Bồi dưỡng học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 12 ở trường THPT Châu Sa - Pdf 39

HUYỆN ĐOÀN LÂM THAO
BCH ĐOÀN TRƯỜNG THPT LONG CHÂU SA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN LỚP 12
Ở TRƯỜNG THPT LONG CHÂU SA

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hải Yến
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
Đoàn viên chi đoàn giáo viên trường THPT Long Châu Sa

Năm 2016


HUYỆN ĐOÀN LÂM THAO
BCH ĐOÀN TRƯỜNG THPT LONG CHÂU SA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN LỚP 12
Ở TRƯỜNG THPT LONG CHÂU SA

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hải Yến

Năm 2016


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NXB
SGK
THCS
THPT


4

giỏi môn Ngữ văn lớp 12 ở trường THPT Long Châu Sa.
2.1. Công tác chỉ đạo:

4

2.2. Bồi dưỡng nhận thức tư tưởng, thái độ về việc dạy và học môn Ngữ

5

văn đối với thầy và trò.
2. 3. Phát hiện, lựa chọn học sinh có năng khiếu, đam mê, yêu thích môn

6

Ngữ văn.
2.4. Xây dựng chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi.

7

2.5. Tiến hành bồi dưỡng học sinh giỏi.

8

2.6. Tổ chức các hoạt động tương tác:

20




I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong sự chuyển mình đi lên của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt
quan tâm đến sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo. Văn kiện Đại hội XI của Đảng xác
định: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước
và toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển….Phát triển giáo dục là
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài…” (Trích Nghị quyết số
29-NQ/TW).
Xuất phát từ nhu cầu đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, bên cạnh việc
nâng cao chất lượng đại trà thì các nhà trường đặc biệt chú trọng tới công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi. Đây là một trong những thước đo đánh giá trình độ chuyên
môn của mỗi người thầy đồng thời là khâu quan trọng đánh giá khả năng vận dụng
kiến thức, năng lực sáng tạo của học sinh. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói
chung và việc bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn nói riêng là cả một quá trình rất khó
khăn và nhiều thử thách để tìm tòi nội dung và phương pháp hiệu quả.
Kiến thức văn chương thì mênh mông, rộng lớn vô cùng, nhất là kiến thức
gắn với yêu cầu đề thi của học sinh giỏi. Vấn đề đặt ra với bất cứ ai khi tham gia
bồi dưỡng học sinh giỏi là làm thế nào để cho học sinh yêu thích văn chương, có
hứng thú, đam mê học văn từ đó có ý thức nỗ lực học tập, rèn luyện để hoàn thiện
bản thân. Làm sao để các em phát huy hết năng lực của mình để đạt được kết quả
tốt nhất trong các kì thi chọn học sinh giỏi, thi tốt nghiệp và tuyển sinh vào các
trường đại học.
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, lớn lao,
khó khăn nhưng rất đỗi vinh dự. Học sinh giỏi thường là học sinh có tố chất đặc
biệt khác các học sinh khác về kiến thức, khả năng cảm thụ, khả năng tư duy và
nhất là khả năng viết. Vì vậy, tiết dạy bồi dưỡng học sinh giỏi đòi hỏi giáo viên
phải có sự chuẩn bị và đầu tư nhiều hơn rất nhiều tiết dạy bình thường trên lớp,
thậm chí phải có quá trình tích lũy kinh nghiệm qua thời gian mới có thể đạt hiệu
quả và thuyết phục học sinh, làm cho các em thực sự hứng thú và tin tưởng. Đây

