TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
---------***-------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
NĂM 2005 VỀ MÔI GIỚI THƢƠNG MẠI
THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Sinh viên thực hiện
: Ngô Thúy Hoài
Lớp
: Anh 15 - K45E - KTĐN
Khóa
: 45
Giáo viên hƣớng dẫn
: GS.TS.NGND. Nguyễn Thị Mơ
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
2.3.2 Các thương nhân môi giới hoạt động chưa chuyên nghiệp ..................... 58
i
Chương 3. Giải pháp và kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định của Luật
thương mại Việt Nam năm 2005 về hoạt động môi giới thương mại nhằm phát
triển hoạt động môi giới thương mại trong thời gian tới ................................... 59
3.1 Dự báo sự gia tăng của hoạt động môi giới thương mại ở Việt Nam trong
thời gian tới ...................................................................................................... 59
3.1.1 Cơ sở dự báo .......................................................................................... 59
3.1.2 Số liệu dự báo ........................................................................................ 60
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hoạt động môi giới
thương mại ....................................................................................................... 63
3.2.1 Cần ban hành văn bản dưới luật về hoạt động môi giới thương mại ....... 63
3.2.2 Tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định về hoạt động môi giới thương mại
trong Luật thương mại Việt Nam năm 2005 .................................................... 63
3.2.3 Sửa đổi, bổ sung Luật chứng khoán năm 2006, Luật kinh doanh BĐS năm
2006 ................................................................................................................ 67
3.3 Các kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động môi giới thương mại phát triển
........................................................................................................................... 72
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước.................................................................... 72
3.3.2 Kiến nghị đối với các chủ thể tiến hành hoạt động môi giới thương mại. 74
Kết luận ................................................................................................................ 78
Danh mục tài liệu tham khảo .............................................................................. 80
Danh mục chữ cái viết tắt.................................................................................... 85
Danh mục bảng biểu ............................................................................................ 86
Phụ lục 1 .............................................................................................................. 87
Phụ lục 2 .............................................................................................................. 88
Phụ lục 3 .............................................................................................................. 89
đẩy hoạt động thương mại diễn ra nhanh chóng.
Nhận thức được vai trò của người môi giới đối với sự phát triển của
thương mại, Luật thương mại năm 2005 đã đưa hoạt động môi giới vào đối
tượng điều chỉnh của Luật. Các luật chuyên ngành khác như Luật chứng
khoán năm 2006, Luật kinh doanh bất động sản năm 2006, Luật hàng hải năm
2005… cũng quy định về hoạt động môi giới trong các lĩnh vực cụ thể.
Tuy nhiên, các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại hiện nay vẫn
chưa có sự hiểu biết đầy đủ về những quy định của pháp luật đối với hoạt
động môi giới thương mại. Thêm vào đó, từ khi Luật thương mại 2005 ra đời
đến nay, hoạt động môi giới thương mại đã phát triển ngày càng đa dạng,
phức tạp, phát sinh nhiều vấn đề mới cần có sự xem xét để điều chỉnh. Vậy
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định như thế nào về môi giới
thương mại? Thực tiễn áp dụng Luật này trong bốn năm qua đã nảy sinh
những vấn đề gì? Những vấn đề gì cần được sửa đổi, bổ sung để các quy định
về môi giới thương mại sát với thực tiễn hơn, giúp hoạt động này ngày càng
phát triển, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước?
Xuất phát từ nhu cầu thiết yếu đó, tôi chọn vấn đề “Những quy định
của Luật thương mại Việt Nam năm 2005 về môi giới thương mại. Thực
tiễn áp dụng và những vấn đề đặt ra.” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp
của mình.
1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu những quy định của Luật thương mại Việt Nam năm
2005 về môi giới thương mại, đồng thời phân tích việc áp dụng Luật trong
thực tế và chỉ ra những bất cập trong các quy định đó cũng như những vấn đề
phát sinh trong thực tiễn áp dụng; đề tài đề xuất giải pháp và kiến nghị về việc
sửa đổi, bổ sung để các quy định về môi giới thương mại của Luật này hoàn
giới thương mại trong Luật thương mại năm 1997, Luật chứng khoán năm
2006 và Luật kinh doanh bất động sản năm 2006.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung, khóa luận nghiên cứu những quy định của Luật thương
mại năm 2005 về môi giới thương mại. Đồng thời, đề tài cũng nghiên cứu
những quy định có liên quan đến môi giới thương mại của Luật thương mại
1997.
