ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TỈNH BẮC NINH ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
BCH TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỐNG KÊ
Bắc Ninh, ngày 29 tháng 9 năm 2016
***
TÊN ĐỀ TÀI:
GIẢNG DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG ANH THEO PHƯƠNG PHÁP LẤY NGƯỜI
HỌC LÀM TRUNG TÂM THÔNG QUA CÁC TRÒ CHƠI NGÔN NGỮ
Họ và tên tác giả: Đỗ Thị Hương Ngọc
Chức vụ: Giảng viên
Đơn vị công tác: Khoa Ngoại Ngữ - Trường Cao đẳng Thống Kê
Điện thoại: 0982.113.432
BỐ CỤC ĐỀ TÀI:
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN II: NỘI DUNG
1. Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
1.1. Các phương pháp giảng dạy tiếng Anh
1.2. Các quan điểm về dạy và học ngữ pháp tiếng Anh
1.3. Nguyên tắc dạy và học ngữ pháp
1.4. Quy trình dạy và học ngữ pháp
2. Thực trạng học tập môn tiếng Anh tại trường Cao đẳng Thống kê
3. Giải pháp
PHẦN III: Kết quả đạt được, bài học kinh nghiệm và đề xuất
nhằm phát huy tính tích cực của sinh viên. Trong đó tôi thấy việc sử dụng các trò
chơi ngôn ngữ rất hiệu quả đối với việc giảng dạy ngữ pháp. Sinh viên không chỉ
đơn thuần học được cấu trúc ngữ pháp mà còn thực hành giao tiếp được thông qua
cấu trúc ngữ pháp ấy.
Từ những lý do trên tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Giảng dạy ngữ pháp
tiếng Anh thông qua các trò chơi ngôn ngữ”
Với đề tài này tôi mong muốn đóng góp một số kinh nghiệm của mình vào
việc tạo hứng thú cho sinh viên khi học môn ngữ pháp và giúp các em thực hành
giao tiếp có hiệu quả trong hoàn cảnh thực tế.
2. Mục đích nghiên cứu
Việc thực hiện đề tài trên nhằm đạt các mục đích sau:
- Tạo hứng thú cho sinh viên, hạn chế sự căng thẳng trong giờ học
- Tạo cơ hội cho người học có điều kiện hình thành khả năng chủ động giao
tiếp, bớt rụt rè khi giao tiếp bằng tiếng Anh, củng cố lại kiến thức mọt cách thường
xuyên và ứng dụng có hiệu quả khi giao tiếp trong các tình huống thực tế
- Trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp để nâng cao chất lượng giảng
dạy và nghiệp vụ công tác của bản thân
3. Đối tượng nghiên cứu
“Phương pháp sử dụng trò chơi ngôn ngữ” trong dạy ngữ pháp tiếng Anh cho
sinh viên trường Cao đẳng Thống kê.
4. Phạm vi nghiên cứu
Vì thời gian có hạn nên tôi chỉ khái quát sơ bộ về các phương pháp giảng dạy
tiếng Anh và giới thiêu một số trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy ngữ pháp tiếng
Anh áp dụng tại trường Cao đẳng Thống kê.
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.1. Nghiên cứu cơ sơ lý luận của phương pháp dạy học truyền thống và
hiện đại đặc biệt là phương pháp dạy học tích cực lấy người học là trung tâm.
4.1.2. Nghiên cứu thực trạng học tập môn tiếng Anh tại trường cao đẳng
nếu có phải sửa ngay.
Phương pháp này có các ưu điểm:
- Học sinh được rèn luyện rất kỹ về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá
lớn.
- Học sinh nắm được tương đối nhiều các cấu trúc cơ bản, thuộc lòng các
đoạn văn hay các bài khóa mẫu.
- Học sinh có thể đọc hiểu nhanh các văn bản.