trường, quan tâm, tạo điều kiện để học sinh có điều kiện học tập tốt nhất.
- Trong xu hướng hiện nay, nhiều trường tỉ lệ học sinh ôn thi đại học khối
C,D ngày càng ít đi thậm chí còn bị coi là mất mùa thì trường THPT Long Châu Sa
số học sinh yêu thích và say mê học khối C,D (đặc biệt là môn Ngữ văn) ngày càng
tăng lên. Mỗi năm có đến 16/30 lớp đăng kí nguyện vọng học khối C,D. Do vậy,
cũng thu hút được nhiều học sinh giỏi tham gia đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ
văn. Đó là động lực, là nguồn cổ vũ rất lớn để chúng tôi tiếp tục phấn đấu vươn lên
cống hiến cho sự nghiệp trồng người cao cả.
1.2. Khó khăn:
- Theo xu thế hiện nay, nhiều phụ huynh và học sinh chỉ chú trọng học các
môn tự nhiên để thi vào các trường kinh tế, ngân hàng, thương mại…nên nhiều em


dù có năng khiếu văn chương, được giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi ở THCS
khi lên THPT lại chuyển sang học khối A. Một số em học giỏi khối C, D lại theo
đội tuyển Địa, Tiếng Anh vì các em cho rằng thi các môn đó dễ đạt giải và giải
thưởng cao hơn môn Ngữ văn.
- Học sinh lớp 12 phải chịu áp lực lớn của việc thi đại học quyết định tương
lai sau này nên các em lo học đều các môn thi đại học hơn là tập trung cao độ vào
một môn. Chính vì thế một số phụ huynh và học sinh có thái độ không thiết tha,
mặn mà với việc tham gia đội tuyển học sinh giỏi.
Từ thực tế trên, Ban giám hiệu, tổ chuyên môn, giáo viên phụ trách và các
giáo viên tham gia bồi dưỡng đã thảo luận và đưa ra những giải pháp thiết thực để
ngày càng nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi.
Một số bài học kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi mà tôi rút ra qua thực tế
của bản thân và học hỏi đồng nghiệp đó là:
2. Các biện pháp đã tiến hành để nâng cao chất lượng bồi dưỡng học
sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 12 ở trường THPT Long Châu Sa.
2.1. Công tác chỉ đạo:
- Ban giám hiệu tổ chức biên chế lớp theo nguyện vọng từng khối thi tạo điều

phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để chủ động chỉ đạo, hướng dẫn học sinh
chiếm lĩnh tri thức, phát triển năng lực một cách toàn diện nhất.
- Để làm được điều đó, giáo viên dạy đội tuyển phải yêu nghề, ham học hỏi,
đam mê với công việc. Chính sự đam mê ấy giúp chúng ta khám phá ra những giá
trị đặc sắc của văn học và tìm ra phương pháp có tính khả thi để dẫn dắt học sinh
đến đích nhanh nhất.
- Trong quá trình giảng dạy, người thầy cần bồi đắp niềm yêu thích văn
chương cho các em thông qua các giờ học, các buổi ngoại khóa. Đồng thời tuyên
truyền, thuyết phục để phụ huynh và học sinh hiểu rõ ý nghĩa, vai trò quan trọng
của bộ môn Ngữ văn với việc phát triển tư duy, nhân cách của mỗi học sinh.
- Giáo viên cần xây dựng mối quan hệ thân thiện gần gũi, gắn bó giữa giáo


viên và học sinh, giữa các thành viên trong đội tuyển với nhau. Chúng ta cần lắng
nghe những tâm tư, nguyện vọng của các em, đồng thời qua các bài học chúng ta
cũng gieo vào tâm hồn các em những ước mơ, khát vọng để các em tự tin phấn đấu
đạt kết quả cao trong các kì thi.
2.2.2. Đối với trò:
- Môn Ngữ văn hiện nay là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói chung, chú
trọng dạy chữ, dạy người và dạy nghề. Cần giúp các em hiểu rõ ý nghĩa, vai trò,
tầm quan trọng của môn Ngữ văn: giúp các em những kĩ năng sống, kĩ năng giao
tiếp, làm cho thế giới tâm hồn trở nên phong phú và nhạy cảm hơn.
- Bên cạnh đó cũng tạo cho các em niềm tự hào về bản thân khi các em tham
gia đội tuyển học sinh giỏi tức là các em đã làm rạng danh cho nhà trường, cho gia
đình, dòng tộc.
2. 3. Phát hiện, lựa chọn học sinh có năng khiếu, đam mê, yêu thích môn
Ngữ văn.
2.3.1. Biểu hiện của học sinh có năng khiếu môn Ngữ văn.
Học sinh giỏi văn là những học sinh có 5 yếu tố sau:
- Học sinh thật sự say mê văn học, yêu thích văn chương.

