Khoá luận tốt nghiệp hoạt động tình báo trong kháng chiến chống mỹ cứu nước - Pdf 39

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH sử

TRÀN THỊ LAN ANH

HOAT ĐÔNG TÌNH BÁO
••

TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ
CỨU NƯỚC (1960 -1975)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
Th.s CHU THỊ THU THỦY

HÀ NỘI, 2016


Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô hướng dẫn Thạc sĩ Chu Thị
Thu Thủy, người đã hướng dẫn động viên em trong suốt quá trình học tập và
hoàn thành khóa luận này.
Em chân thành cảm ơn các thầy, cô Ưong khoa Lịch Sử - Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm em học tập,
tạo mọi điều kiện giúp đỡ em học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã ủng hộ, động
viên em trong suốt thời gian vừa qua.
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp không tránh khỏi một số
sai sót. Vì vậy em rất mong được sự góp ý chỉ bảo của các thày cô và các bạn
sinh viên.

3. MACVSOG

hoặc quân sự Mỹ ở Việt Nam.

4. Jechnics
SOGand Jactics of
Counter Insurgency

: Kĩ thuật và chiến thuật chống nổi dậy.


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi bởi tinh thần chiến đấu
của nhân dân Việt Nam rất kiên cường, quyết tâm giành độc lập cho dân tộc.
Bên cạnh đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi có sự đóng góp to
lớn của tình báo. Đề tài này giúp chúng ta có thêm hiểu biết về cuộc kháng
chiến chống Mỹ có thể giúp mọi người hiểu hon về hoạt động của những con
người làm tình báo, những sự đóng góp to lớn của họ tạo nên chiến thắng cho
nhân dân Việt Nam. Việc lựa chọn đề tài này để nghiên cứu, giúp tôi có dịp làm
quen với công việc tìm hiểu sâu hon về chuyên môn của mình, lựa chọn phưong
pháp phù họp nhất để luyện tập và đào sâu kiến thức chuyên môn của bản thân.
Điều này có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao kiến thức, và qua đây có thể
có những biện pháp rèn luyện nghiệp vụ sau này cho bản thân. Có thể đề tài
không đáp ứng hết những mong mỏi mà mọi người đặt ra nhưng với hi vọng nó
sẽ phần nào đưa mọi người đến với cái nhìn mới hon về công việc tình báo của
nhân dân ta nói chung và ừong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nói riêng.

phát triển chủ yếu là hoạt động của lực lượng an ninh miền Nam thời kì chống
Mỹ.
Lịch sử lực lượng an ninh nhân dân (1945-1965), (2008), Nhà xuất bản
Công an nhân dân, Hà Nội. Cuốn sách tập trung hoạt động của lực lượng bảo vệ
cách mạng sau khi hiệp định Gieneve được kí kết. Trong máu lửa, bão táp của
cách mạng, các Ban Địch tình ra đời. Từ năm 1960 cách mạng miền Nam
chuyển sang giai đoạn mới, an ninh miền Nam chính thức được thành lập đáp
ứng nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ phong trào cách mạng.
Lịch sử xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, tập II (19541975), (sơ thảo), (2010), Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội. Cuốn sách
ghi lại chặng đường hết sức sôi động nhưng không kém phần gay go, phức tạp,
trong công tác xây dựng lực lượng công an nhân dân trong sự nghiệp kháng

7


chiến chống Mỹ, cứu nước.
Lịch sử An ninh Khu Đông Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1954-1975), (2010), Nhà xuất bản công an nhân dân, Hà Nội. Công trình
dựng lên một cách khách quan An ninh Đông Nam Bộ từ khi ra đời đến kết
thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ đó khẳng định lực lượng an
ninh Đông Nam Bộ dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng đã phát huy
truyền thống kiên cường, anh dũng, trực tiếp đối đầu với đội ngũ quân tình báo,
gián điệp nhà nghề của đế quốc Mỹ và các thế lực phản động tay sai góp phần
làm nên các chiến thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Luận án thạc sĩ của Vũ Thị Thu Hiền, Đảng lãnh đạo xây dựng lực
lượng an ninh miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975 (2012), Đại học quốc gia
Hà Nội, Trường khoa học xã hội và nhân văn.
Các công trình kể trên là nguồn tư liệu vô cùng quý giá đối với khóa
luận này, song chỉ đề cập tới vấn đề lực lượng an ninh, công an nhân dân chung
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ những vấn đề mà các tác giả