Tuy nhiên phương pháp này cũng có nhiều hạn chế:
- Không giúp học sinh “giao tiếp” được. Hoat động chủ yếu trong lớp là
người thầy, nghĩa là người thầy giảng giải, nói nhiều còn học sinh thì thụ động ngồi
nghe và ghi chép, không có ý kiến phản hồi hoặc không tham gia giao tiếp (nói) với
thầy và bạn bè
- Hoạt động dạy hoc chỉ diễn ra một chiều, học sinh hoàn toàn bị động,
không có cơ hội thực hành giao tiếp trong lớp, khả năng sáng tạo đặc biệt là kỹ
năng nói của học sinh bị hạn chế nhiều.
b. Phương pháp Nghe - Nói:
Phương pháp này nhấn mạnh đến vai trò luyện tập thành thục các mẫu câú
trúc có sẵn, nhấn mạnh vào việc dạy kỹ năng nói và nghe trước kỹ năng đọc và
viết. Khác với phương pháp ngữ pháp - dịch, phương pháp này đáp ứng đúng mục
tiêu cần đạt được của người học là hình thành và phát triển cả 4 kỹ năng, nhưng ưu
tiên phát triễn kỹ năng nói, nghe trước đọc và viết. Việc cung cấp kiến thức ngôn
ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) được thực hiện xen lồng trong quá trình dạy học.
Phương pháp.
Nghe - Nói không cho phép việc dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp, khuyến khích
tối đa việc dùng tiếng Anh trong quá trình dạy học. Khi thực hiện, người ta nhấn
mạnh việc phát triển 2 kỹ năng nghe và nói là chủ yếu. Việc dạy học thông qua
thực hành cấu trúc câu và qua các bài tập ứng dụng, người học tự phát hiện và tìm
hiểu những điểm giống nhau (so với tiếng mẹ đẻ) về cấu trúc câu, cách phát ngôn
ngày. Ngoài ra phương pháp giao tiếp còn chú ý đến phương diện nghĩa của ngôn
ngữ, hay nói một cách khác cần lưu ý tới ý định giao tiếp. Khái niệm này về sau các
nhà ngôn ngữ gọi là chức năng ngôn ngữ. Như vậy, theo phương pháp giao tiếp
ngôn ngữ không chỉ là phương tiện diễn đạt tư duy mà còn là phương tiện giao tiếp.
Mục đích cuối cùng của người học ngoại ngữ không chỉ là tiếp thu và nắm chắc
kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) mà cần đạt được năng lực (khả
năng) giao tiếp, tức là phát triển được tất cả 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc,
viết) và sử dụng được ngôn ngữ để giao tiếp. Vì vậy, các tài liệu dạy học hiện đều
hướng đến giúp người học có thể thực hiện được các chức năng ngôn ngữ khác
nhau, chẳng hạn như xin phép, đề nghị, yêu cầu ai đó làm việc gì, mô tả sự vật, bày
tỏ sự quan tâm, thích thú hoặc không thích... Hơn nữa, để giao tiếp hiệu quả, người
học cần phải sử dụng các hình thức ngôn ngữ thích hợp với tình huống giao tiếp
trong đó yêu cầu người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp thông
qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau.
Với phương pháp này, trong giờ dạy giáo viên thực hiện theo 5 bước:
+ Giới thiệu ngữ liệu (presentation)
+ Thực hành bài tập (Exercises)
+ Hoạt động giao tiếp (Communicative activities)
+ Đánh giá (Evaluation)
+ Củng cố (Consolidation)
Về ưu điểm, phương pháp giao tiếp có ưu điểm hơn hẳn các phương pháp
khác là nó bao trùm mọi phương diện của quá trình dạy học ngoại ngữ: đó là các
yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, các yếu tố ngoài ngôn ngữ... nhằm rèn luyện kỹ
năng giao tiếp hoàn chỉnh. Đặc biệt phương pháp giao tiếp coi hình thành và phát
triển bốn kỹ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc, viết là mục đích cuối cùng của quá
trình dạy học. Các kiến thức về ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp là
phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp. Vì vậy
phương pháp giao tiếp thực sự giúp cho học sinh có khả năng sử dụng được tiếng
Anh để giao tiếp.
Về hạn chế, phương pháp giao tiếp nhấn mạnh vào việc hình thành và phát
1.2. Các quan điểm về dạy và học ngữ pháp tiếng Anh
a. Quan điểm thứ nhất: coi ngôn ngữ là một hệ thống các quy tắc ngữ pháp
và từ vựng.
