NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NĂM 2005 VỀ MÔI GIỚI THƢƠNG MẠI THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA - Pdf 25



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
NĂM 2005 VỀ MÔI GIỚI THƢƠNG MẠI
THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA Sinh viên thực hiện : Ngô Thúy Hoài
Lớp : Anh 15 - K45E - KTĐN
Khóa : 45
Giáo viên hƣớng dẫn : GS.TS.NGND. Nguyễn Thị Mơ Hà Nội, tháng 5 năm 2010


2.3 Những vấn đề đặt ra 52
2.3.1 Khung pháp luật cho hoạt động môi giới thương mại chưa đầy đủ 52
2.3.2 Các thương nhân môi giới hoạt động chưa chuyên nghiệp 58

ii
Chương 3. Giải pháp và kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định của Luật
thương mại Việt Nam năm 2005 về hoạt động môi giới thương mại nhằm phát
triển hoạt động môi giới thương mại trong thời gian tới 59
3.1 Dự báo sự gia tăng của hoạt động môi giới thương mại ở Việt Nam trong
thời gian tới 59
3.1.1 Cơ sở dự báo 59
3.1.2 Số liệu dự báo 60
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hoạt động môi giới
thương mại 63
3.2.1 Cần ban hành văn bản dưới luật về hoạt động môi giới thương mại 63
3.2.2 Tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định về hoạt động môi giới thương mại
trong Luật thương mại Việt Nam năm 2005 63
3.2.3 Sửa đổi, bổ sung Luật chứng khoán năm 2006, Luật kinh doanh BĐS năm
2006 67
3.3 Các kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động môi giới thương mại phát triển
72
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 72
3.3.2 Kiến nghị đối với các chủ thể tiến hành hoạt động môi giới thương mại. 74
Kết luận 78
Danh mục tài liệu tham khảo 80
Danh mục chữ cái viết tắt 85
Danh mục bảng biểu 86
Phụ lục 1 87
Phụ lục 2 88
Phụ lục 3 89

đẩy hoạt động thương mại diễn ra nhanh chóng.
Nhận thức được vai trò của người môi giới đối với sự phát triển của
thương mại, Luật thương mại năm 2005 đã đưa hoạt động môi giới vào đối
tượng điều chỉnh của Luật. Các luật chuyên ngành khác như Luật chứng
khoán năm 2006, Luật kinh doanh bất động sản năm 2006, Luật hàng hải năm
2005… cũng quy định về hoạt động môi giới trong các lĩnh vực cụ thể.
Tuy nhiên, các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại hiện nay vẫn
chưa có sự hiểu biết đầy đủ về những quy định của pháp luật đối với hoạt
động môi giới thương mại. Thêm vào đó, từ khi Luật thương mại 2005 ra đời
đến nay, hoạt động môi giới thương mại đã phát triển ngày càng đa dạng,
phức tạp, phát sinh nhiều vấn đề mới cần có sự xem xét để điều chỉnh. Vậy
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định như thế nào về môi giới
thương mại? Thực tiễn áp dụng Luật này trong bốn năm qua đã nảy sinh
những vấn đề gì? Những vấn đề gì cần được sửa đổi, bổ sung để các quy định
về môi giới thương mại sát với thực tiễn hơn, giúp hoạt động này ngày càng
phát triển, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước?
Xuất phát từ nhu cầu thiết yếu đó, tôi chọn vấn đề “Những quy định
của Luật thương mại Việt Nam năm 2005 về môi giới thương mại. Thực
tiễn áp dụng và những vấn đề đặt ra.” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp
của mình.

