TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH tác ĐỘNG của PHÂN hóa GIÀU NGHÈO đến xây DỰNG TIỀM lực CHÍNH TRỊ TINH THẦN nền QUỐC PHÒNG TOÀN dân ở VIỆT NAM - Pdf 39

MỞ ĐẦU
Phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng kinh tế, đồng thời là một hiện tượng
mang tính chính trị, văn hoá, xã hội rất phức tạp. Cùng với quá trình chiếm hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất và phân công lao động xã hội là quá trình phân hoá về phân
phối sản phẩm và trình độ lao động, theo đó phân hóa giàu nghèo xuất hiện. Khi
nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phân hóa
giàu nghèo có xu hướng ngày càng gia tăng, tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, trong đó tác động trực tiếp đến xây dựng nền quốc phòng toàn
dân. Đảng ta khẳng định: Thực hiện nền kinh tế thị trường chúng ta thừa nhận trên
thực tế “Khoảng cách chênh lệnh giàu nghèo còn khá lớn và ngày càng doãng ra”1.
Phân hóa giàu nghèo quá mức góp phần làm gia tăng sự hình thành chênh
lệnh về chất lượng sống của các giai tầng xã hội, tạo nên sự phân hoá xã hội, gây
mất ổn định chính trị xã hội, phá vỡ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng của
nhân dân. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới đòi hỏi phải có một chiến lược tổng
hợp xây dựng, củng cố về lực lượng, tiềm lực và thế trận quốc phòng vững chắc.
Những năm gần đây, đời sống đại bộ phận nhân dân được cải thiện,
chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững, lòng tin của nhân dân
vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng được nâng lên. Song, một
bộ phận không nhỏ nhân dân còn nhiều khó khăn, xoá đói giảm nghèo chưa
bền vững, khoảng cách chênh lệnh giàu nghèo còn lớn làm cho phân hóa giàu
nghèo có xu hướng gia tăng, dẫn đến nhân dân có những bức xúc về tư tưởng
và tình cảm, biểu hiện thiếu tin tưởng vào chủ trương đường lối quốc phòng
toàn dân của Đảng, còn tâm trạng còn bi quan, dao động thiếu ý chí phấn đấu
vươn lên… Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cần phải có giải pháp phát huy tác
động tích cực, khắc phục tác động tiêu cực của phân hóa giàu nghèo đến xây
dựng nền quốc phòng toàn dân ở Việt Nam hiện nay. Từ những lý do trên tôi
chọn vấn đề nghiên cứu: “Tác động của phân hóa giàu nghèo đến xây dựng
tiềm lực chính trị - tinh thần nền quốc phòng toàn dân ở Việt Nam”.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà nội 2011, tr.168

cho bản thân, gia đình và xã hội.
Quan niệm về nghèo: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã


được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của
địa phương1. Theo đó, có thể quan niệm nghèo là những người có mức thu nhập
bình quân thấp hơn nhiều lần so với thu nhập bình quân đầu người của cả
nước; họ không được hưởng thoả mãn về nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần;
không có tư liệu sản xuất và ít tư liệu tiêu dùng; không có tài sản, của cải có giá
trị lớn; chất lượng sống thấp; không có khả năng mở rộng sản xuất.
Tiêu chí đánh giá nghèo dựa theo mức chuẩn nghèo của Chính Phủ. Theo
đó, mức chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2010-2015 đối với khu vực nông
thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở
xuống là hộ nghèo; khu vực thành thị những hộ có mức thu nhập bình quân từ
500.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo. Mức cận nghèo ở nông thôn
những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đến 520.000 đồng/người/tháng
và ở thành thị những hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đến 650.000
đồng/người/tháng là hộ cận nghèo.
Có hai loại nghèo là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối
là tình trạng bộ phận dân cư không có khả năng thoã mãn những nhu cầu tối
thiểu nhằm duy trì cuộc sống, đó là tình trạng con người không có ăn, không đủ
lượng dinh dưỡng tối thiểu, cần thiết. Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận
dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất
định, nghèo tương đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định tuỳ vào
mức sống chung của xã hội. Trên thực tế, chỉ có thể xoá được nghèo tuyệt đối,
còn nghèo tương đối thì luôn tồn tại hiện diện ở bất kể quốc gia nào, ở trình độ
phát triển kinh tế nào.
Phân hoá giàu nghèo
Có khá nhiều quan điểm khác nhau về phân hóa giàu nghèo, song có thể