Muốn làm chủ một ngôn ngữ người học phải nắm được hệ thống câc quy tắc
ngữ pháp và từ vựng của ngôn ngữ ấy.Đai diện cho quan điểm này là đường hướng
“ngữ pháp - dịch”. Đường hướng này cho rằng việc dạy ngữ pháp tập trung vào các
quy tắc ngữ pháp ở cấp độ câu và giới hạn ở việc dạy cấu trúc và dạng biến đổi từ.
Hình thức luyện tập chủ yếu là làm bài tập ngữ pháp và dịch các câu riêng lẻ sang
tiếng mẹ đẻ. Ngữ cảnh sử dụng ngữ pháp không được đề cập đến trong quá trình
dạy học. Giảng viên dành nhiều thời gian trên lớp thuyết trình hoặc giải thích các
hiện tượng ngôn ngữ. Sinh viên lắng nghe, ghi chép, ghi nhớ và trả lời các câu hỏi
của giáo viên. Đại diện cho quan điểm này là phương pháp dịch truyền thống,
những năm gần đây người ta nhận ra rằng đây không phải là cách tối ưu nhất trong
việc dạy và học ngữ pháp tiếng Anh, thậm chí nay còn bị coi là lạc hậu bởi giáo
viên không phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập của
sinh viên thông qua các hoạt động tương tác trong giao tiếp, sinh viên khá thụ
động, không biết ứng dụng tốt vào thực tế. Chủ yếu sinh viên ghi nhớ các công
thức một cách máy móc mà không hề suy nghĩ về nó một cách sâu sắc hơn, việc
học thuộc lòng lý thuyết đơn thuần, sẽ khiến sinh viên dễ quên, không phát triển
được tư duy và hệ thống hóa các điểm ngữ pháp và ít có cơ hội luyện tập để hình
thành và phát triển kỹ năng ngôn ngữ.
b. Quan điểm thứ hai cho rằng ngữ pháp sẽ được tiếp thu tự nhiên thông qua
việc tiếp xúc với ngôn ngữ
Nói khác đi, việc dạy ngữ pháp chỉ có hiệu quả khi sinh viên tự khái quát các
quy tắc ngữ pháp thông qua thực hành. Đại diện cho quan điểm này là “ phương
pháp trực tiếp”. Những giáo viên theo “ phương pháp trực tiếp” thường bỏ qua việc
phân tích các quy tắc ngữ pháp mà yêu cầu người học sử dụng ngôn ngữ cho mục
đích giao tiếp với hi vọng người học sẽ rút ra được các quy tắc chi phối ngôn ngữ
ho ̣a có thể đươ ̣c lấ y từ chính bài tâ ̣p mà sinh viên vừa làm để giúp ho ̣ tìm hiể u và tự
khám phá ra qui tắ c ngữ pháp và hiể u đươ ̣c sự áp du ̣ng trong thực tế của lí thuyế t
vừa ho ̣c. Sử du ̣ng phương pháp này thường mấ t nhiề u thời gian hơn, nhưng
thường đa ̣t hiêụ quả cao nhấ t nế u như giảng viên muố n sinh viên :
- Tự ho ̣c cách tìm ra chủ đề chính hay các nguyên tắ c của bài ho ̣c.
- Biế t cách ứng du ̣ng các khái niê ̣m để giải quyế t các vấ n đề mà sinh viên
chưa từng gă ̣p phải trước đó.
- Biế t khi nào sử du ̣ng như thế nào những cấ u trúc đã đươ ̣c ho ̣c.
- Biế t cách luôn luôn đă ̣t câu hỏi và tư duy về những gì mình chưa biế t.
- Hiể u ra bản chấ t của vấ n đề .
