Xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam Chi nhánh Đông Hà Nội - Pdf 39

Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN
------------

NGUYễN ĐìNH TUấN

Xử Lý Nợ XấU TạI NGÂN HàNG THƯƠNG MạI Cổ PHầN ĐầU TƯ
Và PHáT TRIểN VIệT NAM CHI NHáNH ĐÔNG Hà NộI
Chuyên ngành: kinh tế TàI CHíNH - NGÂN HàNG

Ngời hớng dẫn khoa học:
TS. Đỗ HOàI LINH

Hà nội - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập
của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng.

Tác giả luận văn

Nguyễn Đình Tuấn


LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô Viện Ngân hàng –
Tài chính, các thầy cô Viện sau đại học và toàn thể các thầy cô giáo của Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân. Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo, các
cán bộ tại UBND tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình hoàn

USD
CV QLQHKH
(CRO)
TP QHCN/
KHDN/PGĐ
CRO
TGĐ.
VAMC,
CIC
CRM


DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
BẢNG


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiếp của đề tài
Nhìn lại chặng đường 30 năm đổi mới đất nước chuyển từ cơ chế bao cấp sang
cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ngân hàng thương mại với vai
trò quan trọng của mình đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặt ra và có những đóng
góp to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội đất nước. Là tổ chức tín dụng
trong nền kinh tế, ngân hàng tham gia nhiều hoạt động với nhiều loại hình dịch vụ,
nhiều chức năng khác nhau nhưng hoạt động chủ yếu của ngân hàng là một định
chế tài chính trung gian, thực hiện huy động vốn và tập trung nguồn vốn nhàn rỗi
trong nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu vốn để sản xuất kinh doanh. Những khoản
nợ xấu từ đó cũng xuất hiện như là một phần tất yếu trong hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng, được xem là nguyên nhân cơ bản gây tắc nghẽn sự lưu thông lành

Việt Nam, từ hội sở đến các chi nhánh đều đã thành lập ban xử lý nợ xấu với mục
tiêu thu hồi tối đa số vốn Ngân hàng đã cho vay ở các khoản nợ có vấn đề.
Từ nhận thức tầm quan trọng trong việc xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương
mại và với mong muốn đề ra giải pháp hữu ích để xứ lý nợ xấu cho ngân hàng
thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam thành công, tác giả chọn đề tài:
“Xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam
Chi nhánh Đông Hà Nội” làm đề tài luận văn cao học.
2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại.
3. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Được giới hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và
Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Hà Nội.
Về thời gian: Xử lý nợ xấu trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm
2014 và định hướng hoạt động tín dụng và quản lý nợ xấu năm 2020. Vì trong
giai đoạn 2012 - 2014 tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và
Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Hà Nội ở mức rất cao, vượt quá ngưỡng an
toàn 3% - theo quy định Thông tư 08/2010/TT-NHNN, Ngân hàng thuộc vào diện
bị kiểm soát đặc biệt.
4. Nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn dữ liệu:
 Đối với bên trong ngân hàng thương mại: cần các thông tin trên báo cáo tài
chính, tỷ lệ nợ xấu, tốc độ tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn 2012 – 2014, trích
lập dự phòng và tài sản đảm bảo cho các khoản nợ xấu.
 Đối với bên ngoài ngân hàng thương mại: Thông tin dư nợ tín dụng qua
mạng, báo chí, sách giáo trình tài chính doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, thông


3

tin từ các hiệp hội.