hoá xã hội và chăm sóc sức khoẻ.
Đặc điểm phân hoá giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay
Một là, phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội hình thành
cùng với những biến đổi kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Phân hóa giàu nghèo là hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan trong nền
kinh tế thị trường, do đó nó hình thành cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội
trong quá trình thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế. Trên cả nước Việt Nam hiện nay, trong tất cả các cộng đồng dân cư,
các giai cấp, tầng lớp, các nhóm xã hội, kể cả đô thị hay nông thôn, đồng bằng,


miền núi, hải đảo, trong tất cả các dân tộc đều diễn ra tình trạng phân hóa giàu
nghèo với mức độ và tính chất khác nhau.
Hai là, phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay đang trong xu thế gia tăng.
Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế và những nỗ lực trong công cuộc xoá
đói giảm nghèo của Đảng và Chính phủ, tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm, đời sống các
tầng lớp dân cư có nhiều chuyển biến tiến bộ rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người
của các nhóm dân cư năm sau cao hơn năm trước. Song nhóm thu nhập thấp tăng
trưởng rất chậm so với nhóm có thu nhập khá và nhóm giàu, vì vậy khoảng cách
chênh lệch về thu nhập, tài sản, mức sống giữa các nhóm dân cư không ngừng tăng
lên, phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng.
Ba là, phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam diễn ra không đều và đang diễn tiến
rất phức tạp.
Phân hóa giàu nghèo ở khu vực thành thị mạnh hơn khu vực nông thôn;
khoảng cách giữa nhóm giàu và nhóm nghèo khu vực thành thị cao hơn khu vực
nông thôn; khoảng cách giàu nghèo ở các vùng, miền trong cả nước cũng có sự
khác nhau. Hiện nay, khu vực nông thôn, nhất là nông thôn miền núi, biên giới,
hải đảo là địa bàn có tỷ lệ hộ đói nghèo cao. Theo số liệu thống kê, nếu tính theo
chuẩn nghèo mới của Chính phủ cho giai đoạn 2011-2015 thì tỷ lệ hộ nghèo cả
nước năm 2010 là 14,2%, thành thị là 6,9% và nông thôn là 17,4%. Vùng Trung

nhập cho người lao động”1.
Năm là, phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam có những tác động tiêu cực đến
sự phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững ổn định xã hội.
Trước hết, phân hóa giàu nghèo góp phần gia tăng bất bình đẳng xã hội,
phân hoá xã hội, nguy cơ gây mất ổn định chính trị - xã hội. Phân hóa giàu nghèo
gia tăng làm tăng nhanh sự chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các giai cấp,
tầng lớp, hình thành nên các nhóm xã hội khác nhau. Từ sự phân hoá về thu
nhập, mức sống kéo theo sự chênh lệch trong hưởng thụ các quyền trên các lĩnh
vực văn hoá, giáo dục, y tế, góp phần gia tăng bất bình đẳng xã hội. Phân hóa
giàu nghèo còn là nguy cơ dẫn đến phân hoá giai cấp, bần cùng hoá người lao
động, làm suy giảm nền tảng chính trị - xã hội.
Mặt khác, phân hóa giàu nghèo sẽ tác động tiêu cực đến việc thực hiện dân
chủ của mọi tầng lớp nhân dân và toàn xã hội. Một bộ phận quần chúng nhân dân
sống ở mức nghèo đói thiếu thông tin ngôn luận dẫn đến nhận thức hạn chế về
1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.50


vấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ. Sự phân hóa giàu nghèo làm cho đời sống
của đồng bào các dân tộc thiểu số khó khăn công thêm sự kích động của kẻ thù
thông qua thủ đoạn “diễn biến hoà bình” dể làm tăng thêm hoạt động ly khai dân
tộc, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định xã hội. Bên cạnh đó, phân hóa giàu nghèo gia
tăng sẽ làm phát sinh các tệ nạn xã hội.
Sáu là, phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam đang được kiềm chế bởi chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước.
Phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay đang được kiềm chế bởi các chủ
trương, chính sách của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Thực tế cho thấy,
những năm qua Đảng, Nhà nước luôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tổ
chức thực hiện tốt các chính sách xã hội, đẩy mạnh phong trào xoá đói giảm
nghèo, xoá nhà dột nát, hỗ trợ người nghèo về giáo dục, y tế, và nhà ở, tạo việc
làm tăng thêm thu nhập, phát triển mạng lưới an sinh, công bằng xã hội, đào tạo

Tiềm lực chính trị - tinh thần của nền quốc phòng toàn dân
Tiềm lực chính trị - tinh thần là “khả năng về chính trị - tinh thần có thể
huy động để tạo thành sức mạnh vật chất hiện thực nhằm thực hiện những nhiệm
vụ nhất định. Được biểu hiện: trước hết ở hệ tư tưởng, chế độ chính trị - xã hội,
hệ thống các chính sách đối nội, đối ngoại của Nhà nước; trình độ nhận thức,
niềm tin, ý chí quyết tâm, trạng thái tâm lý …của các thành viên trong xã hội
trước những nhiệm vụ đặt ra đối với họ … trong quân sự tiềm lực chính trị - tinh
thần được biểu hiện ở ý chí, quyết tâm của quân chúng nhân dân và lực lượng vũ
trang sẵn sàng vượt qua mọi thử thách để thực hiện nhiệm vụ”2
Tiềm lực chính trị - tinh thần của nền quốc phòng toàn dân ở Việt Nam là khả
năng về chính trị - tinh thần có thể huy động để tạo thành sức mạnh vật chất hiện
thực, nhằm thực hiện nhiệm vụ xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, được biểu hiện: trước hết ở hệ tư tưởng, chế độ
chính trị - xã hội, hệ thống các chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng, Nhà nước;
trình độ nhận thức, niềm tin, ý chí quyết tâm, trạng thái tâm lý …của các thành viên
trong xã hội trước nhiệm vụ xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là những khả năng đang tồn tại một cách khách
quan mà bằng đường lối và chủ trương đúng đắn, bằng công tác tư tưởng, tổ chức
của Đảng và Nhà nước có thể huy động được để biến thành sức mạnh chính trị - tinh
thần của đất nước trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng. Nói khả năng
1 Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam (1996), Nxb QĐND, Hà Nội, tr. 766 , 767.
2 Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam (2004), Nxb QĐND, Hà Nội, tr.953


không có nghĩa là khả năng đó hoàn toàn chưa được bộc lộ trong thực tế, mà có
những cái đã bộc lộ thành sức mạnh nhưng chưa bộc lộ hết, hoặc đã được huy động
nhưng ở mức độ chưa cao, chưa toàn diện, chưa đầy đủ.
1.2. Quan niệm về sự tác động của phân hoá giàu nghèo đến tiềm lực
chính trị - tinh thần nền quốc phòng toàn dân ở Việt Nam
Tác động của phân hóa giàu nghèo đến tiềm lực chính trị - tinh thần nền

nguyên tắc xử lý vấn đề đối tác và đối tượng trong điều kiện mới. Đồng thời, còn tác
động đến nhận thức của nhân dân về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch
trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng nước ta,
cũng như tính chất nguy hiểm của nó và yêu cầu, biện pháp đấu tranh làm thất bại
“diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ trong tình hình mới.
Thứ hai, tác động đến niềm tin chính trị và tâm trạng xã hội như: niềm tin
vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chủ trường
đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước. Niềm tin vào sự nghiệp đổi mới theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chu nghĩa.
Niềm tin vào sức mạnh của đất nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức
mạnh của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, sức mạnh của lực
lượng vũ trang nhân dân. Niềm tin vào trình độ và sức mạnh chiến đấu của lực
lượng vũ trang, của quân đội nhân dân, khả năng giành thắng lợi trong chiến
tranh bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; đường lối phát triển
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, về thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vào khả năng đưa nước ta ra
khỏi tình trạng đói nghèo. Niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý,
điều hành của Nhà nước đối với việc thực hiện chính sách an sinh xã hội nhằm
đảm bảo công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, khắc phục phân hóa giàu nghèo,
với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tác động
đến tâm trạng hoặc tin tưởng hoặc băn khoăn lo lắng của toàn bộ xã hội đối với
đường lối quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, tác động đến hành vi chính trị của nhân dân biểu hiện ở việc làm,
hành động cụ thể của xã hội đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân,
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cụ thể tác động đến hành động cảnh giác cách
mạng và quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt
mọi nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Tác động đến hành động sẵn