2

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu những quy định của Luật thương mại Việt Nam năm
2005 về môi giới thương mại, đồng thời phân tích việc áp dụng Luật trong
thực tế và chỉ ra những bất cập trong các quy định đó cũng như những vấn đề
phát sinh trong thực tiễn áp dụng; đề tài đề xuất giải pháp và kiến nghị về việc
sửa đổi, bổ sung để các quy định về môi giới thương mại của Luật này hoàn

1997.
Về mặt thời gian, khóa luận tập trung phân tích những vấn đề liên quan
đến hoạt động môi giới thương mại kể từ khi Luật thương mại năm 2005 ra
đời và dự báo về sự phát triển của hoạt động môi giới thương mại trong thời
gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, người viết đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương
pháp thống kê, phương pháp hệ thống hóa và phương pháp so sánh luật học.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội
dung khóa luận bao gồm ba chương:
Chương 1. Những vấn đề chung về hoạt động môi giới thương mại và
pháp luật về môi giới thương mại.
Chương 2. Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về môi giới
thương mại, tình hình thực thi các quy định về hoạt động môi giới thương mại
và những vấn đề đặt ra.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định của
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 về hoạt động môi giới thương mại
nhằm phát triển hoạt động môi giới thương mại trong thời gian tới.

4
Chương 1. Những vấn đề chung về hoạt động môi giới thương
mại và pháp luật về hoạt động môi giới thương mại

1.1 Hoạt động môi giới thương mại
1.1.1 Khái niệm về hoạt động môi giới thương mại
“Môi giới” là “chủ thể (một cá nhân, một nhóm, một tổ chức, một
hãng…) làm trung gian cho hai hoặc nhiều chủ thể khác để những chủ thể này
có thể tạo được quan hệ trong giao tiếp, trong hoạt động kinh doanh”

thương mại là thương nhân làm trung gian cho các bên mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ thương mại trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán
hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và được hưởng thù lao theo hợp đồng
môi giới.
Có thể thấy, Luật thương mại Việt Nam năm 1997 hiểu hoạt động
thương mại theo nghĩa rất hẹp. Do đó, phạm vi hoạt động của người MGTM
cũng chỉ thuộc lĩnh vực mua bán hàng hóa và cung ứng các dịch vụ liên quan
đến việc mua bán hàng hóa. Trong thời gian Luật thương mại năm 1997 có
hiệu lực, nhiều hoạt động môi giới nằm ngoài sự điều chỉnh của Luật nhưng
lại được quy định trong các văn bản luật khác như: Bộ luật hàng hải năm 1990
quy định về hoạt động môi giới hàng hải, Luật kinh doanh bảo hiểm năm
2000 quy định về hoạt động môi giới bảo hiểm…
3

Luật thương mại Việt Nam năm 2005 cũng có cách hiểu tương tự Luật
thương mại năm 1997 về khái niệm người môi giới thương mại. Điều 150
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định rõ rằng, “môi giới thương mại
là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên
môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được
môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ
và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới”.
Điểm khác biệt là ở chỗ, trong Luật thương mại Việt Nam năm 2005,
khái niệm về hoạt động thương mại đã được mở rộng hơn rất nhiều so với
Luật thương mại năm 1997. Theo khoản 1, Điều 3, Luật thương mại năm
2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt 3
Nguyễn Thanh Thủy (2009), Những quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005 về hoạt động trung

tạp của hoạt động trung gian thương mại. 4
Tô Cẩn (2005), Khóa đào tạo về GATS/WTO tại thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, 31/03/2005, truy cập
ngày 09/03/2010,