Về mặt thời gian, khóa luận tập trung phân tích những vấn đề liên quan
đến hoạt động môi giới thương mại kể từ khi Luật thương mại năm 2005 ra
đời và dự báo về sự phát triển của hoạt động môi giới thương mại trong thời
gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, người viết đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương
pháp thống kê, phương pháp hệ thống hóa và phương pháp so sánh luật học.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội
dung khóa luận bao gồm ba chương:
Chương 1. Những vấn đề chung về hoạt động môi giới thương mại và
pháp luật về môi giới thương mại.
Chương 2. Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về môi giới
thương mại, tình hình thực thi các quy định về hoạt động môi giới thương mại
và những vấn đề đặt ra.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định của
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 về hoạt động môi giới thương mại
nhằm phát triển hoạt động môi giới thương mại trong thời gian tới.
3
4
Theo Điều 93 Luật thương mại Việt Nam năm 1997, người môi giới
thương mại là thương nhân làm trung gian cho các bên mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ thương mại trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán
hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và được hưởng thù lao theo hợp đồng
môi giới.
Có thể thấy, Luật thương mại Việt Nam năm 1997 hiểu hoạt động
thương mại theo nghĩa rất hẹp. Do đó, phạm vi hoạt động của người MGTM
cũng chỉ thuộc lĩnh vực mua bán hàng hóa và cung ứng các dịch vụ liên quan
đến việc mua bán hàng hóa. Trong thời gian Luật thương mại năm 1997 có
hiệu lực, nhiều hoạt động môi giới nằm ngoài sự điều chỉnh của Luật nhưng
lại được quy định trong các văn bản luật khác như: Bộ luật hàng hải năm 1990
quy định về hoạt động môi giới hàng hải, Luật kinh doanh bảo hiểm năm
2000 quy định về hoạt động môi giới bảo hiểm… 3
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 cũng có cách hiểu tương tự Luật
thương mại năm 1997 về khái niệm người môi giới thương mại. Điều 150
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định rõ rằng, “môi giới thương mại
là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên
môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được
môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ
và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới”.
Điểm khác biệt là ở chỗ, trong Luật thương mại Việt Nam năm 2005,
khái niệm về hoạt động thương mại đã được mở rộng hơn rất nhiều so với
Luật thương mại năm 1997. Theo khoản 1, Điều 3, Luật thương mại năm
2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt
không chỉ bao gồm hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ mà còn bao gồm cả
những hoạt động liên quan đến đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ4. Chính
sự phong phú của các hoạt động thương mại đã dẫn đến tính đa dạng, phức
tạp của hoạt động trung gian thương mại.
4
Tô Cẩn (2005), Khóa đào tạo về GATS/WTO tại thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, 31/03/2005, truy cập
ngày 09/03/2010, />
6
Thứ hai, hoạt động MGTM là loại hoạt động cung ứng dịch vụ thương
mại được thực hiện theo phương thức giao dịch qua trung gian.
Hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại thông thường có hai bên tham
gia. Hoạt động môi giới thương mại có ba bên tham gia: bên thuê dịch vụ môi
giới thương mại, bên môi giới thương mại và bên thứ ba. Bên môi giới có thể
hỗ trợ cho bên thuê dịch vụ môi giới trong việc gặp gỡ, giao dịch với bên thứ
ba. Mục đích của bên môi giới thương mại là nhận được thù lao mà bên thuê
dịch vụ môi giới sẽ trả cho họ.
Thứ ba, trong hoạt động MGTM, song song tồn tại hai mối quan hệ phát
sinh trên cơ sở của hai hợp đồng.
Quan hệ thứ nhất là quan hệ giữa bên thuê dịch vụ môi giới và bên môi
giới thương mại, quan hệ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng môi giới được ký
giữa người thuê môi giới và người môi giới. Quan hệ thứ hai phát sinh giữa
bên thuê dịch vụ môi giới và bên thứ ba, quan hệ này dựa trên cơ sở hợp đồng
do hai bên ký kết với nhau (có thể là hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hợp
đồng cung ứng dịch vụ). Thông thường, người môi giới đóng vai trò là người
giới thiệu bên thuê dịch vụ môi giới với bên thứ ba và không tiến hành giao
dịch với bên thứ ba.
Thứ tư, bên môi giới thương mại phải có tư cách pháp lý độc lập với bên
thương mại là “thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc
đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa”. Như vậy, người môi giới là
một trung gian đơn thuần, đứng giữa người mua và người bán, không đại diện
cho quyền lợi của bên nào. Nghĩa vụ và trách nhiệm của người môi giới được
quy định trong hợp đồng đã ký kết giữa bên thuê dịch vụ môi giới và bên môi
giới.
Thứ bảy, người môi giới không đươc tham gia vào việc thực hiện hợp
đồng giữa các bên trừ khi được bên thuê dịch vụ môi giới ủy quyền.