xương máu trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để dân tộc được giải
phóng, đất nước được thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ Năm, tác động đến bản sắc văn hoá dân tộc như: tinh thần đoàn kết, tính
cộng đồng, lòng tự trọng, lòng thương người, trọng nhân nghĩa, đức tính cần cù chịu
khó, lòng tự tôn dân tộc. Văn hoá làng, xã trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, sự đồng
thuận trong cấu kết cộng đồng các dân tộc. Tinh thần “không có gì quý hơn độc lập,
tự do”, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đại đoàn kết toàn dân trong xây dựng nền quốc
phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phấn đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
1.2.2. Hệ quả tác động của phân hóa giàu nghèo đến tiềm lực chính trị tinh thần nền quốc phòng toàn dân ở việt Nam
Hệ quả tích cực
Một là, sự tác động của phân hóa giàu nghèo thông qua chính sách phát
triển kinh tế, chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước góp phần nâng cao nhận
thức, củng cố niềm tin, hành vi của các tầng lớp xã hội trong quá trình xây dựng,
củng cố nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Cơ chế thị trường tạo cơ chế ganh đua, là đòn bẩy thúc đẩy rất hiệu nghiệm
tới tính tích cực, sáng tạo của từng thành viên trong xã hội vì lợi ích của mình và
cộng đồng, đánh giá thực tiễn năng lực hoạt động sản xuất và kinh doanh của
từng người, xác lập rõ ràng cho hoạt động kinh tế của từng chủ thể. Vì vậy phân
hóa giàu nghèo trong cơ chế thị trường sẽ tạo sự cạnh tranh, ganh đua về kinh tế,
khai thác nguồn lực xã hội để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống. Bộ phận dân
cư đã giàu tiếp tục tích luỹ vốn, kinh nghiệm sản xuất, tiếp thu khoa học kỹ thuật,
tiếp cận thị trường ...để sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế cho ngày càng giàu
hơn. Ngược lại bộ phận dân cư nghèo đói cũng tiếp cận những thành tựu của kinh
tế thị trường làm đòn bẩy phát triển sản xuất để thoát khỏi đói nghèo. Khi cuộc
sống của người dân no đủ tạo điều kiện cho họ nâng cao nhận thức, tuyệt đối tin
tưởng vào chủ trương, đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng, vào sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác, đời sống của nhân dân được nâng cao, họ ý thức được

thuận xã hội cao trên tinh thần đó phát huy tốt tinh thần yêu xã hội chủ nghĩa, giữ gìn
bản sắc truyền thống văn hoá giữ nước của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, củng
cố nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hệ quả tiêu cực
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội. tr. 26