Phương pháp diễn dich
̣ là phương pháp “da ̣y từ trên xuố ng”. Đây là
phương pháp da ̣y đúng theo chuẩ n mà trong đó giảng viên đưa ra các qui tắ c, lí
thuyế t ngữ pháp và giải thích cho sinh viên trước khi ho ̣ làm bài tâ ̣p ứng du ̣ng.Giáo
viên giới thiêụ cấ u trúc ngữ pháp kèm các bài tâ ̣p giúp người ho ̣c nắ m vững cấ u
trúc ngữ pháp đó. Với phương pháp Diễn dich,
̣ viê ̣c da ̣y ngữ pháp đa ̣t hiê ̣u quả cao
nhấ t khi giảng viên muố n sinh viên hiể u bài mô ̣t cách nhanh và chiń h xác, thường
là bài tâ ̣p trên lớp hoă ̣c trong sách.
Phương pháp diễn dich
̣ không yêu cầ u sự đô ̣ng naõ nhiề u, do đó ít thách thức
đố i với người ho ̣c trong khi phương pháp qui na ̣p yêu cầ u người ho ̣c phải tự tìm tòi
và suy nghi ̃ do đó giúp quá trình ho ̣c hiêụ quả hơn, cấ u trúc ngữ pháp đươ ̣c nghi
nhớ lâu hơn tuy mấ t nhiề u thời gian hơn.
Hai phương pháp trên có thể đươ ̣c minh ho ̣a đố i chiế u như sau:
PP Qui na ̣p
Ví du ̣ cu ̣ thể >>>> Qui tắ c NP
PP Diễn dich
̣
Để khắ c phu ̣c đươ ̣c nhươ ̣c điể m trên, giảng viên cầ n da ̣y cấ u trúc ngữ pháp
trong giao tiế p thực tế , qua đó làm rõ mố i quan hê ̣ giữa cấ u trúc ngữ pháp với chức
năng giao tiế p. Cu ̣ thể trong trường hơ ̣p trên, giảng viên có thể giải thích ta ̣i sao thể
bi ̣ đô ̣ng đươ ̣c sử du ̣ng thay thể chủ đô ̣ng trong giao tiế p để nhấ n ma ̣nh tới hành
đô ̣ng hơn là chủ thể hành đô ̣ng… Tóm la ̣i, khi đưa ra mô ̣t hiêṇ tươ ̣ng ngữ pháp
mới, giảng viên có thể hiǹ h dung ra hoàn cảnh áp du ̣ng của hiêṇ tươ ̣ng ngữ pháp
đó. Ngữ cảnh minh ho ̣a càng cu ̣ thể và dễ hiể u thì sinh viên càng dễ tiế p thu bài ho ̣c
mới, các em cảm thấ y hào hứng và ghi nhớ hơn. Cũng có thể giảng viên để sinh
viên tự phát hiê ̣n và nhâ ̣n ra hiêṇ tươ ̣ng ngữ pháp mới trong ví du ̣ mà giảng viên
đưa ra. Giang viên nên đưa ra ngữ cảnh bằ ng tiế ng Anh để sinh viên quen dầ n với
ngoa ̣i ngữ ho ̣ đang ho ̣c. Giang viên cũng cầ n nhớ đừng lướt qua bài ho ̣c mới quá
nhanh để chắ c chắ n rằ ng sinh viên có đủ thời gian để “ngấ m” những kiế n thức mới
ho ̣c. Viê ̣c nhắ c đi nhắ c la ̣i mô ̣t kiế n thức mới không bao giờ là thừa bởi viê ̣c nhắ c
la ̣i thông qua luyê ̣n tâ ̣p sẽ giúp sinh viên ghi nhớ dễ dàng hơn.
c. Phát triển khả năng sử dụng ngữ pháp trong giao tiế p hơn là có kiế n thức
về ngữ pháp
Ta thường gă ̣p các trường hơ ̣p sinh viên có thể làm đúng các bài tâ ̣p ngữ
pháp hoă ̣c giải thích rõ ràng về các qui tắ c ngữ pháp nhưng la ̣i mắ c lỗi trong khi sử
du ̣ng chiń h những qui tắ c ngữ pháp đó trong khi giao tiế p.
Viê ̣c hiể u và nắ m vững các qui tắ c ngữ pháp là cầ n thiế t xong đó chưa phải
là điề u kiê ̣n duy nhấ t trong da ̣y và ho ̣c tiế ng Anh. Trên cơ sỏ hiể u về các cấ u trúc
ngữ pháp, sinh viên cầ n sủ du ̣ng chúng trong nghe, nói, đo ̣c, viế t bằ ng tiế ng Anh.
