Khảo sát khái niệm câu đơn theo quan điểm truyền thống và cú đơn theo quan điểm của ngữ pháp chức năng (hệ thống) - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG ANH TUẤN

KHẢO SÁT KHÁI NIỆM CÂU ĐƠN THEO QUAN ĐIỂM TRUYỀN
THỐNG VÀ CÚ ĐƠN THEO QUAN ĐIỂM CỦA NGỮ PHÁP CHỨC
NĂNG (HỆ THỐNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 5 04 08
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Văn Vân

Hà Nội - 2005

1


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này em đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ, động viên. Trong đó PGS. TS Hoàng Văn Vân là nguời có vai trò
quan trọng nhất. Quãng thời gian làm việc vớí Thầy là quãng thời gian
em có thêm nhiều kiến thức bổ ích từ chính sự dìu dắt, chỉ bảo ân cần
cũng như thái độ làm việc nghiêm túc của Thầy. Em xin được bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc vì những giúp đõ to lớn của Thầy để em có thể
hoàn thành luận văn này.
Em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy Cô trong
Khoa ngôn ngữ học, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Đại học quốc gia Hà Nội, vì sự khích lệ, động viên cũng như những
chỉ bảo giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô.

ĐNT

Đích ngôn thể

ĐT:đt

Đích thể: đối tượng

Đth

Đương thể

BN

Bổ ngữ

BN:đt

Bổ ngữ: đối tượng

CC

Chu cảnh

CC:tg

Chu cảnh thời gian

CC1


LN

Liên nhân

NgB

Ngôn bản

PN

Phụ ngữ

PN1

Phụ ngữ 1

PN2

Phụ ngữ 2

PNT

Phát ngôn thể

QT: hh

Quá trình hiện hữu

QT: hv


Tiếp ngôn thể

VN

Vị ngữ

á

Cú chính

â

Cú thứ

HỆ THỐNG KÍ HIỆU QUY ƢỚC
/

Ranh giới cụm từ, nhóm từ

//

Ranh giới cú

///

Ranh giới cú phức

[]

Ranh giới cụm từ bị bao

ngữ pháp tiếng Việt, khái niệm cú rất ít khi được thảo luận, nó chủ yếu
được đặt trong khái niệm câu đơn. Điều này không khỏi dẫn đến nhiều hoài
nghi xung quanh vai trò và vị thế của hai khái niệm được xem là “có nhiều
điểm tương đồng” này.
Trong các đường hướng nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay, ngữ pháp
chức năng được đánh giá là hướng đi mới đầy triển vọng. Ra đời muộn hơn
(chỉ vào khoảng những năm 70 của thế kỷ 20) nhưng ngay lập tức ngữ
pháp chức năng đã thu hút được sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu.
Trong nội bộ của ngữ pháp chức năng người ta thấy có nhiều hướng đi
khác nhau nhưng có hai hướng đi giành được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu. Đó là hướng chức năng của S . Dik (Funtional Grammar) và
hướng ngữ pháp chức năng thiên về (hệ thống) của M.A.K Halliday
(Systemic Funtional Grammar). Cả hai dòng ngữ pháp chức năng này đều
gắng đạt đến tính phổ quát cao, mong muốn bao q uát được mọi ngôn ngữ.
Tuy nhiên, khi so sánh hai dòng ngữ pháp này người ta thấy ngữ pháp chức
năng hệ thống của M.A.K Halliday có tính ưu việt hơn hẳn trong quan
điểm ba bình diện ngữ pháp câu xét về mặt lý thuyết. Tính ưu việt của ngữ
pháp chức năng của M.A.K Halliday còn thể hiện ở lý thuyết các loại hình
6