4

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Rủi ro tín dụng và nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại
1.1.1. Rủi ro tín dụng
Tín dụng ngân hàng là giao dịch giữa Ngân hàng và bên đi vay (là các tổ chức
kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên
đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, và bên đi vay có trách
nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn nhất cho Ngân hàng, và có
vị trí rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đồng thời đó cũng
là hoạt động tiềm ẩn rủi ro.
Theo điều 3.1 quyết định số: 02/2013/TT-NHNN: Rủi ro tín dụng là khả năng
xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực
hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Biểu hiện trên thực tế thông qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả
nợ không đúng hạn cho ngân hàng, nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khẩu
công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh
toán của ngân hàng… nhưng luận văn chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu biện
pháp xử lý nợ xấu từ hoạt động cho vay của ngân hàng.
1.1.2. Nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng
1.1.2.1. Khái niệm về nợ xấu
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF): “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi tiền
thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh

tế vĩ mô khó khăn, làm giảm khả năng trả nợ của người vay khiến chất lượng tài sản
của hệ thống ngân hàng suy giảm, nợ xấu của ngân hàng thương mại tăng cao.
Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh là điều kiện rất dễ dẫn đến tình trạng
tăng trưởng tín dụng quá mức, khách hàng sử dụng vốn tập trung đầu tư vào nhiều
lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao, đến khi những lĩnh vực này không có điều kiện kinh
doanh tốt thì kéo theo khách hàng mất khả năng thanh toán và nợ xấu tăng cao. Bên
cạnh đó việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn từ bên ngoài quốc gia, hiệu quả
hoạt động giám sát hệ thống, ảnh hưởng từ những cú sốc bên ngoài cũng khiến nợ


6

xấu ngân hàng tăng cao.
• Từ phía các khách hàng: Phần lớn các khách hàng tìm đến các tổ chức tín
dụng để vay vốn để đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất trong các ngành, lĩnh vực khác
nhau. Nhưng các khách hàng phán đoán không chính xác xu hướng phát triển của thị
trường cũng như không có sự đánh giá kỹ lưỡng trước khi sử dụng nguồn vốn vay,
điều đó dẫn đến sự mất cân bằng trong cung cầu. Một số khách hàng khi thực hiện
các dự án lớn lại chia nhỏ dự án để tìm tài trợ từ nhiều ngân hàng khác nhau, qua đó
nhằm giúp khách hàng dễ dàng hơn trong việc vay vốn từ ngân hàng cũng như giảm
bớt sự kiểm soát của ngân hàng. Chính những điều này làm cho ngân hàng gặp khó
khăn trong việc kiểm soát các khoản cho vay, dẫn đến tình trạng nợ xấu. Mặt khác,
nhiều khách hàng sử dụng đòn bẩy tài chính kém hiệu quả, hoạt động kinh doanh yếu
kém, thua lỗ. Khi nền kinh tế bộc lộ những bất ổn vĩ mô, lạm phát bị đẩy lên ở mức
cao, sức mua giảm sút thì tình trạng tồn kho kéo dài. Điều này khiến nhiều khách
hàng ứ dọng vốn, không có khả năng thu hồi để trả nợ cho ngân hàng, từ đó trở thành
nguyên nhân gia tăng nợ xấu cho ngân hàng.
• Từ bản thân ngân hàng: Nguyên nhân này do nhiều yếu tố gây ra, bao gồm:
 Thiếu kinh nghiệm và hạn chế trong kỹ năng quản lý: Ngân hàng thiếu
những biện pháp hiệu quả để xác định, định hướng và kiểm soát rủi ro trong từng

mại có những biện pháp ứng phó, giảm thiểu nợ xấu cũng như là tác hại của nợ xấu
đối với các hoạt động. Do đó, NHTM cần thực hiện định kỳ và đột xuất ngay khi
khách hàng hoặc khoản vay, cũng như bên trong bản thân ngân hàng có những biểu
hiện nhất định. Dựa vào “Tín hiệu cảnh báo về những khoản cho vay có vấn đề”
(Peter S.Rose, 2005, trang 647), có thể khái quát những dấu hiệu đó xuất phát từ hai
phía: Khách hàng và Ngân hàng thương mại.
• Nhóm dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng:
 Dấu hiệu phi tài chính
Hành vi của khách hàng
- Đối với cả khách hàng là cá nhân hay khách hàng là doanh nghiệp, đơn vị
tổ chức kinh doanh thường tìm cách tránh gặp ngân hàng, miễn cưỡng hoặc chậm
cung cấp thông tin tài chính khi nhận thấy hoạt động kinh doanh đang gặp vấn đề và
sẽ thường có xu hướng liên lạc với ngân hàng ít hơn so với khi đang làm ăn tốt.
Trong hoạt động cho vay của ngân hàng, việc khách hàng không giữ uy tín, không
thực hiện đầy đủ các quy định, khách hàng tỏ ra không đáng tin, vi phạm pháp luật
trong quá trình quan hệ tín dụng sẽ là một dấu hiệu rõ nét tiềm ấn nguy cơ nợ xấu.