Đây chính là nguyên tắ c ho ̣c thông qua sử du ̣ng hay: “Learning by doing”.
Để quán triêṭ điề u này, giảng viên phải là người luôn đô ̣ng viên sinh viên giơ
tay phát biể u trong giờ ho ̣c tiế ng Anh chứ không chỉ đơn thuầ n ngồ i nghe giảng
viên nói. Haỹ để cho sinh viên đủ thời gian để có thể truyề n tải những gì ho ̣ muố n
nói bằ ng tiế ng Anh và giảng viên luôn sẵn sàng lắ ng nghe để giúp từng sinh viên
nói đươ ̣c nhưng câu nói bằng tiế ng Anh theo cách hữu hiêụ nhấ t.
hình ảnh khá thú vị nhưng không phải lúc nào ta cũng có thể làm được, đặc biệt
trong những trường hợp cấu trúc hay vấn đề ngữ pháp khó và phức tạp cũng như
khi giảng viên không có thời gian tìm kiế m hình ảnh thích hơ ̣p. Trong những
trường hợp như thế này thì việc giới thiệu vấn đề hay cấu trúc ngữ pháp trong một
tình huống thực tế cụ thể sẽ là cách giúp sinh viên tiếp cận vấn đề tốt và nhanh hơn.
Ngoài ra, cách giới thiệu này cũng rất có ích trong quá trình thực hành sau này bởi
sinh viên đã biết cách sử dụng cấu trúc ngữ pháp trong tình huống cụ thể ngoài đời.
Đây là phương pháp giảng dạy ngữ pháp phổ biến nhất từ trước đến nay ở Việt
Nam vì các giáo viên luôn đưa ra các câu ví dụ điển hình rồi mới phân tích cấu trúc
ngữ pháp có trong các câu ví dụ đó.
Đố i với mô ̣t số vấ n đề ngữ pháp, viê ̣c sử du ̣ng hình ảnh là mô ̣t sự lựa cho ̣n
hay giúp giảng viên đưa ra cấ u trúc mô ̣t cách sinh đô ̣ng, trực tiế p và rõ ràng.
Ví du ̣, khi giới thiêụ cấ u trúc: “Too + adjective + to do something”
Giang viên có thể với tay lên trầ n nhà và hỏi sinh viên: “Can I touch it?”
Sinh viên sẽ trả lời: “No, you can’t”.
Sau đó giảng viên có thể dễ dàng đưa ra cấ u trúc bằ ng cách nói:
“You’re right. I can’t do it because it’s too high to touch”
Khi giới thiêụ mô ̣t vấ n đề ngữ pháp mới, giảng viên không nên dùng những
từ phức ta ̣p hoă ̣c sinh viên chưa biế t để giải thích bài giảng mà nên đưa ra ví du ̣
đơn giản để làm cho vấ n đề ngữ pháp trở nên dễ hiể u hơn đồ ng thời sinh viên cũng
có thể tâ ̣p trung vào bản thân cấ u trúc ngữ pháp đó. Điề u quan tro ̣ng nhấ t là giảng
viên phải biế t cách đơn giản hóa ngôn ngữ cũng như từ vựng khi giải thích mô ̣t cấ u
trúc ngữ pháp. Hơn nữa, bấ t cứ khi nào mô ̣t vấ n đề mới đươ ̣c giới thiêụ thì giảng
viên cũng nên nhắ c la ̣i những vấ n đề liên quan mà sinh viên đã đươ ̣c ho ̣c trước đây
để kiế n thức của sinh viên có thể dầ n dầ n đươ ̣c nâng lên thông qua biêṇ pháp ôn tâ ̣p
cuố n chiế u này. Nô ̣i dung bài ho ̣c cầ n đươ ̣c giảng viên in sẵn rồ i phát cho sinh viên
hoă ̣c ghi lên bảng và yêu cầ u sinh viên chép vào vở ghi. Các mẫu câu và cấ u trúc