7
Thứ hai, hoạt động MGTM là loại hoạt động cung ứng dịch vụ thương
mại được thực hiện theo phương thức giao dịch qua trung gian.
Hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại thông thường có hai bên tham
gia. Hoạt động môi giới thương mại có ba bên tham gia: bên thuê dịch vụ môi
giới thương mại, bên môi giới thương mại và bên thứ ba. Bên môi giới có thể
hỗ trợ cho bên thuê dịch vụ môi giới trong việc gặp gỡ, giao dịch với bên thứ
ba. Mục đích của bên môi giới thương mại là nhận được thù lao mà bên thuê
dịch vụ môi giới sẽ trả cho họ.
Thứ ba, trong hoạt động MGTM, song song tồn tại hai mối quan hệ phát
sinh trên cơ sở của hai hợp đồng.
Quan hệ thứ nhất là quan hệ giữa bên thuê dịch vụ môi giới và bên môi
giới thương mại, quan hệ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng môi giới được ký
giữa người thuê môi giới và người môi giới. Quan hệ thứ hai phát sinh giữa
bên thuê dịch vụ môi giới và bên thứ ba, quan hệ này dựa trên cơ sở hợp đồng
do hai bên ký kết với nhau (có thể là hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hợp
đồng cung ứng dịch vụ). Thông thường, người môi giới đóng vai trò là người
giới thiệu bên thuê dịch vụ môi giới với bên thứ ba và không tiến hành giao
dịch với bên thứ ba.
Thứ tư, bên môi giới thương mại phải có tư cách pháp lý độc lập với bên
thuê dịch vụ môi giới và bên thứ ba.
Trong hoạt động MGTM, bên môi giới thương mại đóng vai trò là một
thương nhân độc lập với bên thuê dịch vụ môi giới và bên thứ ba. Bên môi

một trung gian đơn thuần, đứng giữa người mua và người bán, không đại diện
cho quyền lợi của bên nào. Nghĩa vụ và trách nhiệm của người môi giới được
quy định trong hợp đồng đã ký kết giữa bên thuê dịch vụ môi giới và bên môi
giới.
Thứ bảy, người môi giới không đươc tham gia vào việc thực hiện hợp
đồng giữa các bên trừ khi được bên thuê dịch vụ môi giới ủy quyền.
Theo khoản 4, Điều 151, Luật thương mại Việt Nam năm 2005, bên môi
giới thương mại “không được tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên được
môi giới, trừ trường hợp có ủy quyền của bên được môi giới”. Trong thực tế,
do hoạt động thương mại ngày càng phức tạp, phong phú và đa dạng, người

9
được môi giới muốn tiết kiệm thời gian và công sức thường ủy quyền cho
người môi giới thực hiện một số công việc khác ngoài việc kết nối người mua
và người bán. Ví dụ: người môi giới trong lĩnh vực hàng hải có thể tham gia
vào việc giao nhận hàng, làm thủ tục hải quan; người môi giới trong lĩnh vực
xuất nhập khẩu hàng hóa có thể thay mặt chủ hàng thu tiền hàng…
1.1.3 Phân biệt hoạt động MGTM và một số hoạt động trung gian
thương mại khác
Người trung gian thương mại và các hoạt động của họ là đối tượng quan
tâm của pháp luật các nước trên thế giới. Điểm chung nhận thấy trong các văn
bản pháp luật nước ngoài là khó có thể tìm thấy một định nghĩa chính thức về
hoạt động trung gian thương mại, nhưng thay vào đó có thể tìm thấy khá
nhiều quy định về từng loại người trung gian tham gia giúp đỡ để các bên xác
lập, thực hiện các giao dịch thương mại
6
. Ví dụ, Điều 1.201 Luật thương mại
Hoa Kỳ định nghĩa: “Đại diện là người đại lý, nhân viên công ty hoặc hiệp
hội, người được ủy thác trông nom, người thực hiện, người quản lý tài sản, và
bất kỳ người nào được trao quyền hành động hộ người khác”; Điều 2.210 của

thương nhân, Môi giới thương mại, Ủy thác mua bán hàng hóa, Đại lý thương
mại.
Dưới góc độ kinh tế, bên đại diện, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên
đại lý đều là người đảm nhiệm khâu phân phối hàng hóa từ người cung cấp
đến người tiêu dùng; và các hoạt động trung gian thương mại nói trên đều là
những phương thức phát triển kinh doanh.
Dưới góc độ pháp lý, bốn loại hình trung gian thương mại được đề cập
đến trong Luật thương mại năm 2005 có những điểm khác nhau. Cụ thể:
 Hoạt động MGTM và hoạt động Đại diện cho thương nhân (xem Bảng 1)
Theo Điều 141, Luật thương mại Việt Nam năm 2005: “Đại diện cho
thương nhân là việc một thương nhân nhận ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) của
thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động
thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được 7
Phạm Duy Liên (2005), Sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam – thực
trạng và giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, tr6-7, Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội.