2.4.1. Cơ sở xây dựng chương trình:
Giáo viên phụ trách bồi dưỡng đội tuyển căn cứ vào khung thời gian bồi
dưỡng học sinh giỏi của trường; thực tế nhận thức và năng lực của học sinh đội
tuyển; yêu cầu, nội dung của từng bài dạy; cấu trúc của đề thi học sinh giỏi cấp
tỉnh, cấp quốc gia để xây dựng chương trình bồi dưỡng và hệ thống các dạng bài
luyện tập cho phù hợp.
2.4.2. Phương pháp xây dựng chương trình:
Giáo viên phụ trách bồi dưỡng đội tuyển trao đổi với nhóm chuyên môn để
rà soát nội dung, chương trình bồi dưỡng hàng năm, những đúc rút kinh nghiệm, bổ
sung thay đổi để xây dựng chương trình bồi dưỡng cho phù hợp. Sau đó, thống nhất
trong tổ nhóm chuyên môn và đề nghị ban giám hiệu kí duyệt.


2.4.3. Nội dung chương trình:
- Nội dung chương trình cần đảm bảo tính hệ thống, bám sát vào chương
trình học đại trà, có mở rộng, nâng cao. Sắp xếp nội dung bồi dưỡng từ lý thuyết,
phương pháp đến rèn kĩ năng, luyện tập, luyện đề tổng hợp, có sự đan xen hợp lí ba
phân môn: đọc văn, làm văn, tiếng Việt.
- Hệ thống hóa kiến thức bồi dưỡng theo chuyên đề, chủ đề như:
+ Chuyên đề nghị luận xã hội.
+ Chuyên đề lí luận văn học.
+ Chuyên đề về văn học sử.
+ Chủ đề yêu nước.
+ Chủ nghĩa nhân đạo.
+ Tình yêu thiên nhiên.
+ Chủ đề người lính.
+ Hình tượng dòng sông Tổ quốc.
+ Hình tượng người phụ nữ...
2.5. Tiến hành bồi dưỡng học sinh giỏi.
2.5.1. Soạn bài lên lớp:

dụng công nghệ thông tin, lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên phải biết vận dụng
linh hoạt, nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học tích cực như: Phương pháp nêu
vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp dạy học theo dự án…. Kết hợp
với các kĩ thuật dạy học tích cực như: kĩ trình bày một phút, kĩ thuật tia chớp,
khăn trải bàn, kĩ thuật 3x3x3, kĩ thuật XYZ, sử dụng sơ đồ tư duy, …để phát huy
khả năng chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức.
- Khi lên lớp, giáo viên phải tạo ra được tâm thế giờ học bằng sự nhiệt tình,
tận tâm, chủ động và thân thiện để học sinh thực sự yêu thích môn học, hăng hái
phát biểu xây dựng bài, kích thích khả năng sáng tạo bằng những câu hỏi có tính
chất khám phá, phát hiện. Thường xuyên liên hệ thực tế, vận dụng kiến thức tích
hợp liên môn để nội dung bài học trở nên gần gũi, thiết thực.


