-i-
PHẦN MỞ ĐẦU
Thị trường tài chính ngân hàng ở nước ta trong thời gian vừa qua đã
đánh dấu một sự chuyển biến mạnh mẽ cả về chất và lượng. Các ngân hàng
thành lập mới gia tăng đáng kể, kéo theo một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa
các ngân hàng. Các NHTM lớn mất dần những lợi thế sẵn có do bị chia sẻ
thị phần hoạt động. Bên cạnh đó, theo xu hướng cổ phần hoá các doanh
nghiệp nhà nước, một số tổng công ty và các doanh nghiệp nhà nước lớn
với xu hướng hình thành các tập đoàn đa năng bằng cách thực hiện mua cổ
phần để trở thành cổ đông chiến lược của một ngân hàng hoặc tự thành lập
ngân hàng thuộc tập đoàn đó.
Trước tình trạng đó, các NHTM lớn trong đó có NHTMCP Ngoại
thương Việt Nam đang phải đối mặt với thực trạng giảm sút dần về số
lượng khách hàng truyền thống. Để giảm thiểu sự ảnh hưởng đến hiệu quả
hoạt động do sự giảm dần số lượng khách hàng truyền thống, các NHTM
lớn cũng bắt đầu chuyển hướng sang thu hút các khách hàng DNNVV.
Theo Hiệp hội DNNVV, Việt Nam đã có trên 350 nghìn DNNVV với
số vốn đăng ký hơn 1.415 nghìn tỷ đồng. DNNVV có vai trò quan trọng đối
với sự tăng trưởng của nền kinh tế và đang phát huy tác dụng tốt. DNNVV
đã đóng góp đến hơn 40% GDP, giải quyết việc làm khoảng 50% lao động
xã hội. Với số lượng lớn và tiềm năng dồi dào, DNNVV đang thu hút sự
cạnh tranh giữa các ngân hàng trong chiến dịch chiếm giữ thị phần.
Với tiềm năng hiện hữu và to lớn của DNNVV, tôi đã chọn đề tài luận
văn “Mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam” để nghiên cứu nhằm đưa ra
những giải pháp thúc đẩy sự phát triển của hoạt động cho vay đối với bộ
phận doanh nghiệp này để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của
Hoàng Thị Khánh – CH15M – Mở rộng cho vay đối với DNNVV tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
TỔNG QUAN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY DNNVV
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.
TỔNG QUAN VỀ DNNVV
1.1.1.
Khái niệm DNNVV
Mỗi nước trên thế giới có các cách định nghĩa, nhận diện khác nhau về
DNNVV. Ở Việt Nam, theo quy định tại Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày
23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa,
DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo
pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao
động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh
tế - xã hội cụ thể của từng ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các
biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai
chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
1.1.2.
Đặc trưng của DNNVV
Thủ tục thành lập dễ dàng với số vốn đầu tư thấp nên ở hầu hết DNNVV
đều bộc lộ hạn chế nhất định về: năng lực tài chính, trình độ chuyên môn
của lao động, trình độ quản lý hạn chế, tài chính thiếu minh bạch, khả năng
tiếp cận thông tin, tiếp cận thị trường thấp. Ngoài những hạn chế, DNNVV
còn có một vài đặc trưng mang tính tích cực như: tính linh hoạt cao, hoạt
động rộng khắp trong các lĩnh vực của nền kinh tế.
tượng khách hàng và đưa ra những chính sách áp dụng phù hợp với từng
loại đối tượng khách hàng đó.
* Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng: Ngân hàng cam kết tài trợ cho
khách hàng (cho vay, bảo lãnh hoặc cho thuê...) với món tiền hoặc hạn mức
nhất định.
* Lãi suất và phí suất: Ngân hàng ban hành các mức lãi suất cho tuỳ theo
kỳ hạn vay, tuỳ theo loại tiền vay và thậm chí tuỳ theo loại khách hàng trên
cơ sở tính toán mức độ rủi ro, lãi suất cạnh tranh trên thị trường.
* Thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ: Thời hạn tín dụng có thể là ngắn, trung
hoặc dài hạn và được tính từ lúc giải ngân đầu tiên đến lúc khách hàng hoàn
trả hết cả vốn lẫn lãi theo hợp đồng cam kết.
* Các khoản đảm bảo: Các đảm bảo thường là giấy tờ có giá, hàng hoá
trong kho, nhà cửa, thiết bị hoặc bảo lãnh của bên thứ ba..
Hoàng Thị Khánh – CH15M – Mở rộng cho vay đối với DNNVV tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
-v-
* Điều kiện giải ngân và điều kiện thanh toán: Ngân hàng có thể giải ngân
một hoặc nhiều lần tuỳ theo đối tượng khách hàng và gắn với những điều
kiện nhất định. Điều kiện thanh toán bao gồm thanh toán gốc và lãi.