kháng chiến chống Mỹ. Cho thấy sự thắng lợi của cuộc kháng chiến có sự góp
sức to lớn, vĩ đại của hoạt động tình báo.
3.3.

Phạm vỉ nghiên cứu

Phạm vi không gian nghiên cứu: Do khó khăn trong việc tìm kiếm tài
liệu bởi nhiều tài liệu về hoạt động tình báo chưa được giải mã nên phạm vi
nghiên cứu của tôi chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động tình báo về phía Việt
Nam Dân chủ cộng hòa ở miền Bắc và Lực lượng cách mạng giải phóng miền
Nam.
Phạm vi nghiên cứu thời gian: nghiên cứu trong thời gian từ năm 1960
đến năm 1975.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1.

Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu trong khóa luận được sử dụng dựa vào chỉ thị, nghị quyết
của Đảng đưa ra đối với công việc của ngành tình báo dù không đi khai thác
sâu như:
Chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong việc đưa ra yêu cầu đối với hoạt đng
tình báo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960-1975).
Nghị quyết xác đinh đường lối, nhiệm vụ, chính sách, sách lược cho
cuộc đấu tranh chống phản cách mạng.
Nguyễn Thị Ngọc Hải (2004), Tràn Quốc Hương - Người thầy của

9



CHỐNG MỸ cứu NƯỚC (19601-1975).
Chương 1
CỞ SỞ CỦA HOẠT ĐỘNG TÌNH BÁO TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1960 -1975)
1.1.

KHÁI QUÁT CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ cứu

NƯỚC (1960 -1975)
1.1.1.

Tình hình của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Hiệp định Geneve được kí
kết, cuộc chiến tranh kết thúc. Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta hoàn
toàn giải phóng. Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu đã lợi
dụng cơ hội gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy ngụy quyền, ngụy quân tay
sai, viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt
lâu dài nước ta. Cả dân tộc ta lại bước vào chiến đấu chống xâm lược mới, cuộc
kháng chiến chống Mỹ là thách thức lớn nhất, ác liệt nhất đối với dân tộc ta.
Bác Hồ và Đảng ta đã xác định đúng đắn đường lối cách mạng trong giai
đoạn mói: tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền nhằm mục
tiêu chung là chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc,
thống nhất Tổ quốc. Đồng thòi, đã chỉ rõ mối quan hệ chiến lược giữa hai miền:
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là để tạo sức mạnh giải phóng miền
Nam, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam là để giải phóng miền Nam
và bảo vệ miền Bắc. Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 21 năm, ta
đã chiến đấu chống lại nhiều chiến lược chiến tranh mà Mỹ tạo ra, mở đầu bằng
cuộc chiến ừanh đơn phương vói “phong trào Đồng Khởi” năm 1959 - 1960 là