- Để đạt được kết quả cao thì trước hết giáo viên và học sinh phải bắt đầu từ
kiến thức cơ bản bởi “có thực mới vực được đạo, có bột mới gột nên hồ”. Kiến thức
này phải được truyền tải dưới hình thức ngắn gọn, rõ ràng, có hệ thống, có trọng
tâm, trọng điểm giúp các em dễ nhớ, dễ hiểu và dễ vận dụng.
- Trên cơ sở học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, giáo viên tiếp tục bồi
dưỡng kiến thức nâng cao bằng cách mở rộng, đào sâu bằng nhiều dạng đề, nhiều
cách hỏi khác nhau trong cùng một bài để rèn năng lực tư duy cho học sinh.
2.5.2.2. Rèn các kĩ năng cơ bản cho học sinh.
* Kĩ năng nhận diện các dạng bài:
Dựa vào cấu trúc đề thi học sinh giỏi các cấp để nhận diện đề.
Dựa vào những từ ngữ yêu cầu của đề để nhận diện các dạng bài mang đặc
trưng riêng tương ứng với từng phân môn.
Cấu trúc đề thi chọn học sinh giỏi tỉnh năm học 2015 – 2016 gồm có hai câu.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8,0 điểm); Câu 2: Nghị luận văn học (12,0 điểm).
- Về nghị luận xã hội: Có ba dạng thường gặp là:
+ Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống.

Ý

Nội dung

I.

Đặt vấn đề: Dẫn dắt, nêu vấn đề nghị luận.

II.

Giải quyết vấn đề:

1.

Giải thích:
- Lời nói (những phát ngôn) luôn tồn tại tất yếu trong cuộc sống của mỗi con
người. Qua lời nói ta thấy được tâm tư tình cảm, suy nghĩ, trình độ văn hóa
của người nói.
- Sức mạnh của lời nói : chủ yếu chỉ những tác động to lớn do lời nói mang
lại.

2.

Chứng minh:
a. Tác động tích cực: có thể hiệu triệu, cổ vũ, động viên, khích lệ ….


-> ảnh hưởng tốt đến các tổ chức, các cá nhân. (Phân tích dẫn chứng).
b. Tác động tiêu cực: Có thể gây hoang mang, mất niềm tin, mất đoàn
kết…-> ảnh hưởng xấu đến tập thể, người khác và chính bản thân mình.

3. Hậu quả (hiện tượng xấu) hoặc tác dụng (hiện tượng tốt).
4. Giải pháp (vĩ mô và vi mô).
III. Kết thúc vấn đề:
Khái quát lại vấn đề.
Liên hệ bản thân.
Đề minh họa: Theo thống kê chính thức của Bộ Y tế trong 9 ngày nghỉ Tết
Nguyên đán cả nước có hơn 6.200 trường hợp nhập viện cấp cứu vì đánh nhau
trong đó có 15 trường hợp tử vong.
Trình bày suy nghĩ của em về hiện tượng trên.
Hướng dẫn làm bài:
Ý

Nội dung

I.

Đặt vấn đề: Dẫn dắt, nêu vấn đề nghị luận.

II.

Giải quyết vấn đề:

1.

Thực trạng:
- Đánh nhau là hiện tượng ngày càng phổ biến và gia tăng nhất là trong dịp
lễ tết. Hiện tượng đánh nhau xảy ra ở mọi nơi từ nông thôn đến thành thị, ở
mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất là thanh, thiếu niên.
- Dẫn chứng minh họa.


- Tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật.
- Cần

phê phán, lên án và ngăn chặn các hành vi bạo lực.

- Rèn luyện lối sống lành mạnh, thân thiện.
- Cần xử lí nghiêm khắc đối với những trường hợp đánh nhau.
III. Kết thúc vấn đề: Khái quát lại vấn đề. Liên hệ bản thân.
+ Dạng bài so sánh chi tiết trong các tác phẩm văn học.
I. Đặt vấn đề:
- Dẫn dắt.
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, chi tiết.
II. Giải quyết vấn đề:
1. Giải thích "chi tiết".
2. Phân tích làm rõ đối tượng thứ nhất.
3. Phân tích làm rõ đối tượng thứ hai.
4. So sánh:
- Tương đồng: + Nội dung.
+ Nghệ thuật.
- Khác biệt: + Nội dung.