Theo khoản 4, Điều 151, Luật thương mại Việt Nam năm 2005, bên môi
giới thương mại “không được tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên được
môi giới, trừ trường hợp có ủy quyền của bên được môi giới”. Trong thực tế,
do hoạt động thương mại ngày càng phức tạp, phong phú và đa dạng, người
8
được môi giới muốn tiết kiệm thời gian và công sức thường ủy quyền cho
người môi giới thực hiện một số công việc khác ngoài việc kết nối người mua
và người bán. Ví dụ: người môi giới trong lĩnh vực hàng hải có thể tham gia
vào việc giao nhận hàng, làm thủ tục hải quan; người môi giới trong lĩnh vực
xuất nhập khẩu hàng hóa có thể thay mặt chủ hàng thu tiền hàng…
1.1.3 Phân biệt hoạt động MGTM và một số hoạt động trung gian
thương mại khác
Người trung gian thương mại và các hoạt động của họ là đối tượng quan
tâm của pháp luật các nước trên thế giới. Điểm chung nhận thấy trong các văn
bản pháp luật nước ngoài là khó có thể tìm thấy một định nghĩa chính thức về
hoạt động trung gian thương mại, nhưng thay vào đó có thể tìm thấy khá
nhiều quy định về từng loại người trung gian tham gia giúp đỡ để các bên xác
lập, thực hiện các giao dịch thương mại6. Ví dụ, Điều 1.201 Luật thương mại
Hoa Kỳ định nghĩa: “Đại diện là người đại lý, nhân viên công ty hoặc hiệp
thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại”. Như vậy, theo Luật thương mại
Việt Nam 2005, có bốn loại hình trung gian thương mại, đó là: Đại diện cho
thương nhân, Môi giới thương mại, Ủy thác mua bán hàng hóa, Đại lý thương
mại.
Dưới góc độ kinh tế, bên đại diện, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên
đại lý đều là người đảm nhiệm khâu phân phối hàng hóa từ người cung cấp
đến người tiêu dùng; và các hoạt động trung gian thương mại nói trên đều là
những phương thức phát triển kinh doanh.
Dưới góc độ pháp lý, bốn loại hình trung gian thương mại được đề cập
đến trong Luật thương mại năm 2005 có những điểm khác nhau. Cụ thể:
Hoạt động MGTM và hoạt động Đại diện cho thương nhân (xem Bảng 1)
Theo Điều 141, Luật thương mại Việt Nam năm 2005: “Đại diện cho
thương nhân là việc một thương nhân nhận ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) của
thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động
thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được
7
Phạm Duy Liên (2005), Sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam – thực
trạng và giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, tr6-7, Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội.
10
hưởng thù lao về việc đại diện”. Hình thức này thường xuất hiện khi quy mô
hoạt động kinh doanh chưa lớn, việc đặt văn phòng đại diện là không có lợi,
hoặc bên giao đại diện gặp nhiều khó khăn về mặt nhân sự.
Bảng 1: So sánh hoạt động MGTM và hoạt động Đại diện cho thương nhân
Hoạt động MGTM
giao đại diện, đại diện cho quyền lợi của bên giao đại
diện.
Bên môi giới thực hiện hoạt động môi
giới với danh nghĩa của chính mình.
Bên đại diện thực hiện các hoạt động thương mại
với danh nghĩa của bên giao đại diện.
Quyền hưởng thù lao môi giới phát sinh
từ thời điểm các bên được môi giới đã ký hợp
Quyền hưởng thù lao đại diện phát sinh từ thời
điểm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng đại diện.
đồng với nhau (trừ trường hợp có thỏa thuận
khác).
Hợp đồng môi giới thương mại không
nhất thiết phải lập thành văn bản.
Hợp đồng đại diện cho thương nhân phải được
lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị
pháp lý tương đương (điện báo, telex, fax, thông điệp
dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp
luật).
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ những quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005.
Hoạt động MGTM và hoạt động Ủy thác mua bán hàng hóa (xem Bảng 2)
thác.
Bên môi giới có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về
Bên nhận ủy thác có nghĩa vụ liên đới chịu
tư cách pháp lý của bên được môi giới, không chịu
trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên
trách nhiệm về khả năng thanh toán của họ.
ủy thác, nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm
pháp luật đó có một phần do lỗi của mình gây ra.
Hợp đồng môi giới thương mại không nhất
thiết phải lập thành văn bản.
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa phải
được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác
có giá trị pháp lý tương đương.
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ những quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005.