sự thể với một vòng tròn khép kín bởi ba khu vực lớn với ba miền trung
gian, phản ánh được tất cả các loại hình sự thể. Ngoài ra ngữ pháp chức
năng của M.A.K Halliday còn được đánh giá cao về tính linh hoạt trong
ứng dụng thực tiễn (Diệp Quang Ban 2003: 14, 15 ).
Đi theo hướng ngữ pháp chức năng, cả S. Dik và M.A.K Halliday đều
lấy cú làm trung tâm, đối tượng nghiên cứu, làm điểm xuất phát. Theo
M.A.K Halliday thì cú là một đơn vị có vị thế quan trọng nó là đơn vị hội
tụ đầy đủ ba siêu chức năng (tư tưởng, ngôn bản, liên nhân), nó nằm ở giao
điểm của ba bình diện (tầng, cấp độ và siêu chức năng). M.A.K Halliday

pháp tiếng Việt.
1. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Muốn làm được vậy chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ sau đây:
 Khảo sát khái niệm về câu theo quan điểm truyền thống, những
đóng góp và những vấn đề còn tồn tại.
 Các tiêu chí phân loại câu theo truyền thống những ưu, nhược
điểm của những tiêu chí phân loại này.
 Khảo sát vai trò của cú trong tiếng Việt theo quan điểm của ngữ
pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday, so sánh với khái
niệm câu trong ngữ pháp truyền thống, từ đó chỉ rõ vai trò của nó
trong nghiên cứu ngữ pháp.
 Tiêu chí đề phân loại cú, có so sánh với các tiêu chí phân loại
câu, từ đó chỉ rõ những điểm mạnh của những tiêu chí này.
1. 4. Lịch sử vấn đề
Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ngành khoa học ngôn ngữ ở
Việt Nam phát triển muộn hơn nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên, những
thành tựu mà ngành ngôn ngữ học nói chung và cú pháp học ở Việt Nam
8


nói riêng đã đạt được là khá khả quan. Các nhà Việt ngữ học đã cố gắng
vận dụng những đường hướng, quan điểm tiên tiến của nhiều tác giả,
trường phái ngôn ngữ trên thế giới để giải quyết các vấn đề cụ thể của tiếng
Việt. Trong số những vấn đề nổi lên, thu hút được sự quan tâm của đông
đảo các nhà nghiên cứu thì việc tìm ra một định nghĩa cho câu tiếng Việt là
vấn đề được quan tâm hơn cả. Song cũng như nhiều nơi có ngành khoa học
ngôn ngữ phát triển vấn đề về câu tiếng Việt đến nay vẫn chưa được giải
quyết ổn thoả. Với câu hỏi câu là gì? Các nhà nghiên cứu vẫn còn nhiều
quan điểm khác nhau. Bên cạnh khái niệm câu, khái niệm cú trong truyền
thống nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt cũng tồn tại như là một đơn vị có vai

Lăng – 1988: 5). Có thể thấy rõ điều này qua một số công trình tiêu biểu
giai đoạn này như: Grammaire de la langue Annamite của Trương Vĩnh Kí
(1883). Études sur la langue Annamite của Grammond & Lê Quang Trinh
(1911). Cours élémentaire d’ Annamite của Bouchet (1912). Việt Nam văn
- phạm của Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm (1940) v.v.
1.4.1.1 Vấn đề thứ nhất: Câu là gì?
Với vấn đề “câu là gì” các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt giai
đoạn này, không đặt ra cho mình nhiệm vụ phải trả lời và mặc nhiên coi
vấn đề như đã được giải quyết xong, hi hữu có những tác giả định nghĩa
“nhưng đó cũng chỉ là những định nghĩa nhắc lại những định nghĩa về câu
trong các sách ngữ pháp dùng ở trường trung tiểu học Pháp” (Nguyễn Kim
Thản- 1997: 501). Ngữ pháp nhà trường của Pháp vốn dĩ đã mang dấu ấn
đậm nét của ngữ pháp duy lý (chủ yếu dựa vào các khái niệm lô gíc như :
nhận định (đề nghị / phán đoán) chủ ngữ / vị ngữ.v.v. Định nghĩa câu của
Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ – Phạm Duy Khiêm trong cuốn “ Việt Nam Văn phạm” là một ví dụ tiêu biểu cho nhận định này. Theo tác giả của “ Việt Nam - văn - phạm” thì phép đặt câu là phép đặt các tiếng lập thành mệnh
đề và các mệnh đề thành câu. Theo các tác giả này thì một mệnh đề bao
gồm một chủ từ cộng với một tĩnh từ hay một động từ, chủ từ là tiếng đứng
10