+ Nghệ thuật.
5. Đánh giá, lí giải sự tương đồng và khác biệt.
III. Kết thúc vấn đề:
- Khái quát lại vấn đề.
- Bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, liên tưởng.
Đề minh họa: Cảm nhận của anh/chị về chi tiết bát cháo hành (Chí
Phèo – Nam Cao) và chi tiết nồi chè khoán (Vợ nhặt – Kim Lân).
Hướng dẫn làm bài:



(Chí Phèo tỏ tình với thị Nở), khát khao lương thiện (hi vọng thị Nở sẽ là
người mở đường cho Chí Phèo trở lại xã hội bằng phẳng, thân thiện của
những người lương thiện);
. Sau khi bị thị Nở từ chối, Chí Phèo vẫn thấy thoang thoảng hơi cháo
hành – hương vị của tình người, của cuộc sống lương thiện.
- Ý nghĩa về nghệ thuật:
+ Là chi tiết quan trọng thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc
họa sắc nét tính cách, tâm lí và bi kịch của nhân vật.
+ Góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng của nhà văn Nam Cao: tin tưởng
vào khả năng cảm hóa của tình người.
4. Về chi tiết nồi chè khoán.
- Ý nghĩa về nội dung:
+ Chi tiết chè khoán được nhắc đến trong tác phẩm chính là nồi cháo
cám trong bữa ăn đón nàng dâu mới.
+ Nói lên tình cảnh thảm hại của người dân nghèo trong nạn đói.
+ Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít gây ra nạn đói khủng khiếp
năm 1945.
+ Thể hiện tấm lòng đôn hậu của người mẹ thương con. Với nồi cháo
cám, bà cụ Tứ đã cố gắng tạo niềm vui dù là mỏng manh cho hai con.
+ Qua chi tiết nồi chè khoán, tính cách của các nhân vật được bộc lộ:
. Bà cụ Tứ: người mẹ đảm đang, yêu thương con hết lòng.
. Tràng: khéo léo trong cách cư xử, hiểu gia cảnh nhà mình.
. Vợ Tràng: trở nên ý tứ và biết chấp nhận hoàn cảnh.
- Ý nghĩa về nghệ thuật:
+ Là chi tiết nghệ thuật độc đáo tạo nên dư vị trong lòng người đọc về
hiện thực đói kém và tình người cảm động.
+ Góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng của nhà văn Kim Lân: trong bất
kỳ hoàn cảnh nào, tình nghĩa và hi vọng của con người vẫn luôn bất diệt.



Nam Cao và Kim Lân.
III. Kết thúc vấn đề: Khái quát lại vấn đề. Bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ.
2.5.3. Rèn kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng.
Đây là khâu vô cùng quan trọng để các em tiếp thu bài học tốt hơn.
Trước hết, giáo viên phải hướng dẫn học sinh lập kế hoạch cá nhân, phân bố
thời gian học tập và viết bài hợp lí.
2.5.3.1. Rèn kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng qua việc làm các bài tập về nhà
ứng với từng dạng bài.
- Trước khi kết thúc bài học, giáo viên giao bài tập về nhà và yêu cầu về thời
gian hoàn thành.
- Giáo viên yêu cầu nghiêm khắc đối với học sinh về việc soạn bài ở nhà,
nắm chắc kiến thức cơ bản, thuộc dẫn chứng tiêu biểu.
2.5.3.2. Rèn kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng qua việc đọc tài liệu tham khảo.
- Giới thiệu cho các em một số cuốn sách hay như: Hệ thống đề mở (Đỗ
Ngọc Thống), Chuyên đề chuyên sâu bồi dưỡng Ngữ văn 12 (Nguyễn Tấn Huy),
Những bài văn đạt giải quốc gia, Tuyển tập đề thi Olympic 30/4, đề thi học sinh
giỏi các năm ở các tỉnh trong cả nước ...; cung cấp cho học sinh một số địa chỉ trên
mạng Internet để các em tham khảo học tập như: Trường học kết nối, Tuyển sinh
247, Họcmai.vn, Bachkim.vn...Giáo viên yêu cầu học sinh đọc chuyên sâu các bài
về lí luận văn học như: Tiếng nói của văn nghệ, Mấy ý nghĩ về thơ (Nguyễn Đình
Thi), Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh).....
- Trong quá trình học và đọc tài liệu, các em sử dụng sổ tay văn học ghi chép
chọn lọc những ý chính, những câu văn hay, nhận định đặc sắc để làm tư liệu khi
viết bài....Từ việc tự học, tự đọc tài liệu các em sẽ bổ sung cho mình những kĩ năng,
phương pháp học cũng như những kiến thức cần thiết mà mình còn khiếm khuyết.
2.5.3.3. Rèn kĩ năng tự đánh giá năng lực môn học Ngữ văn của học sinh.
- Học sinh tự đánh giá năng lực của mình thông qua việc trao đổi cặp đôi với
bạn ngồi cùng bàn, trao đổi nhóm, cho học sinh chấm chéo bài làm của bạn trong