8

- Những thay đổi bất thường, ngoài dự kiến và không được giải thích trong
số dư tiền gửi của khách hàng mở tại Ngân hàng.
Khả năng quản lý của khách hàng
- Bằng chứng phát sinh mâu thuẫn trong nội bộ công ty, đặc biệt là trong đội
ngũ cán bộ quản lý: Việc xảy ra mâu thuẫn giữa những người điều hành, có thể ảnh
hưởng không nhỏ đến tình hình kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thu để trả
nợ, tiềm ẩn nợ xấu.
- Nghỉ ốm dài hoặc bất ngờ, mất của những khách hàng là cá nhân hay là
những nhân sự chủ chốt, mất các nhà quản lý cấp cao: Sự thay đổi bất ngờ và bất
thường của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp, cũng như khách hàng cá nhân là

Kết quả kinh doanh
Đối với khách hàng là doanh nghiệp:
- Doanh thu tăng quá nhanh nhưng vốn lưu động không sẵn sàng đủ do
tăng cường chính sách bán chịu, chịu sức ép cạnh tranh, chênh lệch lợi nhuận
biên thấp sẽ ảnh hưởng tới vốn duy trì hoạt động cũng như khả năng thanh toán
của khách hàng.
- Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thấp hơn mức bình quân của ngành
- Các khoản thu nhập và chi phí bất thường tăng đột biến.
- Xuất hiện lỗ ròng hoặc lưu chuyển tiền tệ âm: Một doanh nghiệp sẽ không
thể duy trì được lâu sự tồn tại của mình trong những điều kiện như vậy.
Đối với khách hàng là cá nhân:
Khách hàng làm ăn thua lỗ, không có thu nhập, bế tắc trong hoạt động kinh
doanh, hoặc khách hàng nghỉ việc, mất việc làm đột ngột, thay đổi bất ngờ không có
thu nhập khác để trang trải, đáp ứng khả năng chi trả khoản vay cho ngân hàng.
Tài sản đảm bảo
- Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút so với định
giá khi cho vay. Có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê, sử dụng, bán hoặc biến
mất, không còn tồn tại.
Tài sản cố định
- Giá trị còn lại tài sản cố định giảm mạnh: Khách hàng thực hiện bán, thanh
lý tài sản nằm ngoài kế hoạch thay mới, dấu hiệu khách hàng có thể gặp khó khăn,
chuyển đối tài sản cố định thành tài sản có tính lỏng cao hơn, thuận tiện cho việc
thu hẹp hoặc ngừng hoạt động.


10

- Tốc độ đầu tư tài sản cố định tăng quá nhanh: Việc đầu từ tài sản cố định
quá mức, nằm ngoài khả năng tài chính cũng như huy động vốn của khách hàng sẽ
ảnh hưởng tới khả năng thanh toán cũng như vốn lưu động phục vụ kinh doanh của