cầ n đươ ̣c ghi chính xác, rõ ràng và cầ n đươ ̣c đóng khung hoă ̣c đánh dấ u để dễ tra
cứu. Mỗi câu cũng cầ n đươ ̣c ghi chú mô ̣t cách ngắ n go ̣n ( gồ m đinh
Nế u trong giai đoa ̣n luyê ̣n tâ ̣p, sinh viên tâ ̣p trung chú ý vào hình thức và
cách sử du ̣ng của cấ u trúc thì trong giai đoa ̣n vâ ̣n du ̣ng, sinh viên thực hành sử
du ̣ng cấ u trúc ngữ pháp đáp ứng các mu ̣c tiêu giao tiế p thực tế . Trong cuô ̣c số ng,
chúng ta sử du ̣ng ngôn ngữ để truyề n đa ̣t và trao đổ i thông tin với người khác qua
khẩ u ngữ hay bút ngữ. Do đó viê ̣c da ̣y ngữ pháp không chỉ đơn thuầ n là giới thiêụ
và luyê ̣n cấ u trúc ngôn ngữ mà còn phải giúp người ho ̣c tham gia giao tiế p, trao đổ i
thông tin và vâ ̣n du ̣ng ngữ pháp trong các tình huố ng mô phỏng giao tiế p hàng
ngày. Chính điề u này la ̣i giúp sinh viên tăng hứng thú giao tiế p đồ ng thời hiể u và
sử du ̣ng đươ ̣c cấ u trúc đó ngoài mu ̣c đích đơn thuầ n.
Sinh viên luôn thích thú khi đươ ̣c sắ m vai mô ̣t người khác. Hoa ̣t đô ̣ng đóng
vai ta ̣o cơ hô ̣i để cho sinh viên thực hành, vâ ̣n du ̣ng ngữ pháp có kiể m soát hay
tương đố i tự do. Các bài tâ ̣p sử du ̣ng các cấ u trúc ngữ pháp để truyề n đa ̣t và trao
đổ i thông tin trong các tình huố ng giả tưởng sẽ mang la ̣i hiêụ quả cao và gây hứng
thú ho ̣c tâ ̣p cho sinh viên. Chẳ ng ha ̣n vâ ̣n du ̣ng sử du ̣ng thời quá khứ sẽ thú vi ̣ hơn
khi sinh viên đươ ̣c yêu cầ u diễn vai hai người ba ̣n lâu năm mới gă ̣p la ̣i nhau và ôn
la ̣i những kỉ niê ̣m hay viê ̣c làm trong quá khứ: hay sinh viên diễn vai chỉ đường cho
mô ̣t khách du lich
̣ khi các em đươ ̣c ho ̣c về các giới từ chỉ phương hướng.
Ngoài ra các hoa ̣t đô ̣ng, trò chơi có các tình huố ng vâ ̣n du ̣ng cấ u trúc ngữ
pháp đươ ̣c ho ̣c cũng là những hình thức đươ ̣c nhiề u giảng viên lựa cho ̣n. Tuy
nhiên, cầ n lưu ý rằ ng những hoa ̣t đô ̣ng luôn mấ t nhiề u thời gian và khó quản lí lớp.
2. Thực trạng học tập môn tiếng Anh tại trường Cao đẳng Thống kê
Nhìn chung các em học sinh sinh viên trường Cao đẳng Thống kê chưa thực
sự hứng thú với việc học môn tiếng Anh. Nhiều em chưa có mục đích, động cơ học
tập rõ ràng nên trong quá trình học còn rụt rè hoặc lơ là việc học thậm chí các em
coi môn tiếng Anh là một môn khó, khi tham gia các kỳ thi kết thúc học kỳ các em
đều rất sợ học môn tiếng Anh. Hầu hết các em đều có tâm lý học chỉ để đối phó, để
đủ điểm vượt qua các kỳ thi nên các em cảm thấy học tiếng Anh không thú vị và
Giáo viên chia học sinh thành 2 đội A và B. Học sinh ở 2 đội lần lượt chọn
số và đặt câu với 1 động từ ở thì quá khứ đơn.