Hoạt động MGTM và hoạt động Đại lý thương mại (xem Bảng 3)
Điều 166, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “Đại lý
thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý
thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên
giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để
mình, không đại diện cho quyền lợi của bên nào, không
của chính mình; đứng tên trên hợp đồng, là
tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên (trừ trường
chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa, cung
hợp được ủy quyền).
ứng dịch vụ.
Quan hệ giữa bên môi giới và bên được môi giới
là quan hệ hợp đồng từng lần, ngắn hạn.
Quan hệ giữa bên đại lý và bên giao đại
lý là quan hệ hợp đồng dài hạn.
Bên môi giới không có quyền quyết định giá bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các bên được môi giới.
Đại lý bao tiêu có quyền quyết định giá
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách
hàng.
Hợp đồng môi giới không nhất thiết phải lập thành
văn bản.
Hợp đồng đại lý phải được lập thành
trình tìm hiểu lẫn nhau giữa các đối tác, thúc đẩy việc mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ. So với việc tự “mò mẫm” tham gia vào thị trường, việc sử
dụng người môi giới thương mại có thể giúp các bên thuê môi giới giảm bớt
rủi ro, tiết kiệm thời gian và công sức tìm hiểu đối tác.
Người môi giới thương mại là những tổ chức, cá nhân có các điều kiện
nhất định về cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp… Chính vì vậy,
họ có khả năng đẩy mạnh các giao dịch thương mại, thậm chí giúp mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ với giá có lợi cho bên thuê môi giới.
Sử dụng người môi giới thương mại (cũng như những người trung gian
thương mại khác) là một hình thức của phân công lao động. Do sự chuyên
môn hóa, người môi giới thương mại sẽ xây dựng mạng lưới quan hệ rộng,
thu lượm các kiến thức, kinh nghiệm quý giá trong lĩnh vực chuyên môn của
mình. Các nhà sản xuất chuyên tâm vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ mà mình có thế mạnh, tìm kiếm lợi nhuận tối đa. Như vậy, người môi giới
thương mại giúp cho tất cả các hoạt động sản xuất, phân phối, tiêu dùng đều
đạt hiệu quả.
14
Thông qua việc sử dụng dịch vụ môi giới thương mại, các nhà kinh
doanh có thể hình thành mạng lưới tiêu thụ hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên
phạm vi rộng, tạo điều kiện cho để mở rộng, chiếm lĩnh thị trường.
Trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế nói riêng, người môi giới thương mại
đóng vai trò là cầu nối để các nhà xuất nhập khẩu ở các nước khác nhau có
thể dễ dàng ký kết hợp đồng với nhau. Các nhà môi giới thương mại nắm
được nhiều thông tin về các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, có hiểu biết về văn
hóa, phong tục tập quán kinh doanh của các nước. Nhờ đó, họ có thể trợ giúp
bên mua và bên bán vượt qua các rào cản, tiến hành đàm phán và ký kết hợp
đồng thương mại quốc tế.
Các loại hình hoạt động thương mại phát triển dẫn đến thị trường ngày
càng phức tạp, có sự tham gia của nhiều chủ thể; hàng hóa được mua bán,
cũng vô cùng phong phú, đa dạng. Thị trường lại chịu sự chi phối của nhiều
yếu tố, bao gồm điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội, tập quán, pháp
luật… Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn mới phát triển, thông tin và
các yếu tố cấu thành thị trường đều chưa hoàn hảo. Vì những lí do trên, các
thương nhân tham gia mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thường gặp khó
khăn trong việc tìm hiểu các thông tin như nguồn gốc, chất lượng, tình trạng
pháp lý… của hàng hóa, dịch vụ.
Thông qua các cá nhân và tổ chức môi giới chuyên nghiệp, các chủ thể
tham gia vào thị trường có cơ hội được cung cấp đầy đủ, chính xác các thông
tin về hàng hóa, dịch vụ. Điều này giúp ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế.
Thứ tư, hoạt động môi giới thương mại góp phần đẩy mạnh sự đổi mới
chính sách pháp luật của Nhà nước.
Sự hình thành và phát triển của hoạt động môi giới thương mại hỗ trợ
đắc lực cho nhu cầu giao dịch ngày càng đa dạng và phức tạp của các chủ thể
trong nền kinh tế, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu về quản lý hoạt động môi
giới. Thêm vào đó, thông qua các giao dịch môi giới trên thị trường, những
điểm không phù hợp với thực tế của các quy định pháp luật sẽ bộc lộ. Đây là
cơ sở để Nhà nước sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, giúp thị
trường hoạt động hiệu quả và ổn định.
1.2 Pháp luật về hoạt động môi giới thương mại
16