11

đồng tín dụng với khách hàng mà làm trái các nguyên tắc tín dụng, mặc dù biết có
rủi ro tiềm ẩn nhưng nhằm chuộc lợi cho bản thân.
1.2. Xử lý nợ xấu trong Ngân hàng thương mại
Nợ xấu ngân hàng có tác động trực tiếp tới hoạt động của chính bản thân ngân
hàng và từ đó gây ra toàn bộ tác động tới hệ thống ngân hàng, dẫn đến những mối
nguy hại cho nền kinh tế. Do vậy, việc xử lý nợ xấu trong ngân hàng thương mại là
vô cùng quan trọng.
1.2.1. Khái niệm xử lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại.
Hiện nay chưa có khái niệm chính thức về xử lý nợ xấu, nhưng chúng ta có thể
khái quát xử lý nợ xấu như sau: “xử lý nợ xấu là việc thực hiện các biện pháp nhằm
Quy trình các bước xử lý các

giảm thiếu mức độ thiệt hại
có thể
xảy
từ khoản
khoản
nợ có
dấurahiệu
nợ xấu nợ xấu, góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động tín dụng”.
1.2.2. Quy trình xử lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại
Hiện
nay chưa có
xử lý nợ
dựa viên
trên XLN
quy của

lên lý
Tổng
tài liệu
XLN
và thương
hiện
việcchủ
cungyếu
cấp đượcĐVKD
tìnhhai
trình
nợ xấutin,
của
Ngân
hàng
mại
thực đánh
hiệngiáqua
Giám Đốc đề xuất
chịu trách nhiệm
hồ sơ khoản nợ để
trạng hồ sơ khoản vay,
bước
chính:
xử lý các
nợdựng
xấu phương
và xử lý cáctình
khoản
nợ xấu.(7)

kiểm tra toàn bộ hồ
sơ khoản nợ được
cung cấp theo yêu
cầu và ghi nhận
hiện trạng hồ sơ.
(6)

Đưa ra yêu cầu đánh
giá lại TSBĐ nếu xét
thấy giá trị TSBĐ có
thể thay đổi nhiều so
với giá trị khi định giá
cho vay hoặc giá trị
định giá của TSBĐ đã
quá hạn kể từ ngày
định giá gần nhất. (8)

Bước 1: Xử lý khoản nợ có dấu hiệu nợ xấu
Quy trình các bước xử lý khoản nợ có dấu hiệu nợ xấu được thực hiện theo
trong sơ đồ sau:

Trong từng giai
đoạn xử lý, ban
xử lý nợ sẽ yêu
cầu đơn vị kinh
doanh cung cấp
hồ sơ nếu cần
thiết.
(12)



Sơ đồ 1.1: Quy trình các bước xử lý khoản nợ có dấu hiệu nợ xấu của
Ngân hàng thương mại
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ các NHTM).
Bước 1.1. Đề xuất
Bước đề xuất được quy định tại số 1, 2, 3, 4 trong sơ đồ 1.1, trong quá trình
quản lý các khoản nợ, nếu phát sinh các khoản nợ có dấu hiệu của nợ xấu thì Ngân
hàng thương mại cần lập báo cáo trình lên Tổng Giám Đốc thông qua khối Pháp
chế, GSKD & XLN về việc đề xuất chuyển các khoản nợ này sang phòng Giám sát


13

kinh doanh và xử lý nợ để phối hợp xử lý.
• Nếu Tổng Giám Đốc không đồng ý, đơn vị kinh doanh tiếp tục theo dõi,
quản lý và đôn đốc khoản vay.
• Nếu Tổng Giám Đốc đồng ý phê duyệt thì:
 Ban xử lý nợ - Phòng GSKD & XLN là đơn vị đầu mối tiếp nhận thông tin,
tài liệu xử lý nợ và chịu trách nhiệm xem xét, đánh giá, đề xuất phương án xử lý nợ
trên cơ sở đề xuất của đơn vị kinh doanh.
 Chuyên viên xử lý nợ của ban GSKD & XLN sẽ trực tiếp nghiên cứu, đánh
giá hồ sơ và đưa ra phương án xử lý thông qua sự tư vấn, hỗ trợ từ chuyên viên xử
lý nợ của Ban xử lý nợ được hỗ trợ theo khu vực và sự phối hợp, hỗ trợ của đơn vị
kinh doanh phát sinh nợ có dấu hiệu nợ xấu
Bước 1.2. Cung cấp hồ sơ:
Bước cung cấp hồ sơ được quy định tại số 5, 6, trong sơ đồ 1.1.
• Sau khi được phân công trực tiếp xử lý hoặc hỗ trợ, chuyên viên xử lý nợ
của ban xử lý nợ yêu cầu đơn vị kinh doanh thực hiện việc cung cấp hồ sơ khoản nợ
theo danh mục cụ thể và tờ trình đề xuất thông qua chuyên viên xử lý nợ của ban
giám sát kinh doanh và xử lý nợ để nghiên cứu và xây dựng phương án xử lý.

