Những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh đối với nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Nghệ An - Pdf 39

i

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sau 10 năm đổi mới 1986 -1996, với kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm, dưới
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã phát huy cao độ
nội lực của dân tộc, kiên trì mục tiêu cách mạng XHCN, vì độc lập dân tộc, dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh, đã giành được những thành
tựu to lớn, đất nước đã có điều kiện chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Trong bối cảnh đó Đại hội lần thứ VIII của đảng cộng Sản Việt Nam đã chủ
trương đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Kiểm điểm đánh giá kết quả 5 năm thực
hiện Nghị quyết Đại hội VII, Đại hội VIII đảng ta đã khẳng định "nhiệm vụ đề ra
cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho CNH đất nước cơ
bản đã hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước con đường đi lên CNXH ở nước ta, ngày càng được xác định rõ hơn".
"Căn cứ vào nhận định trên và cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH. Đại hội khẳng định cần tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến
lược: Xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc, đẩy mạnh CNH, HĐH. Mục tiêu từ nay
đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp".
Chúng ta biết rằng trong quá trình thực hiện CNH, HĐH đất nước thì đất
đai (chủ yếu là đất nông nghiệp, lâm nghiệp) là yếu tố không thể thiếu và là tiềm
năng lợi thế so sánh của Việt nam. Điều đó cũng có nghĩa là cùng với việc thực
hiện CNH, HĐH thì diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp của nông dân ngày
càng bị thu hẹp.
Trong quá trình đó nảy sinh rất nhiều vấn đề xã hội đối với người nông
dân bị thu hồi đất như: vấn đề vấn đề tái định cư; vấn đề học tập nâng cao trình
độ, đào tạo nghề; vấn đề việc làm và thu nhập; vấn đề thay đổi hệ thống nhu cầu;


ii



5. Phương pháp nghiên cứu:


iv

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trìu
tượng hoá, kết hợp phương pháp logic và lịch sử, phương pháp phân tích tổng
hợp, thống kê và so sánh, phương pháp chuyên gia.


v

6. Một số đóng góp của luận văn:
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn để giải quyết vấn đề
kinh tế - xã hội nảy sinh đối với người nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Nghệ An
trong quá trình CNH, HĐH.
- Khái quát thực trạng những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh đối với
người nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Nghệ An trong quá trình CNH, HĐH hiện
nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
- Khuyến nghị các giải pháp xây dựng hệ thống chính sách giải quyết vấn
đề kinh tế - xã hội nảy sinh đối với người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình
CNH, HĐH ở tỉnh Nghệ An hiện nay.

7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về những vấn đề kinh tế - xã hội nảy
sinh đối với người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở Việt Nam.

- CNH, HĐH tạo ra nhiều cơ hội cho nông dân.
- Các KCN, KCX đóng góp rất lớn vào đào tạo nguồn nhân lực để hình
thành đội ngũ lao động của nền công nghiệp hiện đại.
- Đô thị hoá cũng mang lại đời sống vật chất và tinh thần cho toàn xã hội.
1.1.3.2. Tác động tiêu cực:
- Người nông dân chưa thể tìm được việc làm ngay.
- Ảnh hưởng đến việc duy trì và gìn giữ nét văn hoá truyền thống.
- Ô nhiễm môi trường, rác thải công nghiệp mà người nông dân phải trực
tiếp gánh chịu (Nếu buông lỏng quản lý của Nhà nước)


vii

1.2. Nội dung và những nhân tố ảnh hưởng, tính tất yếu phải
giải quyết vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh đối với người nông dân
bị thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH.
1.2.1. Nội dung giải quyết những vấn đề kinh tế - Xã hội nảy sinh đối
với người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH.
1.2.1.1. Vấn đề tái định cư:
- Giải quyết vấn đề nhà ở tái định cư phải gắn với giải quyết việc làm,
đảm bảo thu nhập.
- Nơi ở tái định cư cần phải được giải quyết phù hợp với điều kiện kinh tế,
phong tục tập quán sinh hoạt và phải giữ gìn được những nét đẹp văn hoá truyền
thống của địa phương.
1.2.1.2. Vấn đề học tập nâng cao trình độ, đào tạo nghề cho người nông
dân bị thu hồi đất.
- Trình độ văn hoá lao động trong nông nghiệp thấp, tỷ lệ lao động nông
nghiệp chưa qua đào tạo nghề cao.
- Cần phải đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao trình độ văn hoá, tay nghề
cho những người nông dân bị thu hồi đất.