11
hưởng thù lao về việc đại diện”. Hình thức này thường xuất hiện khi quy mô
hoạt động kinh doanh chưa lớn, việc đặt văn phòng đại diện là không có lợi,
hoặc bên giao đại diện gặp nhiều khó khăn về mặt nhân sự.
Bảng 1: So sánh hoạt động MGTM và hoạt động Đại diện cho thương nhân
Hoạt động MGTM
Hoạt động Đại diện cho thương nhân
Bên môi giới hỗ trợ cho bên được môi
giới trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa; bên môi giới đóng vai trò là
cầu nối để người mua và người bán gặp gỡ

dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp
luật).
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ những quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005.
 Hoạt động MGTM và hoạt động Ủy thác mua bán hàng hóa (xem Bảng 2)
Theo Điều 155, Luật thương mại Việt Nam năm 2005: “Ủy thác mua bán
hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận ủy thác thực hiện việc

12
mua bán hàng hóa với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa
thuận với bên ủy thác và được nhận thù lao ủy thác”.
Bảng 2: So sánh hoạt động MGTM và hoạt động Ủy thác mua bán hàng hóa
Hoạt động MGTM
Hoạt động Ủy thác mua bán hàng hóa
Bên môi giới đóng vai trò là cầu nối để người
mua và người bán gặp nhau, là trung gian trong việc
đàm phán, giao kết hợp đồng; không tham gia thực
hiện hợp đồng giữa các bên (trừ khi được ủy quyền).
Bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán
hàng hóa cho bên ủy thác.
Bên môi giới hoạt động với danh nghĩa của
chính mình, không đại diện cho quyền lợi của bên nào
trong các bên được môi giới.
Bên nhận ủy thác hoạt động với danh nghĩa
của chính mình, đại diện cho quyền lợi của bên ủy
thác.
Bên môi giới có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về
tư cách pháp lý của bên được môi giới, không chịu
trách nhiệm về khả năng thanh toán của họ.
Bên nhận ủy thác có nghĩa vụ liên đới chịu
trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên

khách hàng.
Bên môi giới hoạt động với danh nghĩa của chính
mình, không đại diện cho quyền lợi của bên nào, không
tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên (trừ trường
hợp được ủy quyền).
Bên đại lý hoạt động với danh nghĩa
của chính mình; đứng tên trên hợp đồng, là
chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ.
Quan hệ giữa bên môi giới và bên được môi giới
là quan hệ hợp đồng từng lần, ngắn hạn.
Quan hệ giữa bên đại lý và bên giao đại
lý là quan hệ hợp đồng dài hạn.
Bên môi giới không có quyền quyết định giá bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các bên được môi giới.
Đại lý bao tiêu có quyền quyết định giá
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách
hàng.
Hợp đồng môi giới không nhất thiết phải lập thành
văn bản.
Hợp đồng đại lý phải được lập thành
văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị
pháp lý tương đương.
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ những quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005.
1.1.4 Vai trò của hoạt động môi giới thương mại
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, nhu cầu mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ của các chủ thể trong nền kinh tế ngày càng tăng, yêu cầu
về chất lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng khắt khe. Số lượng thương nhân
cung cấp các hàng hóa, dịch vụ trên thị trường rất nhiều; người có nhu cầu
mua các hàng hóa, dịch vụ lại không thể nắm bắt hết các thông tin về sản

vụ mà mình có thế mạnh, tìm kiếm lợi nhuận tối đa. Như vậy, người môi giới
thương mại giúp cho tất cả các hoạt động sản xuất, phân phối, tiêu dùng đều
đạt hiệu quả.