Thứ nhất, tác động của phân hóa giàu nghèo sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến
nhận thực, niềm tin, hành vi của các tầng lớp nhân dân đến sự nghiệp xây dựng
nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Phân hóa giàu nghèo gia tăng làm tăng nhanh sự chênh lệch về thu nhập,
mức sống giữa các giai cấp, tầng lớp, các nhóm xã hội và ngay cả trong bản thân
mỗi giai cấp, tầng lớp, hình thành nên các nhóm xã hội khác nhau. Từ sự phân
hoá về thu nhập, mức sống kéo theo sự chênh lệch trong hưởng thụ các quyền
trên các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế ... hình thành bất bình đẳng xã hội. Mặt
khác, từ phân hoá về thu nhập, mức sống, chất lượng sống, đến một mức độ nào
đó sẽ đến phân hoá về chính trị tư tưởng, ảnh hưởng đến niềm tin của của nhân
dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, vào đường lối quốc phòng
toàn dân và ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Phân hóa giàu nghèo luôn tiềm tàng nguy cơ phân hoá giai cấp, bần cùng
hoá người lao động, làm suy giảm nền tảng chính trị xã hội, tạo nguy cơ chệch
hướng xã hội chủ nghĩa. Mỗi chế độ xã hội bao giờ cũng có kết cấu kinh tế và
cơ cấu xã hội, trong đó cơ cấu giai cấp – xã hội là cơ cấu xã hội cơ bản giữ vai
trò chủ đạo. Nền tảng chính trị - xã hội ở nước ta là khối liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do giai cấp công nhân lãnh
đạo. Mối quan hệ đó dựa trên cơ sở thống nhất về mặt lợi ích giữa các giai tầng,
phân hóa giàu nghèo quá mức sẽ làm rạn nứt sự thống nhất lợi ích giữa các giai
tầng, một khi sự thống nhất và phù hợp về mặt lợi ích bị vi phạm, phá vỡ, nó
làm cho cơ cấu xã hội biến dạng, biến đổi theo chiều hướng xấu, tạo hố ngăn
cách giữa Đảng với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, các giai cấp, tầng

phân hoá về xã hội như học vấn, văn hoá, lối sống và các quan hệ xã hội, theo đó
nó ảnh hưởng tiêu cực truyền thống văn hoá của dân tộc. Từ phân hoá về mặt
kinh tế tạo sự chênh lệch trong hưởng thụ các quyền về mặt xã hội trong các tầng
lớp dân cư, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định thứ bậc của các giá trị xã hội,
thang giá trị xã hội, hình thành trên thực tế sự đề cao quá mức các giá trị vật chất,
coi nhẹ giá trị nhân văn, đẩy nhanh quá trình hình thành và phát triển lề thói thực
dụng, cực đoan, đề cao quá mức lợi ích cá nhân, chạy theo lối sống phương Tây,
gây phương hại đến lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia và giá trị văn hoá truyền
thống tốt đẹp của dân tộc.
2. Thực trạng phân hoá giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay
2.1. Thực trạng khác biệt về tài sản


2.1.1.Về đất đai và công xưởng, máy móc: Những năm qua, đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng đa phương hoá, đa dạng
hoá quan hệ đối ngoại, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, tỷ lệ
doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh không ngừng được nâng lên. Tổng số các
doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh năm 2005 là 112.950 doanh nghiệp; năm
2006 là 131.318; năm 2007 là 155.771; năm 2008 là 205.668; và năm 2009 là
248.847. Số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp liên tục tăng: năm
2005 là 3.053.000 cơ sở; năm 2006 là 3.748.100; năm 2007 là 3.868.700; năm
2008 là 3.986.000; và năm 2009 là 4.124.200. Tuy nhiên, khoảng cách chênh lệnh
các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh giữa các vùng miền và giữa người giàu,
người nghèo khá lớn. Cơ sở kinh doanh vùng cao nhất Đồng bằng sông Hồng là
1.092.200 so với vùng thấp nhất Tây Nguyên 181.100 cơ sở, cao gấp 6,0 lần[100,
mục 60,70], tỷ lệ nắm các công ty xí nghiệp và cơ sở kinh doanh nhóm 5 là 87%;
nhóm 4 là10%; nhóm 3 là 2%; nhóm 2 là 0,7% và nhóm 1 là 0,3%. Phần lớn
những hộ giàu đều có nhiều đất hoặc đất có giá trị sử dụng, lợi nhuận cao, người
nghèo chủ yếu sử dụng đất nông nghiệp, đất có giá trị sử dụng và lợi nhận thấp,
thậm chí nhiều người không có đất sử dụng1.