- Tác động của Nhà nước tới chủ doanh nghiệp
- Tác động vào mối quan giữa người nông dân với các chủ dự án, các
doanh nghiệp.
1.2.3 Tính tất yếu giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh
đối với người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH
- Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo quyền con người: quyền được sống, học
tập, quyền có việc làm và hưởng thụ các thành quả lao động
- Xuất phát từ Nhà nước ta là nhà nước của dân do dân và vì dân.
- Giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội nhằm khắc phục những hệ quả
của thu hồi đất.


ix

1.3. Kinh nghiệm giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội
nảy sinh đối với người nông dân bị thu hồi đất ở một số quốc gia
và một số địa phương trong nước.
1.3.1. Tổng quan kinh nghiệm
1.3.1.1. Kinh nghiệm Trung Quốc.
1.3.1.3. Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh.
1.3.2 Bài học rút ra từ nghiên cứu kinh nghiệm giải quyết những vấn
đề kinh tế - xã hội nảy sinh đối với người nông dân bị thu hồi đất.
- Nhà nước phải thực hiện đồng bộ hệ thống Chính sách.
- Nhà nước có chính sách cơ chế đảm bảo hài hòa ba lợi ích.
- Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch phát triển vùng cũng như quy
hoạch chung xây dựng.
- Huy động nguồn tiền BTGPMB của dân vào việc phát triển kinh tế - xã hội.
- Xây dựng các khu tái định cư trước khi giải phóng mặt bằng. Các khu
TĐC phải phân biệt và phù hợp với từng đối tượng.




xi

+ Về hạ tẩng TĐC: Hạ tầng kỹ thuật đảm bảo; Hạ tầng xã hội như trường học
bệnh xá bước đầu đáp ứng được yêu cầu.
+ Về đất sản xuất cho các hộ: Chủ yếu là đất rừng, đồi núi trọc, đất sản xuất
nông nghiệp có trên quy hoạch nhưng thực tế do thiếu nguồn nước, hoặc là đầm lầy
độ phèn cao, nên hầu như không canh tác được.
2.2.1.2. Tái định cư cho các hộ nông dân bị thu hồi đất khu vực đô thị:
- Cấp đất ở TĐC mổi hộ được tiêu chuẩn 150m2, số chênh lệch được nhận
bằng tiền. Trong khi giá bổi thường không phù hợp với giá thị trường.
- Các khu TĐC tập trung giành cho các hộ phi nông và sản xuất nông nghiệp.
- Hình thức thực hiện TĐC cho các hộ nông nghiệp được thực hiện phân tán
được người dân đồng tình ủng hộ.
2.2.2. Vấn đề học tập nâng cao trình độ cho người nông dân.
- Tỷ trọng lao động chưa qua đào tạo nghề chiếm 85,5 % vấn đề thách
thức đang đặt ra cho Nghệ An.
- Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã có các đề án đề án
hỗ trợ chuyên đề ngành nghề, giải quyết việc làm.
- Kết quả hoạt động khuyến nông, khuyến (Xem bảng 2.9 và 2.10)
- Kết quả phát triển hệ thống các trường dạy nghề, và đào tạo nghề ( xem
bảng 2.11)
2.2.3. Vấn đề việc làm, thu nhập của người nông dân bị thu hồi đất.
- UBND tỉnh Nghệ An đã có quy định về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, giải
quyết việc làm cho người lao động thuộc diện thu hồi đất:
+ Ưu tiên đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các địa phương thu hồi đất,
phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tạo thêm việc làm tại chỗ.
+ Có chính sách tạo điều kiện các hộ còn đất có thể mở thêm các ngành nghề
kinh doanh dịch vụ để tạo công ăn việc làm mới.

+ Tăng cường hoạt động khuyến nông, khuyến công cho các địa phương.
+ Có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho nông dân bị thu hồi đất.


