhỏ hơn các doanh nghiệp cùng loại của các nước trong khu vực). Bên cạnh
đó, nguồn lực con người của các DNNVV không những ít về số lượng mà còn
thấp cả về chất lượng, trình độ chuyên môn hóa chưa cao. Điều này xuất phát
một phần do quy mô vốn của DNNVV còn eo hẹp. Để tiết kiệm chi phí, một
người lao động có thể tham gia vào nhiều khâu trong quá trình sản xuất, đảm
nhận cùng lúc vị trí quản lý và lao động trực tiếp, thêm vào đó họ cũng có ít
điều kiện được học tập, đào tạo nâng cao tay nghề.
Thứ hai là bộ máy tổ chức sản xuất và quản lý gọn nhẹ: Với quy mô
nhỏ cùng số lượng lao động ít, các DNNVV thường chọn cho mình một mô
hình tổ chức sản xuất và quản lý tương đối gọn nhẹ, đủ đáp ứng các yêu cầu
về quản trị điều hành và đảm bảo hoạt động kinh doanh. Mô hình tổ chức này
không những giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả sản xuất kinh
doanh mà còn giúp cho doanh nghiệp chuyển hướng kinh doanh dễ dàng mau

trưởng của doanh nghiệp. Khi mới đi vào hoạt động, phần lớn các doanh
nghiệp thường gặp khó khăn về vốn. Tuy nhiên, các nhà đầu tư, các tổ chức
tài chính thường e ngại tài trợ cho đối tượng này bởi các doanh nghiệp mới
thành lập có uy tín chưa cao, chưa tạo lập được khả năng trả nợ và chưa đáp
ứng được các yêu cầu khi vay vốn, đặc biệt là các yêu cầu về tài sản bảo đảm.
Bên cạnh đó, do quy trình quản lý tại các DNNVV tương đối lỏng lẻo nên vốn
của doanh nghiệp đa phần không tách biệt với vốn của chủ doanh nghiệp,
tình trạng sử dụng vốn cho mục đích cá nhân và mang tính chất tự phát diễn
ra tràn lan cũng là một trong những yếu tố khiến cho tình hình tài chính của
nhiều doanh nghiệp mất cân đối
Thứ sáu là ít có điều kiện đầu tư đổi mới công nghệ cao; Xuất phát từ
hạn chế về tiềm lực tài chính nên việc đầu tư đổi mới máy móc có hàm lượng
công nghệ giá trị cao, hiện đại, tiên tiến đối với các DNNVV hết sức khó
khăn. Hầu hết các DNNVV có trình độ kỹ thuật, công nghệ thấp, máy móc
thiết bị không đồng bộ, pha tạp do nhiều nước sản xuất, hạ tầng cơ sở phục vụ
sản xuất kinh doanh cũng còn nhiều hạn chế.
Với những đặc điểm như trên, DNNVV rất cần được quan tâm, hỗ
trợ để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
DNNVV phát triển lành mạnh sẽ thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, tăng thu thập
tạo việc làm nông thôn, góp phần ổn định xã hội
+ Vai trò của các DNNVV trong nền kinh tế quốc dân
Thứ nhất, DNNVV góp phần quan trọng trong giá trị GDP và thu ngân
sách nhà nước, tăng kim ngạch xuất khẩu đặc biệt là đối với các nước đang
phát triển. Một đặc điểm rõ nét là tốc độ tăng trưởng kinh tế của DNNVV
luôn gắn với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Không chỉ đóng góp
lớn vào GDP, DNNVV còn góp phần quan trọng vào nguồn thu cho ngân
sách nhà nước, góp phần giải quyết nhiều vấn đề KT-XH đặt ra.
Năng lực của DNNVV ngày càng phát triển sẽ làm cho số lượng hàng
hóa thay thế nhập khẩu tăng dần. Bên cạnh đó, DNNVV còn tham gia nhiều
công đoạn trong quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Ví dụ như một số

Thứ tư, DNNVV là cánh tay đắc lực hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn.
Việc bao quát toàn bộ thị trường đối với các doanh nghiệp lớn là điều không
thể. Với đặc trưng nhỏ lẻ và năng động, các DNNVV tập trung vào các thị
trường ngách, hỗ trợ đáng kể cho các doanh nghiệp lớn trong tiếp cận thị
trường, cân đối cung cầu trong xã hội. DNNVV tạo nên ngành công nghiệp
phụ trợ quan trọng bằng việc chuyên môn hóa sản xuất một vài chi tiết dùng
để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. DNNVV vừa tham gia thực hiện
hợp đồng gia công, hình thành nên mối quan hệ phân công chuyên môn hóa,
làm tăng năng suất lao động và tính đồng bộ và hiện đại hóa trong sản xuất,
vừa tham gia giữ vai trò là kênh phân phối hàng hóa hiệu quả cho doanh
nghiệp lớn. Vì vậy nếu các doanh nghiệp lớn biết sử dụng, liên kết một cách
hiệu quả với các DNNVV thì tổng chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí lưu
thông hàng hóa của các doanh nghiệp lớn nói riêng và của cả nền kinh tế nói
chung sẽ được giảm đi đáng kể .
Thứ năm, DNNVV góp phần mạnh mẽ trong việc thúc đẩy sức cạnh
tranh giữa các thành phần kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực,
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, xây dựng quan hệ sản xuất mới đáp
ứng tốt hơn các yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, làm cho nền
kinh tế trở nên năng động hơn.
Không những thể hiện vai trò của mình trong giai đoạn chuyển đổi nền
kinh tế mà trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, DNNVV vẫn tiếp
tục phát huy vài trò thúc đẩy môi trường cạnh tranh năng động hơn. Thông
qua quá trình cạnh tranh giữa các DNNVV, các DNNN lớn cũng phải chịu
sức ép nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, nhờ đó tính mềm
dẻo, linh hoạt của thị trường tăng lên. Như vậy, sự ra đời của DNNVV không
những thúc đẩy cạnh tranh trong nước phát triển mà còn thúc đẩy cạnh tranh
hội nhập, tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế có thể khai
thác tiềm năng của đất nước, đồng thời mở rộng cạnh tranh thương mại đối
với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thứ sáu, DNNVV góp phần tạo lập sự được sự cân đối và phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status