15
Thông qua việc sử dụng dịch vụ môi giới thương mại, các nhà kinh
doanh có thể hình thành mạng lưới tiêu thụ hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên
phạm vi rộng, tạo điều kiện cho để mở rộng, chiếm lĩnh thị trường.
Trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế nói riêng, người môi giới thương mại
đóng vai trò là cầu nối để các nhà xuất nhập khẩu ở các nước khác nhau có
thể dễ dàng ký kết hợp đồng với nhau. Các nhà môi giới thương mại nắm
được nhiều thông tin về các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, có hiểu biết về văn
hóa, phong tục tập quán kinh doanh của các nước. Nhờ đó, họ có thể trợ giúp
bên mua và bên bán vượt qua các rào cản, tiến hành đàm phán và ký kết hợp
đồng thương mại quốc tế.
Thứ hai, hoạt động môi giới thương mại thúc đẩy sản xuất, lưu thông
hàng hóa, từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.
Hoạt động môi giới thương mại khiến cho lượng hàng hóa lưu thông
tăng, giao lưu kinh tế giữa các địa phương trong một nước và giữa các quốc
gia phát triển mạnh. Ngày 21/9/1953, Liên minh quốc tế của những người đại
lý và môi giới thương mại (International Union of Commercial Agents and
Brokers – viết tắt là IUCAB) ra đời. Sự kiện này cho thấy vai trò quan trọng
của hoạt động môi giới thương mại nói riêng và trung gian thương mại nói
chung trong thương mại quốc tế. Hiện nay, thành viên của IUCAB bao gồm
20 hiệp hội của các nhà đại lý thương mại và môi giới độc lập, đại diện cho
gần 47.000 hãng đại lý thương mại với 1,2 triệu đại lý trải suốt Châu Âu, Bắc
và Nam Mỹ
8
.
Nhờ vào hoạt động môi giới thương mại, quá trình lưu thông hàng hóa

chính sách pháp luật của Nhà nước.
Sự hình thành và phát triển của hoạt động môi giới thương mại hỗ trợ
đắc lực cho nhu cầu giao dịch ngày càng đa dạng và phức tạp của các chủ thể
trong nền kinh tế, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu về quản lý hoạt động môi
giới. Thêm vào đó, thông qua các giao dịch môi giới trên thị trường, những
điểm không phù hợp với thực tế của các quy định pháp luật sẽ bộc lộ. Đây là
cơ sở để Nhà nước sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, giúp thị
trường hoạt động hiệu quả và ổn định.
1.2 Pháp luật về hoạt động môi giới thương mại

17
1.2.1 Sự cần thiết phải có pháp luật điểu chỉnh hoạt động môi giới
thương mại
Thứ nhất, pháp luật về hoạt động MGTM ra đời sẽ hợp pháp hóa nghề
môi giới, giúp người dân có cái nhìn tích cực về hoạt động này.
Trên thế giới, người môi giới thương mại xuất hiện từ rất sớm. Trong
thời kỳ phong kiến, người môi giới đã xuất hiện trong mối quan hệ giữa vua
chúa và thương gia
9
. Bước sang thời kỳ xã hội tư bản, hoạt động môi giới
thương mại đã phát triển đạt đến trình độ cao. Họ thành lập nên các tổ chức
với những quy định chặt chẽ mà điển hình là các Sở giao dịch hàng hóa. Họ
xuất hiện trong nhiều lĩnh vực kinh doanh, từ bất động sản, chứng khoán cho
đến bảo hiểm, logistics; thậm chí ở cả lĩnh vực hôn nhân, giáo dục và việc
làm… Theo thống kê của Liên minh quốc tế của những người đại lý và môi
giới thương mại (IUCAB), mỗi năm, các thành viên của tổ chức này (bao gồm
20 hiệp hội đại diện cho các đại lý thương mại độc lập và các nhà môi giới) đã
đóng góp cho nền kinh tế các nước Châu Âu, Bắc và Nam Mỹ một khoản thu
nhập xấp xỉ 2,4 tỉ đô la Mỹ (tương đương 2,1 tỉ euro)
10