• Trong từng giai đoạn xử lý, ban xử lý nợ sẽ yêu cầu ĐVKD cung cấp hồ sơ
nếu cần thiết.


15

Bước 2: các bước xử lý các khoản nợ xấu
Quy trình các bước xử lý
các khoản nợ xấu

ĐVKD hàng tháng
cập nhật và thông
báo về ban GSKD
&XLN các khoản nợ
cần xử lý và cung
cấp hồ sơ về ban
GSKD và XLN để
phối hợp xử lý nợ
xấu. (1)

Ban GSKD &XLN
đánh giá chi tiết hồ sơ
khoản nợ, các điều
kiện, khả năng của
khách hàng, xây dựng
kế hoạch và biện pháp
xử lý trình cấp thẩm
quyền. (2)

Các chuyên viên xử lý

hỗ trợ ban GSKD &
XLN trong công tác
XLN và kiểm tra, đốc
thúc công tác XLN
của ban GSKD &
XLN. (6)

Sơ đồ 1.2: Quy trình các bước xử lý các khoản nợ xấu của
Ngân hàng thương mại
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ các NHTM).
Theo sơ đồ trên, quy trình xử lý các khoản nợ xấu được thực hiện qua 3 bước
sau đây:
Bước 2.1. Thông báo tình trạng nợ và cung cấp hồ sơ
Bước thông báo tình trạng nợ và cung cấp hồ sơ được quy định tại số 1 của sơ đồ 1.2.


16

• Hàng tháng, các khoản nợ cần xử lý được đơn vị kinh doanh cập nhật và
thông báo về ban GSKD & XLN và cung cấp hồ sơ theo danh mục cụ thể về ban
GSKD & XLN để phối hợp xử lý.
Bước 2.2. Đánh giá hồ sơ và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
Bước đánh giá hồ sơ và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt được quy định tại
số 2, 3, 4 của sơ đồ 1.2.
• ĐVKD phát sinh nợ xấu: đánh giá chi tiết hồ sơ khoản nợ, các điều kiện,
khả năng của khách hàng, xây dựng kế hoạch và biện pháp xử lý trình cấp thẩm
quyền thông qua ban GSKD & XLN.
• Các chuyên viên xử lý nợ của ban GSKD & XLN: là đầu mối (dưới sự giám
sát và tư vấn của ban xử lý nợ) để đánh giá lại hồ sơ khoản nợ, các điều kiện, khả năng
của khách hàng, xây dựng đề xuất độc lập với ĐVKD và cung cấp hồ sơ cho ban xử lý