làm chủ ở trong mệnh đề. Tính từ là tiếng chỉ cái thể của chủ từ, những từ
này có thể có nhiều bổ từ (túc từ).v.v, định nghĩa của họ có thể diễn giải
như sau:
Câu = Một chủ từ + một tính từ (hay một động từ) N túc từ.
Câu = N chủ từ + N tính từ (hay N động từ) + N túc từ
( Nguyễn Kim Thản - 1997: 501 )
1.4.1.2 Vấn đề thứ hai : Cú là gì?
Trong giai đoạn này tên gọi “cú” chưa được các nhà nghiên cứu đề
cập đến. Tuy nhiên có thể thấy về cơ bản nội dung của chúng đã được thảo
luận dưới tên gọi mệnh đề. Cách làm này có thể thấy ở các tác giả cuốn

trí hoàn toàn nhưng khác với giai đoạn trước, giai đoạn này các nhà nghiên
cứu tiếng Việt đã cho thấy sự tìm tòi và có sự vận dụng sáng tạo trong
nghiên cứu. Đi theo những đường hướng khác nhau mỗi nhà nghiên cứu có
cánh nhìn nhận vấn đề riêng, và có sự vận dụng cụ thể. Đi tìm câu trả lời,
có tác giả nhấn mạnh đến bình diện cấu trúc của câu, có tác giả nhấn mạnh
đến ý nghĩa hoặc cả hai. Giai đoạn này chứng kiến ba hướng đi nổi bật đó
là :
 Hướng đi thiên hơn về ngữ pháp truyền thống.
 Hướng đi chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận và cấu trúc chức năng luận.
 Hướng đị chịu ảnh hưởng của ngữ pháp chức năng.
1.4.2.1.1 Hƣớng đi thiên hơn về ngữ pháp truyền thống
Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến hình từ nên có lẽ vì vậy trong
hầu hết các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt “không có công
trình đáng kể nào mà lại theo khuynh hướng hình thức một cách tuyệt đối”.
Đi theo hướng ngữ pháp truyền thống các nhà nghiên cứu ngữ pháp giai
đoạn này đã nhìn nhận vấn đề theo hướng chú ý đến cả hình thức lẫn nội
dung, thậm chí coi trọng mặt nội dung hơn cả hình thức. Định nghĩa của tác
giả cuốn “Ngữ pháp Việt Nam” là một ví dụ. Định nghĩa này không chỉ
12


phản ánh sự tìm tòi, thể nghiệm của tác giả khi đi giải quyết một vấn đề nan
giải của cú pháp mà nó còn đánh dấu bước phát triển của ngữ pháp tiếng
Việt đang cố thoát ra khỏi cái bóng của ngữ pháp nhà trường Pháp, mặc dầu
nó không khỏi gợi ra cho người ta nhiều thắc mắc như: liệu câu có nhất
thiết do nhiều từ hợp lại? Một ý hoàn toàn là như thế nào?.v.v. Đi theo
hướng này còn phải kể đến Phan Khôi với Việt ngữ nghiên cứu (1955),
Thanh Ba- Bùi Đức Tịnh với Văn phạm Việt Nam (1952), Nguyễn Hiến Lê
với Để hiểu văn phạm (1952).
1.4.2.1.2 Hƣớng đi chịu ảnh hƣởng của cấu trúc luận và cấu trúc chứ c