1.2.4. Mở rộng cho vay đối với DNNVV
1.2.4.1. Quan niệm về mở rộng cho vay DNNVV
DNNVV là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế vì vậy đây cũng là
những khách hàng tiềm năng mà các NHTM muốn hướng đến. Việc mở
rộng cho vay DNNVV sẽ giúp ngân hàng phân tán được rủi ro và đạt được
những mục tiêu cụ thể như: Tăng trưởng dư nợ cho vay DNNVV; Tăng
trưởng về số lượng khách hàng; Tăng trưởng lợi nhuận ngân hàng từ việc
2.1.1. Khái quát về VCB
Ngày 01/04/1963, VCB được thành lập theo Quyết định số 115/CP do Hội
đồng Chính phủ ban hành ngày 30/10/1962. Ngày 02/06/2008, NHNT đã
chính thức đi vào hoạt động theo mô hình công ty cổ phần theo Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh số 0103024468 do Sở Kế hoạch đầu tư TP Hà Nội
cấp. Sau cổ phần hóa, VCB được xây dựng theo mô hình công ty mẹ con
trong đó NHTM giữ vai trò là mảng hoạt động kinh doanh chính và sẽ hoạt
động như một công ty mẹ. Trong giai đoạn 2006-2008, các hoạt động
nghiệp vụ của VCB đều đạt được kết quả ấn tượng.
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn giai đoạn 2006-2008
Đơn vị: Tỷ đồng
Tốc độ tăng trưởng (%)
CHỈ TIÊU
2006
2007
2008
Vốn huy động
152.125
177.906
196.507
10,46
64.366
101.284
56,63
5,41
2.1.VNĐ
56.001
69.439
87.412
25,88
24,00
2.2.Ngoại tệ
55.915
72.150
69.655
-3,46
2.Theo loại tiền
III.Phát hành GTCG
Nguồn: Bản cáo bạch Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Hoàng Thị Khánh – CH15M – Mở rộng cho vay đối với DNNVV tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
- vii -
Trong giai đoạn 2006-2007, định hướng “Tăng cường công tác khách hàng,
tiếp tục nâng cao chất lượng tín dụng và hướng tới chuẩn mực quốc tế” đã
góp phần làm tăng trưởng tín dụng năm 2007 của VCB tăng 44,12% so với
năm 2006. Năm 2008, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, VCB đã
đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng giảm từ 29% xuống 20%.
Bảng 2.2: Tình hình dư nợ tín dụng
Đơn vị: triệu đồng
STT
Chỉ tiêu
Tổng dư nợ
1
2006
2007
2
Theo loại tiền
34.917.110
47.755.428
67,434,138
2.017
3.049
2,672
2.1
Triệu VNĐ
2.2
Ngoại tệ (triệu USD)
Nguồn: Bản cáo bạch Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Các hoạt động kinh doanh khác như thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại
tệ, đặc biệt là phát hành và thanh toán thẻ đều phát triển vững mạnh dẫn
đến kết quả kinh doanh liên tục tăng qua các năm.
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh
Đơn vị: triệu VND
3.877.256
3.148.725
3.324.460
(1.016.217 )
(758.773)
(787.906)
2.861.079
2.389.952
2.536.554
Tổng thu nhập HĐKD
Tổng chi phí HĐKD
Thuế thu nhập DN
Lợi nhuận sau thuế
Nguồn: Bản cáo bạch Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Hoàng Thị Khánh – CH15M – Mở rộng cho vay đối với DNNVV tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
- viii -
Hoàng Thị Khánh – CH15M – Mở rộng cho vay đối với DNNVV tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
- ix -
Biểu đồ 2.3: Số lượng khách hàng tổ chức tại VCB
6000
5358
5000
4000
4423
3421
4816
3657
4053
DNNVV
3000
Khách hàng tổ chức
2000
1000
0
2006
2007
101.965
Tổng công ty, DN lớn
44.991
66.255
73.654
SMEs
17.267
21.656
28.311
5.485
9.720
10.828
67.743
97.631
112.793
Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ
2006
2007
2008
1,5
1,98
3,48
- Ngắn hạn
0,87
1,09
2,3
- Trung hạn
0,40
0,33
0,41
0,91
- Dài hạn
1,12
0,53
0,88
58,46
33,64
49,85
Tỷ lệ nợ xấu cho vay DNNVV /
tổng nợ xấu của VCB
Nguồn: Báo cáo tình hình cho vay DNNVV các năm 2006-2008
2.3.
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MỞ RỘNG CHO VAY DNNVV TẠI VCB
2.3.1.
Kết quả đạt được và nguyên nhân
Dư nợ cho vay DNNVV chỉ tập trung chủ yếu loại ngắn hạn.
Chất lượng tín dụng cho vay DNNVV chưa cao.