của ngân hàng, nhưng không phản ảnh được trong tổng dư nợ đó có bao nhiêu là nợ
không có khả năng thu hồi và bao nhiêu là nợ có khả năng thu hồi. Tuy nhiên, nếu
tổng nợ xấu của ngân hàng gia tăng trong thời gian dài chứng tỏ một điều rằng
NHTM yếu kém về quản trị rủi ro nói chung và kết quả xử lý nợ xấu là chưa được
hiệu quả, bên cạnh đó nó cho biết chính sách minh bạch hóa quan hệ tín dụng giữa
Ngân hàng và khách hàng. Nếu tổng số nợ xấu của Ngân hàng thương mại cao, gia
tăng phản ánh một điều rằng, NHTM đã và đang chủ trương minh bạch hóa quan hệ
tín dụng, thông tin tài chính và ngược lại.
• Tỷ lệ Tổng nợ xấu/Tổng dư nợ
Bên cạnh con số về tổng nợ xấu của Ngân hàng thương mại thì chúng ta còn
dùng tỷ lệ nợ xấu để phân tích thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại ngân
hàng, phản ánh mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng. Tổng nợ xấu của Ngân hàng
thương mại bao gồm nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ quá hạn chuyển về nợ trong hạn, và
như vậy chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đơn vị tiền tệ khi Ngân hàng cho vay thì có
bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà Ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi hoặc
không thu hồi được đúng hạn tại thời điểm xác định. Đồng thời phản ánh khả năng
quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay, cũng như phản ánh mức độ
hiệu quả các biện pháp xử lý nợ xấu, công tác đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối
với khoản vay. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng
càng kém và ngược lại, tuy nhiên con số này được đo tại một thời điểm nhất định
nên không phản ánh hoàn toàn chính xác chất lượng tín dụng của Ngân hàng.
• Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Theo Thông tư số 02/2013/NHNN khoản 6 điều 3 nêu rõ: Nợ quá hạn là khoản
nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/ hoặc lãi đã quá hạn.
Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả
đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ. Khi một


18


nợ xấu của Ngân hàng thương mại: Nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan.
• Nhân tố chủ quan:


19

 Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ tín dụng Ngân hàng
thương mại: Trước hơn hết là nhân tố con người của Ngân hàng thương mại. Việc
cán bộ tín dụng thiếu năng lực, thiếu trình độ chuyên môn và tư cách đạo đức kém
sẽ dãn tới những sai sót khi thẩm định, phân tích đánh giá khi đưa ra ra các quyết
định cho vay, làm tăng khả năng mất vốn của ngân hàng. Nhưng với đội ngũ nhân
viên giàu kinh nghiệm, có năng lực, trình độ chuyên môn tốt thì họ sẽ xây dựng
được chỉ tiêu về nợ xấu một cách sao cho phù hợp, đem lại hiệu quả cao trong việc
xử lý nợ xấu cho Ngân hàng thương mại.
 Chính sách quản lý rủi ro: Bản thân hoạt động cho vay của ngân hàng luôn
chứa đựng rủi ro, vì vậy việc xây dựng chính sách quản lý rủi ro là kim chỉ nam cho
hoạt động cho vay. Nhằm điều chỉnh hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động
cho vay nói riêng phù hợp với chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng thời
kỳ. Việc tăng cường hay nới lỏng quản lý, xử lý nợ xấu là theo định hướng và mức
độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, tùy theo tỷ lệ nợ xấu đang ở mức bao nhiêu mà
ngân hàng sẽ có những điều chỉnh, biện pháp hiệu quả nhằm quản lý và kiểm soát
nợ xấu.
 Mô hình tổ chức và quản trị điều hành: Mô hình tổ chức có tác động trực
tiếp đến lập kế hoạch và triển khai công tác xử lý nợ xấu, với Ngân hàng thương
mại có mô hình tổ chức rõ ràng, phân rõ cụ thể chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận
sẽ giúp Ngân hàng thương mại vận hành một cách trôi chảy, và đạt hiệu quả tối ưu
trong công tác xử lý nợ xấu. Bên cạnh đó, ban quản trị điều hành của Ngân hàng
cũng là nhân tố quan trọng trong việc đưa ra những quyết định, định hưởng rõ ràng
cho cán bộ tín dụng, nhất quản trong việc thực hiện kiểm soát và xử lý nợ xấu theo
đúng như quan điểm mà ban lãnh đạo đã đưa ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status