nhân dân ta ở hai miền những thách thức chưa từng có. Chính trong hoàn cảnh

1
2


khó khăn, ác liệt, hiểm nghèo, bản lĩnh quyết đánh và biết đánh của dân tộc
Việt Nam tỏa sáng. Chưa bao giờ khí thế đánh Mỹ dâng cao như lúc này. Cả
nước sôi sục đánh Mỹ, toàn dân ra trận.
Các trận: Núi Thành, Vạn Tường, Bàu Bàng là cuộc đọ sức đầu tiên có ý
nghĩa quan trọng: làm bộc lộ những điểm yếu cụ thể của quân Mỹ. Chiến thắng
trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 -1967, đặc biệt là cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 là đòn sét đánh làm lung lay nghiêm trọng
ý chí xâm lược của Mỹ. Đòn bất ngờ và đồng loạt, mạnh và hiểm, đầy hiệu lực
Tốt Mậu Thân là một sáng tạo độc đáo chưa từng có, tạo ra bước ngoặt cơ bản
làm thay đổi cục diện chiến ữanh, mở ra quá trinh xuống thang chiến tranh của
đế quốc Mỹ. Ta đã quyết đánh, biết đánh và thắng Mỹ ngay khi quân Mỹ còn
đông nhất, mạnh nhất, có những cố gắng chiến tranh cao nhất [36, tr. 154-156].
Bị thất bại nặng nề ở Việt Nam, trước làn sóng phản đối chiến ưanh xâm
lược Việt Nam trên thế giới và ngay trong nước Mỹ ngày càng mạnh mẽ, ngày
1/11/1968, chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom bắn phá miền
Bắc và phải ngồi vào bàn thương lượng ở Hội nghị Paris (1968- 1973), với sự
kiện này có thể nói, chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ đã bị phá sản. Thất
bại trong chiến lược chiến tranh cục bộ, Nixon chuyển sang thực hiện chiến
lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, ra sức phát triển và hiện đại hóa quân đội Sài
miền Nam Việt Nam và mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương. Đầu
năm 1971, quân đội Sài Gòn, được sự yểm trợ, chi viện hỏa lực của Mỹ và sự
phối họp của quân đội phái hữu Lào mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, nhằm
cắt đứt hành lang vận chuyển Bắc - Nam. Quân giải phóng miền Nam Việt
Nam phối họp với lực lượng vũ ừang cách mạng Lào mở chiến dịch phản công,

mới của lịch sử dân tộc- cả nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất và đi
lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho cách mạng Lào và cách mạng
Campuchia giành thắng lợi quyết định, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh của

1
4


nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Thắng
lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ là kết quả của sự hi sinh, nỗ lực to lớn của
toàn dân tộc trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt, lâu dài giữa ta và địch.
1.1.2.

Tình hình của Mỹ

Vói việc thay chân Pháp trong cuộc chiến hanh ở Việt Nam, Mỹ huy
động vào chiến tranh xâm lược Việt Nam một khối lượng bom đạn, vật chất kĩ
thuật chưa từng có trên một địa bàn tương đối hẹp, đã sử dụng mọi loại vũ khí
hiện đại nhất trừ bom nguyên tử, số quân Mỹ được đưa vào miền Nam lúc cao
nhất lên tới hơn nửa triệu quân cùng với một lực lượng lớn hải quân, không
quân chiến lược, chiến thuật, 7 vạn rưỡi quân các nước theo Mỹ và hơn một
triệu quân Ngụy, đó là một quân số kỉ lục cho một cuộc chiến tranh xâm lược
thực dân kiểu mới. Mỹ đã thi thố mọi chiến lược, chiến thuật chính trị, quân sự,
ngoại giao, đã dùng những thủ đoạn chiến hanh tàn bạo nhất trong: bao vây
phong tỏa, khủng bố toàn diện, tàn phá kinh tế, tiêu diệt con người, phá hủy
môi trường bằng chất độc màu da cam, để lại hậu quả nặng nề cho nhiều thế hệ
ngưòi Việt Nam và cà cựu binh Mỹ.
Tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ coi Việt Nam là trọng điểm
của phong trào giải phóng dân tộc cần tiêu diệt để ngăn chặn các dân tộc trên
thế giới vùng lên và chủ nghĩa cộng sản ữàn xuống Đông Nam Á. Trước sự