hiện của nó ở một số nước khoảng 20 năm. Con số những c ông trình có vận
dụng lý thuyết chức năng cũng còn rất “khiêm tốn”. Ở Việt Nam công trình
có vận dụng ngữ pháp chức năng được biết đến đầu tiên đó là “ Tiếng Việt:
sơ thảo ngữ pháp chức năng ” (quyển1) Cao Xuân Hạo do nhà xuất bản
KHXH ấn hành năm 1991. Khác với các đường hướng ngữ pháp hình thức,
câu hỏi để khái luận hoá câu thường là “câu có cấu trúc hình thức như thế
nào ?”. Ngữ pháp chức năng lại nhìn nhận vấn đề ở góc độ khác : “Câu có
chức năng gì ?”. Cùng theo quan điểm này còn có Hoàng Xuân Tâm,
Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm trong cuốn “ Ngữ pháp chức năng tiếng
Việt. Quyển 1. Câu trong tiếng Việt. Cấu trúc, nghĩa, công dụng ” do Cao
Xuân Hạo chủ biên, nhà xuất bản giáo dục ấn hành năm 1992.
1.4.3 Vấn đề thứ hai: Cú là gì?
Trong giai đoạn này đi theo quan niệm truyền thống khái niệm cú cũng
đã được một vài nhà nghiên cứu thảo luận tuy nhiên vẫn chưa có sự phân
biệt rạch ròi về bản chất giữa hai loại đơn vị này, chủ yếu sự phân biệt vẫn
dựa trên tiêu chí về số lượng. Ví dụ: theo Trương Văn Trình và Nguy ễn
Hiến Lê, “Trong một câu diễn tả nhiều sự tình thì mỗi tổ hợp diễn tả một sự
tình chúng tôi gọi là một cú. Câu diễn tả một sự tình là câu đơn cú ( Trương
Văn Trình, Nguyễn Hiến Lê 1963: 477 ). Quan niệm này không khác với
quan niệm về cú ở giai đoạn trước. Đa số các nhà nghiên cứu giai đoạn này
thảo luận cú dưới hình thức câu đơn và sự phân biệt giữa câu và cú chỉ diễn
14


ra khi có một bộ phận của câu được cấu tạo nên từ một ngữ đoạn có cấu
trúc của một câu đơn nhưng chúng chỉ giữ vai trò bổ sung nếu đem so vớ i
cấu trúc lớn.
Theo Cao Xuân Hạo thì sự khác biệt giữa câu và cú “tiểu cú” chỉ ở chỗ
câu thể hiện một nhận định (statement) còn cú không có được điều này,
hành động này được thực hiện ngay khi phát ngôn để đưa ra một mệnh đề

2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƢ LIỆU
Phương pháp làm việc chính là phương pháp so sánh kết hợp với các
phương pháp luận khoa học chung là quy nạp, diễn dịch: trên cơ sở phân
tích những cứ liệu được rút ra từ các tài liệu, các văn bản bằng tiếng Việt,
từ đó đem so sánh để tìm ra những tồn tại, hạn chế của các đường hướng
nghiên cứu khác khi nghiên cứu vấn đề câu.
Luận văn còn sử dụng phương pháp chức năng hệ thống của M.A.K
Halliday phát triển từ lý luận ngôn ngữ học chức năng. Từ quan niệm xã
hội học - ký hiệu về ngôn ngữ, lấy cú làm trung tâm từ đó xem xét nhận
diện nó từ các bình diện khác nhau nhằm mục đích làm sáng tỏ đơn vị ngữ
pháp quan trong của tiếng Việt.
Nguồn tư liệu chủ yếu được lấy từ các tài liệu, sách báo, tạp chí bằng
tiếng Việt, xuất bản trong nước, và những văn bản đã được đăng tải trên
các phương tiện thông tin đại chúng.
3. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn trừ phần mở đầu và phần kết luận sẽ được cấu trúc thành ba
chương với nội dung cơ bản như sau:
Chương 1: Cú pháp – những vấn đề chung và việc nghiên cứu cú
pháp tiếng Việt. Chương này, chúng tôi trình bày về cú pháp với những vấn
đề cơ bản như: vấn đề về đối tượng của cú pháp, mối quan hệ giữa quan hệ
ngữ pháp với hình thức cú pháp. Chúng tôi cũng trình bày khái quát về việc
nghiên cứu cú pháp ở trong và ngoài nước, sau đó trình bày một vài đặc
điểm cơ bản của cú pháp tiếng Việt với tư cách là một ngôn ngữ đơn lập.
Chương 2: Khái niệm câu đơn tiếng Việt theo quan niệm truyền
thống. Trong chương này chúng tôi sẽ đi tìm hiểu và phân t ích khái niệm về
16


câu (đơn) theo quan niệm truyền thống và các tiêu chí đề phân loại và nhận
diện đơn vị câu. Từ đó chỉ ra những tồn tại của vấn đề theo đường hướng