- Hoạt động thực hành: Học sinh làm bài tập thực hành ở trên lớp hoặc ở
nhà, giáo viên chấm và chữa lỗi, chỉ ra điểm mạnh để phát huy, điểm hạn chế cần
khắc phục.
2.6.2. Hoạt động tương tác giữa trò và trò.
Bao gồm nhiều hoạt động nhưng nổi bật nhất là hoạt động nhóm. Giáo viên
chia đội tuyển thành nhiều nhóm nhỏ. Mỗi nhóm bốn đến năm học sinh, bầu nhóm
trưởng để cùng nhau trao đổi, thống nhất, uốn nắn, bổ sung, kiểm tra đánh giá lẫn
nhau, phát huy trí tuệ tập thể.
2.6.3. Hoạt động ngoại khóa văn học.
- Sân khấu hóa các tác phẩm văn học để học sinh hóa thân đóng vai nhân vật.
- Ngoại khóa xen lẫn bình thơ, ngâm thơ, thả thơ, hát thơ đã phổ nhạc...làm
cho các em tiếp thu tác phẩm tự nhiên mà sâu sắc.
- Tổ chức giao lưu, gặp gỡ các nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình văn học để
hiểu rõ hơn về phương pháp sáng tác, cách cảm thụ, đánh giá tác phẩm văn chương.
2.7. Kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm về công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi.
- Giáo viên chủ động khảo sát chất lượng học sinh giỏi theo từng tháng. Có
thể sử dụng nhiều hình thức kiểm tra: vấn đáp, thi viết ở lớp, ở nhà.
- Qua kết quả đạt được, đánh giá khái quát những gì đã làm được và chưa
làm được, rút kinh nghiệm, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch cho những năm tiếp theo.
3. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ngày càng tiến bộ, giáo viên phát huy
được tinh thần trách nhiệm, đem lại không khí phấn khởi trong giáo viên và học
sinh. Giáo viên có tinh thần tự giác đổi mới phương pháp giảng dạy, tay nghề mỗi
ngày được nâng lên rõ rệt. Học sinh được phân loại rõ ràng: Giỏi, khá, trung bình,
yếu, kém, học sinh ngày càng tự giác trong học tập và kiểm tra thi cử. Bởi học sinh
không còn cách để lười học mà thi điểm cao. Những học sinh có học lực yếu được
nhà trường chỉ đạo giáo viên có biện pháp dạy phụ đạo thêm để nâng chất lượng đại


10A3

37

3

8,11

32

86,48

2

5,41

0

0

10A4

34

3

8,83

27


+ Năm học 2014 - 2015
Lớp

Sĩ số

Giỏi

%

Khá

%

TB

%

Yếu

%

11A3

41

6

14,63


0

Tổng

81

17

20,99

63

77,78

1

1,23

0

0

+ Học kì I - Năm học 2015 - 2016
Lớp

Sĩ số

Giỏi

%


0

12A4

36

13

36,11

23

63,89

0

0

0

0

Tổng

78

35

44,87


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status