1
7
2
8
1. Do 2. Have 3. Run
7. come 8. Lucky number
3
9
4
10
5
11
4. Take
5. Be
9. Eat
10. Sit 11. Ride
6
12
6. Sleep
12. Go
động viên tinh thần học tập của các em.
b. Trò chơi tiếp theo tôi cũng hay sử dụng đó là trò “sentence arranging”. Trò
chơi này được dùng để ôn lại 1 số cấu trúc ngữ pháp trong tiết học hoặc trong các
tiết ôn tập. Giáo viên chuẩn bị các tấm bìa giấy (có thể sử dụng bìa cứng hoặc tờ
lịch treo tường để làm) kích thước to hay nhỏ phụ thuộc vào nội dung cần kiểm tra.
Giáo viên chuẩn bị sẵn một số câu cần ôn tập và viết mỗi từ của các câu này lên 1
tấm bìa (tùy theo trình độ của học sinh mà giáo viên có thể chuẩn bị câu dài hay
ngắn, khó hay dễ). Chia lớp thành 2 nhóm A và B. Tùy theo số từ của mỗi câu để
giáo viên gọi số học sinh của mỗi nhóm lên trước lớp (ví dụ câu có 6 từ thì gọi 6
học sinh). Giáo viên xáo trộn các từ trong câu trước khi phát cho số học sinh được
gọi lên bảng mỗi em 1 từ. Trong khoảng thời gian nhất định (ví dụ 30 giây) những
học sinh này phải đưa từ của mình ra phía trước và tự sắp xếp trong đội để có 1 câu
hoàn chỉnh và đúng. Đội nào sắp xếp đúng và nhanh nhất được giáo viên cho 2
điểm. Giáo viên tổng kết đội nào nhiều điểm hơn sẽ thắng cuộc.
Với trò chơi này, học sinh sẽ ôn lại được mẫu cấu trúc câu vừa học một cách
hiệu quả. Thông qua các trò chơi học sinh sẽ học tích cực hơn, hứng thú hơn,
không khí trong lớp học sôi động hơn đồng thời phát huy tinh thần hoạt động nhóm
1 cách hiệu quả.
Thứ hai, tôi sử dụng trò chơi đóng vai trong tiết học ngữ pháp nhằm giúp các
em vận dụng kiến thức ngữ pháp thực hành giao tiếp trong các tình huống thực tế.
Trò chơi đóng vai thường được sử dụng để phát huy tinh thần hoạt động theo
cặp thông qua các đoạn hội thoại.
Mỗi cấu trúc ngữ pháp thường được dạy thông qua các mẩu hội thoại mà
trong đó các em học sinh sẽ được phân vai để thực hành hội thoại.
Tôi thường đọc qua các đoạn hội thoại lấy ví dụ trong hội thoại cho các em
để yêu cầu các em tìm ra cấu trúc ngữ pháp nào đó. Sau đó tôi đưa cấu trúc chính
xác cho các em viết vào vở. Tiếp theo tôi cho cả lớp đọc và nhắc lại hội thoại theo
tôi. Cuối cùng tôi sẽ yêu cầu các em tự phân vai thực hành hội thoại theo cặp. Tôi
What was there in your wallet?
What colour is your wallet?
Was it new or old?
The man
Yes, I lost my wallet yesterday afternoon. I
am trying to find it.Can you help me to find
it?
I lost it on the beach
There was some money, my passport and my
tickets in it.
It was brown
...................
Hoặc tình huống khác đưa ra là tưởng tượng em đã có gia đình và khi đi du
lịch trên bãi biển em đã để lạc mất con trai mình. Em đến cơ quan công an trình báo
để mong họ tìm giúp. Sử dụng thì quá khứ để viết đoạn hội thoại và thực hành hội
thoại trong đó miêu tả lại con trai mình và toàn bộ chi tiết sự việc. Làm việc theo
cặp phân vai thực hành hội thoại (một người đóng vai là cảnh sát, một người đóng
vai là người bị lạc mất con)
Tôi sẽ yêu cầu các em làm tương tự như tình huống trên nhưng các em phải
tự viết lời thoại, giáo viên không viết mẫu. Cuối cùng khi các em đã hoàn thành
xong bài của mình, tôi sẽ chữa và có thể đưa ra thêm những lời thoại gợi ý thêm
The policeman
May I help you?