8. Diệp Quang Ban, 2000. Thử điểm qua việc nghiên cứu ngữ
pháp tiếng Việt trong nửa thế kỉ qua- T/c ngôn ngữ, số 9. 2000.
9. Diệp Quang Ban, 1995. Tiếng Việt lớp 7 (tập 2). Hà Nội: Nxb
GD.
10. Hữu Quỳnh, 1980. Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại. Hà Nội: Nxb
GD.
11. Hồ Lê, 1991. Cú pháp tiếng Việt. Hà Nội: Nxb KHXH.
12. Hoàng Trọng Phiến, 1980. Ngữ pháp tiếng Việt (câu). Hà Nội:
Nxb ĐH&THCN.
13. Hoàng Văn Vân, 2000. Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt
(mô tả theo quan điển chức năng hệ thống). Hà Nội: Nxb KHXH.
14. Lê Xuân Thại, 1969. Cụm từ và phân tích câu theo cụm từ. T/c
ngôn ngữ, số 2/1969
18


15. Lê Xuân Thại, 1998. Câu chủ vị trong tiếng Việt. Hà Nội: Nxb
KHXH.
16. Lƣu Vân Lăng, 1975. Một số mâu thuẫn trong quan niệm cụm
từ là trung tâm của ngữ pháp tiếng Việt.T/c ngôn ngữ, số 1.
1975.
17. Lƣu Vân Lăng, 1970. Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trên
quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân - T/c ngôn ngữ, số 3.
1970.
18. Lƣu Vân Lăng, 1994. Những vấn đề của ngữ pháp tiếng Việt
(chủ biên). Nxb KHXH.
19. Lý Toàn Thắng, 1981. Giới thiệu lý thuyết phân đoạn thực tại
câu. T/c ngôn ngữ, số 1/1981.
20. Halliday. M.A. 2001. Dẫn luận ngữ pháp chức năng. Hà Nội:
Nxb ĐHQGHN. Bản dịch của Hoàng Văn Vân.


NGỮ LIỆU MINH HOẠ
1. Hồ Chí Minh – Hồ Chí Minh- toàn tập(IV)- Nxb Chính trị quốc
gia – HN 1995.
2. Kim Lân – Vợ nhặt - (Sách văn 12) - Nxb GD- HN 1997.
3. Nam Cao - Đôi mắt- (Sách văn 12) - Nxb GD- HN 1997..
4. Nam Cao – Đời thừa - (Sách văn 11) - Nxb GD- HN 1997
5. Nam Cao – Chí Phèo- (Sách văn 11) - Nxb GD- HN 1997
6. Nguyễn Công Hoan - Mất cái ví - (Sách văn 11)- Nxb GD - HN
1997.
7. Nguyễn Tuân – Người lái đò sông Đà -(Văn 12)- Nxb GD-HN
1997.
8. Nhiều tác giả -Truyện ngắn Việt Nam chọn lọc– Nxb TN- HN –
2000.
9. Tô Hoài – Vợ chồng A Phủ – (Sách văn 12)- Nxb GD- HN 1997.
10. Thạch Lam- Hai Đứa trẻ - (Sách văn 11) - Nxb GD- HN 1997.
11. Vũ Trọng Phụng- Giông tố- (Sách văn 11)- Nxb GD- HN 1997.
12. Vũ Trọng Phụng- Số đỏ - (Sách văn 11) - Nxb GD- HN 1997.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status