1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động môi giới
thương mại
Ở Việt Nam, hoạt động môi giới thương mại được điều chỉnh bởi Luật
thương mại Việt Nam năm 2005 và các Luật chuyên ngành khác như Luật
chứng khoán năm 2006, Luật kinh doanh bất động sản năm 2006… Các văn
bản này thường quy định về chức năng, vị trí, vai trò của người trung gian
môi giới, về quan hệ giữa bên môi giới và bên được môi giới…
Các Luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động môi giới thương mại trong
các lĩnh vực cụ thể như chứng khoán, bất động sản, hàng hải, bảo hiểm… Do
đó, các điều khoản của chúng thường chi tiết và tỉ mỉ hơn Luật thương mại
năm 2005. Tuy nhiên, xét một cách cơ bản, Luật thương mại Việt Nam năm
2005 và các Luật chuyên ngành khác tập trung điều chỉnh hoạt động môi giới
thương mại ở những nội dung sau:
1.2.2.1 Quy định về phạm vi điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động
môi giới
Hoạt động môi giới nói chung được điều chỉnh bởi bộ Bộ luật dân sự
năm 2005. Hoạt động môi giới thương mại do Luật thương mại năm 2005
điều chỉnh. Hoạt động môi giới trong từng lĩnh vực cụ thể được quy định

19
trong các luật chuyên ngành. Ví dụ: hoạt động môi giới hàng hải được quy
định trong Bộ luật hàng hải năm 2005, hoạt động môi giới chứng khoán do
Luật chứng khoán năm 2006 điều chỉnh…
1.2.2.2 Quy định về điều kiện để thương nhân được tiến hành hoạt động
môi giới thương mại
Theo Điều 150, Luật thương mại Việt Nam năm 2005, môi giới thương
mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là
bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên
được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa,
dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới. Như vậy, theo Luật

1.2.2.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của bên môi giới và bên được môi
giới
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định rõ về quyền, nghĩa vụ
của bên môi giới và nghĩa vụ của bên được môi giới. Luật thương mại Việt
Nam năm 2005 không đề cập đến quyền của bên được môi giới.
Từ khái niệm về hoạt động môi giới thương mại (Điều 150, Luật thương
mại Việt Nam năm 2005) có thể suy ra, nghĩa vụ quan trọng nhất của bên môi
giới là làm trung gian để các bên được môi giới đàm phán, giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa, dịch vụ. Quyền quan trọng nhất của bên môi giới là được
hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới.
Cụ thể, Điều 151 Luật thương mại Việt Nam năm 2005 nêu lên bốn
nghĩa vụ của bên môi giới. Trong đó, đáng chú ý nhất là nghĩa vụ chịu trách
nhiệm về tư cách của các bên được môi giới, nhưng không chịu trách nhiệm
về khả năng thanh toán của họ. Đồng thời, bên môi giới không được tham gia
thực hiện hợp đồng giữa các bên được môi giới.
Song song với những nghĩa vụ được quy định tại Điều 151, bên môi giới
có quyền hưởng thù lao môi giới. Quyền này phát sinh từ thời điểm các bên

21
được môi giới đã ký hợp đồng với nhau, trừ khi có thỏa thuận khác (khoản 1,
Điều 153). Mức thù lao môi giới, nếu không được thỏa thuận trong hợp đồng
môi giới, sẽ được xác định theo giá của dịch vụ môi giới trong các điều kiện
tương tự về phương thức và thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương
thức thanh toán…(khoản 2, Điều 153).
Tương ứng với quyền của bên môi giới, bên được môi giới có nghĩa vụ
trả thù lao và chi phí hợp lý khác cho bên môi giới; đồng thời cung cấp thông
tin, tài liệu, phương tiện cần thiết liên quan đến hàng hóa, dịch vụ (khoản 1, 2,
Điều 152).
So với Luật thương mại Việt Nam năm 2005, các luật chuyên ngành có
những quy định tỉ mỉ hơn về quyền và nghĩa vụ của bên môi giới thương mại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status