Ok. Where did you lose him?
What happened?
Trò chơi giúp củng cố, ôn tập kiến thức một cách hiệu quả, lớp học trở nên
sôi động hơn, tiết học tiếng Anh bớt căng thẳng hơn.
Qua việc vận dụng một số trò chơi vào giảng dạy môn ngữ pháp, tôi thấy hầu
hết các em đều học tích cực và hứng thú hơn đồng thời các em cũng cơ bản giao
tiếp được thông qua 1 số tình huống thực tế đơn giản trong cuộc sống.
Tuy nhiên trong quá trình vận dụng tôi cũng rút ra được nhiều bài học kinh
nghiệm cho bản thân.
2. Bài học kinh nghiệm
Trong quá trình vận dụng một số trò chơi vào giảng dạy ngữ pháp, tôi thấy
có một số vấn đề còn tồn tại.
Thứ nhất, trò chơi giúp học sinh sôi động hơn trong giờ học nhưng đôi khi
thời gian của môn học không cho phép, các em vẫn phải học theo chương trình, học
nặng về lý thuyết nên không thể áp dụng trò chơi vào mọi tiết học được.
Thứ hai, trò chơi đóng vai chỉ thỉnh thoảng được sử dụng, chỉ có một vài tiết
tôi có sử dụng trò chơi đóng vai do thời gian còn hạn hẹp các em phải học theo
đúng chương trình. Trò chơi đóng vai nếu được vận dụng triệt để sẽ giúp các em
đạt hiệu quả cao trong giao tiếp. Tuy nhiên, vì thời gian của môn học không cho
phép và lớp học có sĩ số đông nên tôi chỉ áp dụng được một vài tiết và trong những
tiết học có sử dụng trò chơi đóng vai thường tôi chỉ đưa ra cho các em được một
tình huống để các em thực hành hoặc có sử dụng lời thoại mẫu còn sau đó giao
nhiệm vụ các em tự về nhà vận dụng vào các tình huống khác.Lớp học khá đông do
vậy để tất cả các em có thể thực hành nhuần nhuyễn trên lớp và tôi có thể nhận xét
cho từng cặp là một điều rất khó khăn. Do không có môi trường giao tiếp thường
xuyên nên khả năng thực hành giao tiếp của các em sẽ bị hạn chế đặc biệt là các em
học yếu kém.
Trò chơi đóng vai mặc dù đã được áp dụng nhưng chưa triệt để và hiệu quả
nên ảnh hưởng đến chất lượng thực hành giao tiếp của học sinh
Khi dạy về hiện tượng ngữ pháp nào đó, thông thường sẽ phải nói đến cách
sử dụng của cấu trúc ngữ pháp đó. Nếu 1 hiện tượng ngữ pháp có nhiều cách sử
dụng khác nhau thì trong tiết học ngữ pháp đó, khi đến phần luyện tập học sinh sẽ
ngoại khóa nhằm khuyến khích động viên các em học tập tích cực hơn, hứng thú
hơn với môn tiếng Anh để các em coi tiếng Anh là một môn học cần thiết, quan
trọng trong xã hội hiện nay.
Ngoài ra, nếu có thể tôi mong nhà trường sẽ phân bố sỹ số lớp hợp lý hơn,
không quá đông (khoảng 20 – 25 em) để tạo điều kiện cho các em có cơ hội thực
hành giao tiếp đạt hiệu quả hơn.
PHẦN IV: KẾT LUẬN
Trên đây là một vài kinh nghiệm và những suy nghĩ của bản thân tôi với
mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy
môn tiếng Anh trong trường. Song những gì tôi nêu ra trong đề tài này không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong các cấp lãnh đạo, các anh chị em
đồng nghiệp góp ý cho đề tài này để cho đề tài này được tốt hơn và hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo cùng tất cả các anh chị em đồng
nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Azar, B.S. (1989). Understanding and Using English Grammar.
2. Nunan, D. (1991). Language Teaching Methodology.
3. Nunan, D.(Ed). (2003). Practical English Language Teaching