thoại 28,5% và 107,2%; tủ lạnh 16,6% và 32,1% đầu máy video là 32,8% và
53,4%; ti vi màu là 69,8% và 92,1%; dàn nhạc là 1,0% và 14,9%; máy tính là
5,1% và 11,5%; máy điều hoà là 2,2% và 5,5%; máy giặt là 6,2% và 13,3%;
bình tắm nước nóng lạnh là 5,4% và 10,1%.
Tuy nhiên, số hộ có đồ dùng lâu bền ở thành thị vẫn cao hơn rất nhiều so
với hộ ở nông thôn. Phần lớn những tài sản đắt tiền, có giá trị sử dụng trong sinh
hoạt gia đình đều thuộc về nhóm giàu, nhóm nghèo ít có cơ hội được sử dụng các
loại tài sản đắt tiền như ô tô, máy điều hoà nhiệt độ ... và ngay cả những loại tài sản
cần thiết trong sinh hoạt gia đình như: điện thoại, tủ lạnh, máy giặt, bình tắm nước
nóng, máy vi tính ..., cũng chỉ chiếm một tỷ lệ thấp .
2.2. Thực trạng khác biệt về thu nhập, chi tiêu
2.2.1. Thực trạng về thu nhập: Những năm gần đây, đời sống các tầng lớp
dân cư cả nông thôn và thành thị ở tất cả các vùng trên phạm vi cả nước tiếp tục
được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người trên một tháng chung cả nước có
xu hướng tăng nhanh. Trong thời kỳ 2006-2008 thu nhập bình quân 1 người 1/1
tháng theo giá hiện hành tăng bình quân 26%, cao hơn mức tăng 16,6% mỗi năm
của thời kỳ 2002-2004 và mức tăng 14,6% mỗi năm của thời kỳ 2004-2006. Nếu
loại trừ yếu tố tăng giá thì thu nhập thực tế của thời kỳ 2006-2008 tăng 7,6% mỗi
năm, cao hơn mức tăng thu nhập thực tế 6,2% mỗi năm của thời kỳ 2004-20062.
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế và những nỗ lực trong công cuộc xoá đói giảm
nghèo của Đảng và Nhà nước, tỷ lệ hộ nghèo hộ nghèo liên tục giảm, đời sống
1 Tổng cục Thống kê (2010), kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2008, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr.19
2 Tổng cục Thống kê (2010), kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2008, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr.12


các tầng lớp dân cư có nhiều chuyển biến tiến bộ. Theo Tổng cục Thống kê tỷ lệ
hộ nghèo ở nước ta qua các năm đều giảm nhanh: năm 1993 là 58,1% năm 1998
giảm xuống còn 37,4%[97, tr.263]; 28,9% năm 2002, 18,1% năm 2004, đến năm
2006 giảm xuống còn 15,5%1. Thu nhập bình quân đầu người tăng khá nhanh
năm sau tăng hơn năm trước, song nhóm có thu nhập thấp tăng rất chậm so với

chênh lệnh có xu hướng tăng qua các năm: năm 2002 là 4,5 lần; năm 2004 là 4,5
lần; năm 2006 là 4,5 lần và năm 2008 là 4,2 lần, tỷ trọng chi cho ăn, uống, hút
giữa các vùng cũng có sự chênh lệnh.
hi tiêu những hàng hoá dịch vụ ngoài ăn uống của nhóm giàu nhất lớn
C
gấp 6,5 lần so với nhóm nghèo, trong đó chi về nhà ở, điện nước, vệ sinh gấp 8,5
lần; chi thiết bị và đồ dùng gia đình gấp 6 lần; chi y tế, chăm sóc sức khoẻ gấp 3,2
lần; chi đi lại và bưu điện gấp 10,6 lần; chi giáo dục gấp 5 lần; chi văn hoá thể
thao giải trí gấp 89,3 lần.
2.3. Thực trạng khác nhau giáo dục, ý tế, giải trí
2.3.1. Về giáo dục:Theo thống kê khảo sát mức sống hộ gia đình năm
2008, tỷ lệ biết chữ của dân số từ 10 tuổi trở lên đạt ở mức khá cao: 93,1%,
bằng năm 2006 và tăng nhẹ so với các năm trước. Tuy nhiên, tỷ lệ của nhóm
hộ giàu và nhóm hộ nghèo có sự chênh lệnh đáng kể: nhóm hộ giàu nhất
chiếm 98%, trong khi đó nhóm hộ nghèo chỉ chiếm 85%; ở thành thị là 96%,
nông thôn chiếm 92%; vùng Đồng bằng sông Hồng đạt tỷ lệ cao nhất là
96,7%, thấp nhất là vùng Tây Bắc 80,3% và Tây Nguyên là 88,7%. Tỷ lệ
không có bằng cấp hoặc chưa bao giờ đến trường của dân số từ 15 tuổi trở lên
của nhóm nghèo nhất là 36,7% cao hơn 3,8 lần so với nhóm hộ giàu nhất. Chi
tiêu cho giáo dục và đào tạo của các hộ gia đình khu vực thành thị bình quân
là 3,088 triệu đồng cao hơn 2,3 lần so với nông thôn là 1,354 triệu đồng;
nhóm hộ giàu nhất cao hơn 5,4 lần so với nhóm hộ nghèo nhất 1.
2.3.2. Về y tế và chăm sóc sức khoẻ: Những năm qua, chúng ta đã có
nhiều cố gắng trong việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu và phòng chống các
căn bệnh xã hội hiểm nghèo, tuy nhiên mức độ được hưởng thành quả y tế
và chăm sóc sức khoẻ ở các vùng và các nhóm xã hội có sự khác nhau. Năm
2008 có 82% lượt người ở khu vực nông thôn khám, chữa bệnh nội trú tại
các bệnh viện nhà nước, trong khi tỷ lệ này đối với khu vực thành thị là
92%, nhóm giàu nhất có tỷ lệ khám chữa bệnh nội trú tại các bệnh viện nhà
nước cao hơn rất nhiều so với nhóm nghèo nhất, chênh lệnh này còn cao hơn