Mỹ bị tấn công từ nhiều phía, ngay cả trong nội bộ nước Mỹ. Phong trào chống
chiến tranh xâm lược Việt Nam dấy lên khắp nước Mỹ. Hạ nghị viện Mỹ đòi
hỏi phải rút tất cả quân Mỹ ở Việt Nam về nước trong thòi gian ngắn nhất.
Tháng 6/1969, Tổng thống Mỹ Richard Nixon phải hứa sẽ chấm dứt chiến tranh
trong vòng sáu tháng, cho ra đòi cái gọi là “Học thuyết Nixon” và chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh”. Cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy
bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối tháng 12/1972 bị đập tan và là
một “Điện Biên Phủ ừên không” đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải kí hiệp định Paris
về Việt Nam (27/1/1973), rút hết quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ ra
khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền thống nhất toàn

1
6


vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến ừanh” thất bại.
Tuy rút hết quân đội, nhưng Mỹ vẫn để lại 2 vạn cố vấn quân sự đội lốt dân sự,
để lại vũ khí, trang bị chiến tranh và tiếp tục viện trợ quân sự cho chính quyền
Nguyễn Văn Thiệu. Quân ngụy lên đến 1.100.000 tên và ra sức lấn chiếm phá
hoại hiệp định Paris. Nhung thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam
vào mùa xuân năm 1975 đã làm phá sản sự phản kích lớn của Mỹ vào các lực
lượng cách mạng sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phá vỡ phòng tuyến ngăn
chặn chủ nghĩa cộng sản quan họng ở Đông Nam Á mà Mỹ đã đổ nhiều công
sức tạo dựng, góp phần làm đảo lộn chiến lược toàn càu phản cách mạng của
Mỹ, đẩy Mỹ vào tình thế khó khăn về nhiều mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, xã
hội. Và nói như tướng Taylor - một nhà chiến lược quân sự Mỹ: “Trong suốt cả
cuộc chiến hanh này, chúng ta ( nguời Mỹ) không có một anh hùng nào cả,
chúng ta chỉ là những lũ ngốc... Giá như người Mỹ sớm nhận thức ra vấn đề
này thì...”. Hơn hai thế kỉ đã ừôi qua kể từ khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được
thành lập, và người Mỹ có quyền tự hào về những vinh quang mà người Mỹ gặt

xem là “cây đại vĩ cầm về địa- chính ttị” của Mỹ.
Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh lớn nhất mà Mỹ trực tiếp tham
chiến trong thời kì chiến tranh Lạnh và đối đầu Đông - Tây (từ năm 1945 đến
thời điểm 1989-1991), một cuộc đụng đầu lịch sử không chỉ giữa hai nước Mỹ Việt Nam mà còn giữa hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập và chủ nghĩa tư
bản và chủ nghĩa xã hội.
Tiến hành cuộc chiến tranh Việt Nam, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nhà
Trắng, Lầu Năm Góc và CIA, Mỹ đã thành lập một tổ chức cực kì bí mật để
tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc để tuyên truyền điều hành tâm lý chiến,
tiến hành các hoạt động phá hoại trên biển và ngăn chặn đường mòn Hồ Chí
Minh. Đó là chiến dịch bán quân sự bí mật của Oasinhton chống lại Hà Nội
trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Chiến dịch do Nhóm nghiên cứu và quan sát
thuộc Bộ chỉ huy trợ giúp quân sự Mỹ ở Việt Nam (viết tắt theo tên tiếng Anh
là MACVSOG hoặc SOG) là hoạt động ngầm lớn nhất và phức tạp nhất do Mỹ

1
8


thực hiện kể từ khi oss ra đòi. SOG đã tiến hành cuộc chiến tranh bí mật chống
Hà Nội trong vòng tám năm, bắt đàu từ tháng 1/1964 đến tháng 4/1972. SOG
có nhiệm vụ: Cài cắm và chỉ đạo các toán gián điệp và tạo ra một chiến dịch
nghi binh phức tạp, trong đó có cả việc tuyển mộ tù binh của Bắc Việt Nam.
Chiến tranh tâm lý - dựng nên một phong trào chống đối giả ở Bắc Việt Nam,
bắt cóc và tuyên truyền công dân Bắc Việt Nam, điều hành các đài phát thanh
đen, phân phát các tài liệu tuyên truyền, làm giả thư từ, tài liệu và các hành
động không trong sạch khác. Hoạt động ngăn chặn trên biển: bắt giữ và phá hủy
các tàu hải quân và thuyền đánh cá của Bắc Việt Nam, đánh phá các mục tiêu
ven biển, tiến hành các vụ tập kích phá hoại các cơ sở quân sự và dân sự và rải
các tài liệu chiến tranh tâm lý. Hoạt động thám báo bên kia biên giới chống lại
đường mòn Hồ Chí Minh bằng cách thám báo người dân tộc (người Thượng và