2.3.2.2. Nguyên nhân
Những hạn chế đưa ra xuất phát từ những nguyên nhân:
Khách quan: (i) Về phía DNNVV: Hạn chế về nhân lực và năng lực quản
lý, phần lớn báo cáo tài chính của các DNNVV thiếu tính minh bạch,
Hoàng Thị Khánh – CH15M – Mở rộng cho vay đối với DNNVV tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
- xii -
DNNVV không thích bị kiểm soát dòng tiền kinh doanh nên muốn vay ở
các NHTMCP hơn; (ii) Về phía chính sách, chế độ của Nhà nước: Thực
hiện chủ trương hạn chế tín dụng của NHNN nên các chi nhánh không mở
rộng cho vay đối với các khách hàng mới, Quỹ bảo lãnh tín dụng chưa phát
huy được vai trò làm cầu nối cho các DNNVV vay vốn ngân hàng.
Chủ quan (VCB): Tâm lý phát triển khách hàng lớn vẫn là phổ biến, sự thay
đổi nhận thức của cán bộ khách hàng còn hạn chế, việc khai thác thị trường
trọng điểm còn thiếu hiệu quả, chưa có cơ chế khuyến khích để tạo động lực
cho cán bộ khách hàng, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đối với DNNVV
đơn điệu, Hệ thống thông tin quản lý còn nhiều bất cập.
Hoàng Thị Khánh – CH15M – Mở rộng cho vay đối với DNNVV tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
- xiii -
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI
VỚI DNNVV TẠI NGÂN HÀNG TMCP
- xiv -
Phát triển trên nền tảng công nghệ, nhân lực; Giữ vững vai trò chủ đạo, chủ
lực của VCB trong hệ thống các NHTM tại Việt Nam; Phấn đấu đạt một số
chỉ tiêu cơ bản đến năm 2010. Trong đó, lợi nhuận trước thuế năm 2009 đạt
3.320 tỷ đồng, năm 2010 đạt 5.250 tỷ đồng.
3.1.2.2. Định hướng mở rộng cho vay DNNVV
Đẩy mạnh phát triển SMEs, phấn đấu trở thành ngân hàng hàng đầu phục
vụ SMEs. Phát triển tín dụng là nòng cốt, tăng cường bán chéo sản phẩm
dịch vụ, tăng cường quản trị rủi ro trong bối cảnh phải mở rộng khách hàng.
3.2.
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY DNNVV TẠI VCB
3.2.1. Xây dựng các mục tiêu cụ thể khi mở rộng cho vay DNNVV
Xây dựng các chỉ tiêu cụ thể như: tốc độ tăng trưởng dư nợ; tăng trưởng
khách hàng, lợi nhuận từ cho vay... Mở rộng cho vay DNNVV theo hướng
không phân biệt thành phần kinh tế, kết hợp mở rộng cho vay với phát triển
các sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu của DNNVV.
3.2.2. Hoàn thiện chính sách cho vay đối với DNNVV
Cần sớm đưa ra khái niệm thống nhất về đối tượng khách hàng SMEs để
hoàn thiện quy trình cấp tín dụng hiện đang được triển khai. Sớm xây dựng
những chính sách khuyến khích đối với các chi nhánh và cán bộ tín dụng.
3.2.3. Hoàn thiện chính sách tiền lương trong hệ thống VCB
Quy chế chi trả tiền lương cho cán bộ nhân viên trong hệ thống VCB cần có
mức giãn cách đáng kể đối với cán bộ khách hàng, đồng thời có cơ chế
khấu trừ tiền lương nếu không hoàn thành nhiệm vụ. Quy chế phân phối
quỹ lương kinh doanh cho các chi nhánh trong hệ thống VCB cần có các chỉ
3.3.1. Với Hiệp hội DNNVV
Hiệp hội DNNVV nên: tổ chức các khóa đào tạo nâng cao trình độ quản lý
của DNNVV; thể hiện rõ hơn nữa vai trò đại diện; tư vấn, hỗ trợ doanh
nghiệp đổi mới công nghệ, đào tạo huấn luyện nâng cao trình độ chuyên
môn, hỗ trợ xúc tiến thương mại; đẩy mạnh thu thập và trao đổi thông tin.
Hoàng Thị Khánh – CH15M – Mở rộng cho vay đối với DNNVV tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
- xvi -
3.3.2. Với Ngân hàng Nhà nước
Trong các quy định về kiềm chế tín dụng để tránh tăng trưởng nóng của nền
kinh tế, NHNN nên có quy định tỷ trọng về dư nợ DNNVV tối thiểu trong
cơ cấu dư nợ của NHTM
3.3.3. Với các cơ quan quản lý nhà nước khác
Để tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, cơ quan chức năng cần ban hành
quy định về chế độ hậu kiểm. Ngoài ra, các chính sách có liên quan đặc biệt
là thuế TNDN cần sửa đổi theo hướng áp dụng mức thuế suất ưu đãi hơn
đối với DNNVV. Nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV thông qua các
chương trình hỗ trợ, tạo điều kiện để các DNNVV tiếp cận được các yêu
cầu công nghệ đáp ứng năng lực cạnh tranh quốc tế.
Hoàng Thị Khánh – CH15M – Mở rộng cho vay đối với DNNVV tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
- xvii -
KẾT LUẬN