vệ tài sản và sinh mạng của nhân dân, bảo vệ các giá trị văn hoá dân tộc, chống
can thiệp, ly khai, chống bạo loạn chính trị... đều được bổ sung vào tư duy chính
trị của các tầng lớp nhân dân. Theo kết quả điều tra nhận thức về mục tiêu lý tưởng


chiến đấu của Đảng có 67,5% nhận thức sâu sắc, 17,5% nhận thức ở mức trung bình
và 15,0% khó trả lời. Nhận thức về đường lối quốc phòng toàn dân, nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc có 70,0% ý kiến nhận thức sâu sắc, 17,5% nhận thức trung bình
và 12,5% khó trả lời. Nhận thức về đường lối phát triển kinh tế - xã hội của
Đảng, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm
của mỗi người dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đa số các ý kiên đều nhận
thức khá sâu sắc. Các ý kiến đều cho rằng sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng
toàn dân, bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, ai
cũng có trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ như nhau và tin tưởng với đường
lối phát triển kinh tế xã hội đúng đắn của Đảng, thực hiện tốt tiến bộ, công bằng
xã hội sẽ hạn chế được tác động tiêu cực của phân hóa giàu nghèo đến sự nghiệp
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ xã hội chủ nghĩa.
Nhận thức về sự tác động của tình trạng phân hóa giàu nghèo ở nước ta
hiện nay và chủ trương xoá đói giảm nghèo của Đảng. Phần lớn các ý kiến cho
rằng, phân hóa giàu nghèo tác động cả tích cực và tiêu cực đến việc quán triệt
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế đất
nước, trong đó tác động tiêu cực là làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh
đạo của Đảng, sự điều hành và quản lý của Nhà nước. Mặt khác, các ý kiến đều
thống nhất nhận định tác động tiêu cực của phân hóa giàu nghèo làm suy giảm
trách nhiệm trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng
toàn dân bảo vệ Tổ quốc, làm tăng thêm xu hướng chủ nghĩa cá nhân, lối sống
thực dụng trong các tầng lớp nhân dân.
3.1.2. Tác động tích cực của phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam đến niềm tin
chính trị của các tầng lớp xã hội vào chủ trương, đường lối xây dựng nền quốc
phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Đảng, sự điều hành quản lý của Nhà nước thực hiện tốt công bằng, bình đẳng,
tiến bộ xã hội, 72,5% ý kiến cho rằng sẽ khắc phục được tác động tiêu cực của
phân hóa giàu nghèo, chỉ có 27,5% ý kiến khó trả lờ.
Điều tra ở một số đơn vị quân đội, đại đa số quân nhân không hề tỏ ra bất
ngờ, trước sự tác động mạnh mẽ của phân hóa giàu nghèo, nhưng vấn đề quan
trọng là cần phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực để phát triển đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nhất quán mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Song, có một bộ phận còn băn khoăn, lo
lắng, thiếu tin tưởng vào chủ trương xoá đói nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng


xã hội trong từng bước phát triển; băn khoăn về tính bền vững, và hiệu quả của
các hoạt động xã hội để góp phần xoá đói, giảm nghèo.
3.1.3. Tác động tích cực của phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam đến hành vi
chính trị của các tầng lớp xã hội đối với chủ trương, đường lối xây dựng nền
quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trước sự tác động tích cực của phân hóa giàu nghèo, đã làm thay đổi những
giá trị căn bản cả đời sống vật chất và tinh thần của quân chúng nhân dân thông
qua chính sách phát triển kinh tế và các chính sách xã hội, đời sống nhân dân
không ngừng được cải thiện, tỷ lệ nghèo liên tục giảm. Dẫn đến, đa số các tầng
lớp nhân dân hiện nay luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, sẵn sàng chiến
đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Kết quả điều tra xã
hội học cho thấy 82,5% ý kiến nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, khắc phục
khó khăn, tham gia tích cực vào nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân;
85,0% ý kiến sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tích cực đấu
tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của kẻ thù; 87,5% ý kiến nêu cao tinh
thần trách nhiệm xây dựng và bảo vệ quê hương, giữ vững ổn định chính trị - xã
hội, quyết tâm vươn lên thoát nghèo, làm giàu cho bản thân gia đình và xã hội.
Trả lời câu hỏi khi có chiến sự xẩy ra bản thân ông bà và con em của ông bà sẵn
sàng cầm súng ra mặt trận bảo vệ Tổ quốc? 80,0% ý kiến trả lời sẵn sàng ra mặt

gia các hoạt động từ thiện đã thu hút nhiều thanh niên, nhiều người tham gia đạt
hiệu quả tốt.
3.2. Tác động tiêu cực
3.2.1. Tác động tiêu cực của phân hóa giàu nghèo đến nhận thức của các
tầng lớp xã hội trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc
Trước sự tác động tiêu cực của phân hóa giàu nghèo, đời sống của một bộ
phận quân chúng nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến một bộ phận cán bộ
và nhân dân còn hiểu biết chưa đầy đủ về mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Quan niệm của người dân về
mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa còn có sự khác biệt nhau: có
81,2% cho rằng bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng trời vùng biển, biên giới hải
đảo; trong khi đó có 20,2% bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; 19,6% giữ vững ổn
định chính trị - xã hội; 19,4% bảo vệ Đảng, Nhà nước; 16,4% bảo vệ tính mạng và
tài sản của nhân dân; 11,8% bảo vệ thống nhất Tổ quốc1.
1 Lê Minh Vụ (2010), Định hướng và giải pháp xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho mọi người
dân Việt Nam, Đề tài KX.04.22/06-10, Hà Nội, tr.66


Không chỉ có sự thiếu quan tâm của nhiều người đến nhiệm vụ bảo vệ
Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ, mà nhận thức và thái độ của các giai
tầng khác nhau đối với những nhiệm vụ đó cũng có sự phân hoá mạnh. Trong
khi 82,7% cán bộ các cấp huyện, xã, thôn bản quan niệm nhiệm vụ trọng yếu
của bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ Đảng, Nhà nước thì chỉ có 43,7% công nhân và
25,0% chiến sĩ quân đội, 18,4% sinh viên nhất trí với quan niệm đó. Tương tự,
63,3% cán bộ, trí thức, và 64,2% sĩ quan xác định phát huy vai trò của hệ thống
chính trị trong củng cố và giữ vững sự ổn định xã hội là giải pháp quan trong để
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thì chỉ có
hơn 35% công nhân, sinh viên đồng thuận với ý kiến đó. Kết quả điều tra xã hội
học cho thấy nhận thức về mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Đảng còn có 17,5%
nhận thức ở mức trung bình và 15,0% khó trả lời; nhận thức về đường lối quốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status