những gì họ tự học, tự tìm hiểu được để vận dụng vào công việc làm tình báo,
tuy nhiên hoạt động tình báo của ta không những không thua kém mà còn có
những thông tin có giá trị cung cấp cho Đảng , tạo nên thắng lợi của cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước.
1.2.

HOẠT ĐỘNG TÌNH BÁO VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

TRƯỚC NĂM 1960
Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải căng mình đối phó với cả thù trong, giặc
ngoài, tình thế đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”. Để kịp thòi nắm bắt âm
mưu, thủ đoạn... của các đối tượng địch, phục vụ công cuộc bảo vệ chính quyền
cách mạng non trẻ và cuộc kháng chiến, kiến quốc lâu dài của toàn dân, ngày
25/10/1945, Trung ương Đảng quyết định thành lập tình báo Quốc phòng Việt
Nam. Quyết định đó thể hiện tư duy sắc sảo, tầm nhìn chiến lược của Đảng và
Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác đặc biệt quan trọng của Quân đội nói
riêng và của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói chung. Điều đó tạo cơ sở và là
một trong những căn cứ chủ yếu để Đảng ta hoạch định đường lối, chiến lược,
sách lược cách mạng. Ngay sau khi ra đời, mặc dù còn bộn bề khó khăn, thiếu

2
0


thốn, tình báo Quốc phòng đã nhanh chóng ổn định tổ chức lực lượng, xác định
chức năng, nhiệm vụ, phương thức công tác... nắm chắc tình hình và cung cấp
nhiều tin tức chiến lược, chiến dịch có giá trị, đóng góp xứng đang vào sự
nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Năm 1949, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã qua giai đoạn phòng

Tổng tham mưu trưởng quân đội, cùng với sáu nghị sĩ quốc hội Pháp sang
nghiên cứu tình hình Đông Dương. Sau hơn một tháng đã hình thành kế hoạch
Rơ-ve, mở rộng phạm vi chiếm đóng ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, phong
tỏa biên giới Việt - Trung, tăng cường xây dựng quân ngụy, dùng ngụy quân
làm nhiệm vụ chiếm đóng, tập trung quân Âu Phi để xây dựng lực lượng cơ
động càn quét và mở những cuộc tiến công lớn, củng cố và đề cao ngụy quyền,
làm công cụ tiếp tục thực hiện chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng
người Việt đánh ngưòi Việt,

về phía ta, những thắng lợi trên các mặt quân sự,

chính trị của quân và dân ta và những thắng lợi trên mặt trận đấu tranh chống
phản cách mạng trong hai năm 1948 - 1949 đã tạo tiền đề cho những thắng lợi
những năm tiếp theo. Mùa hè năm 1950, Ban thường vụ Trung ương Đảng
quyết định mở chiến dịch biên giói, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan
trọng của địch, mở rộng căn cứ địa cách mạng, giải phóng vùng biên giới phía
Bắc. Tại mặt trận, một tổ chức phối hợp hoạt động giữa tình báo Quân đội và
Công an được thành lập, với tên gọi là Ban Quân báo, có nhiệm vụ theo dõi mọi
hoạt động hàng ngày của địch. Ban quân báo đã bố trí kế hoạch “chốt” trên địa
bàn trọng điểm từ Cao Bằng đến Lạng Sơn để thu thập tin tức. Lực lượng Điệp
báo Lạng Sơn cũng hoạt động rất tích cực trên quốc lộ 4 và đã năm được tình
hình di chuyển vũ khí, khí tài của địch, kịp thòi vạch kế hoạch phục kích diệt
gọn sáu mươi tư xe vận tải chở vũ khí, khí tài quân trang quân dụng. Sau gần
một tháng chiến đấu, quân và dân ta đã giành thắng lọi to lớn trong chiến dịch
Biên giới giải phóng ba mưoi lăm vạn dân và bốn ngàn năm trăm ki-lô-mét
vuông đất đai, khai thông vùng biên giói Việt - Trung, nối liền nước ta với

2
2




bước hất cẳng Pháp đưa con bài Ngô Đình Diệm về miền Nam Việt Nam, tổ
chức trưng cầu dân ý, đưa Diệm lên làm Tổng thống cái gọi là Việt Nam cộng
hòa. Do sớm xác định kẻ thù của cách mạng miền Nam để chuẩn bị cho một
cuộc chiến đấu mới vói một tên đế quốc hùng mạnh, hiếu chiến, thâm độc và
nguy hiểm nhất thế giới. Đảng chủ trương không phải tất cả các lực lượng của
ta đều tập kết ra Bắc, phải bố trí lực lượng ở lại đi vào hoạt động bí mật, nhiều
đồng chí từ Bắc được đưa vào Nam hoạt động qua nhiều con đường. Ban Địch
Tình Xứ ủy Nam Bộ được thành lập ngàylô /10/1954 để phục vụ nắm công tác
địch tình nhằm đối phó với Mỹ - Diệm đang ra sức phá hoại Hiệp định Genene,
cũng từ đây các hệ tình báo xây dựng các mạng lưới tình báo chiến lược len sâu
vào các cơ quan tổ chức của địch để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài sau
này. Với nhiệm vụ thu tin nắm tình hình, phục vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ cách
mạng, Ban địch tình xứ ủy đã chỉ đạo cán bộ đi sâu vào các cơ quan đầu não bí
mật của Mỹ- Ngụy, Ban Địch Tình Xứ ủy đã tổ chức cho đồng chí Phạm Ngọc
Thảo thâm nhập thành công vào phủ Tổng thống Ngụy. Trong quá trinh hoạt
động, đồng chí Phạm Ngọc Thảo được anh em Diệm - Nhu tin cậy cân nhắc lên
những vị trí cao tại những địa bàn trọng điểm, thời gian hoạt động trong lòng
địch ngoài việc thu thập và báo cáo cho ta nhiều tin tức quan trọng về âm mưu
và hoạt động của Mỹ - Diệm, đồng chí Phạm Ngọc Thảo đã khéo léo lợi dụng
mâu thuẫn của địch để khoét sâu và làm suy yếu bộ máy của chúng. Bên cạnh
việc thu thập tin tức địch, nắm tình hình địch, Ban địch tình còn chủ động tổ
chức các trận đánh diệt ác trừ gian và tiêu biểu là Ban địch tình Tây Ninh tổ
chức ám sát Ngô Đình Diệm ở Buôn Ma Thuột, tuy không thành công nhưng
tiếng súng Tây Nguyên của đồng chí Hà Minh Chí đã làm tăng mâu thuẫn giữa
các phe phái vci chính quyền Diệm Nhu củng cố lòng tin của nhân dân đối với
cuộc kháng chiến chống Mỹ - Diệm do Đảng ta lãnh đạo. Năm 1959, Mỹ Diệm ngày càng cuồng điên đẩy mạnh phong trào đàn áp cách mạng, thực hiện

2


về

Chủ trương của Đảng
tàm quan trọng của công tác tình báo, trong thư Chủ tịch Hồ Chí

Minh gửi Hội nghị tình báo toàn quốc ngày 10/3/1948, có đoạn: “ Tình báo là
tai, mắt của quân đội, trách nhiệm của nó rất quan trọng. Binh pháp nói: Biết

2
5



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status