xiii

Tất cả việc làm đó nhằm giải quyết tốt vấn đề học tập nâng cao trình độ, đào
tạo nghề cho nông dân bị thu hồi đất và bước đầu đã đạt được một số kết quả nhất
định
2.3.1.3 Thành tựu về giải quyết việc làm đảm bảo thu nhập cho người nông
- Chủ trương tiền hỗ trợ chuyển đổi việc làm không trả trực tiếp cho nông
dân mà được Tỉnh đầu tư bằng các dự án giải quyết việc làm như trước năm
2004 là một chủ trương đúng cần được tiếp tục thực hiện.
- Công nghiệp Nghệ An chưa phát triển, tuy nhiên bước đầu các khu công
nghiệp, đặc biệt là các KCN vùa và nhỏ đã thu hút được đáng kể lực lượng lao
động nông thôn.
2.3.2. Những hạn chế tồn tại.
2.3.2.1. Về chính sách, chế độ BTGPM, hỗ trợ TĐC.
- Thứ nhất, Chính sách bồi thường hỗ trợ TĐC của Nhà nước còn có vấn
đề bất cập.
Thứ hai, Nghệ An chưa có cơ chế tạo mối quan hệ giũa người nông dân bị
thu hồi đất với Nhà nước và các chủ dự án nhận đất.
Thứ ba, Giá bồi thường hỗ trợ TĐC của Tỉnh không phù hợp với giá cả thị
trường trong khi khung giá của Chính phủ Việt Nam quy định rộng
2.3.2.1. Về tổ chức thực hiện BTGPM, hỗ trợ TĐC.
Thứ nhất, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng chưa được các cấp
chính quyền quan tâm tương xứng với yêu cầu.
Thứ hai, công tác kiểm tra giám sát, chưa được quan tâm, đã để xảy ra
thiếu nước, thiếu đất sản xuát ở các khu TĐC cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ ba, về học tập nâng cao trình độ, đào tạo nghề, tạo việc làm cho


xv

CHƯƠNG 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT TỐT HƠN
NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI NẢY SINH ĐỐI VỚI NGƯỜI NÔNG
DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH Ở NGHỆ AN.

3.1. Phương hướng nhằm quyết những vấn đề kinh tế - xã hội
nảy sinh, đối với người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình
CNH, HĐH ở Nghệ An
3.1.1. Xác định rõ ràng mục tiêu giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội
nảy sinh đối với người nông dân bị thu hồi đất, trong quá trình CNH, HĐH.
- Là để cho những người nông dân bị ảnh hưởng có cuộc sống tốt hơn khi
chưa thực hiện thu hồi đất.
3.1.2. Xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa 3 lợi ích kinh tế, đó là lợi ích
của người bị thu hồi đất, lợi ích của các nhà đầu tư nhận đất và lợi ích của
Nhà nước. Đặc biệt coi trọng và đáp ứng thỏa đáng lợi ích của người nông
dân bị thu hồi đât.
Thứ nhất, làm thế nào để tối đa hóa lợi ích cho từng chủ thể mà không gây
nên xung đột gay gắt.
Thứ hai, coi trọng và đáp ứng thỏa đáng lợi ích của người nông dân bị thu hồi
đât. Việc bồi thường và tái định cư khi thu hồi đất không phải là gánh nặng của
phát triển mà là tạo cơ hội cho phát triển. vì vậy:
+ Nhà nước khi ban hành chính sách cần chú ý đến nguyên tắc về đổi mới
+ Nhà nước cần có cơ chế chính sách ràng buộc và cùng với các chủ dự án
nhận đất đáp ứng thỏa đáng lợi ích của người nông dân bị thu hồi đât.
+ Cần có cơ chế gắn lợi ích các chu dự án nhận đất, nguời nông dân có đất bị
thu hồi.


3.2.2.2. Hoàn thiện tổ chức BTGPMB.


xvii

3.2.2.3. Tăng cường hoạt động tuyên truyền chính sách chế độ, tư vấn
sử dụng tiền về bồi thường, hỗ trợ TĐC, tuyền truyền về các phương án đào
tạo nghề, giải quyết việc làm.
3.2.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát của Nhà nước:
3.2.3. Có cơ chế để phát huy vai trò các doanh nghiệp sử dụng đất,
giải quyết các vấn đề TĐC, học tập nâng cao trình độ và việc làm cho người
nông dân bị thu hồi đất.
- Nhà nước cần có chính sách ưu đãi cũng như quy chế ràng buộc đối
với các doanh nghiệp cũng như các cơ quan đơn vị nhà nước, kể cả các tổ
chức chính trị, khi sử dụng đất của nông dân tùy từng trường hợp, điều kiện
khả năng của từng doanh nghiệp, tổ chức đon vị mà yêu cầu bắt buộc đào tạo
nghề cho nông dân, tuyển dụng lao động, con em nông dân vùng thu hồi đất
vào làm việc.
- Có chế xử lý khi các tổ chức đó vi phạm cam kết, nhằm bảo bệ lợi ích
của người nông dân bị thu hồi đất.
3.2.4. Tăng cường phối hợp các bên liên quan giải quyết những vấn đề
kinh tế - xã hội nảy sinh, đối với người nông dân bị thu hồi đất trong quá
trình
- Khoảng tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề cho người nông dân bị thu hồi
đất, không trả trực tiếp cho người dân mà Tỉnh giữ lại cùng với quỹ BTGPMB
của Tỉnh, để sử dụng quỹ này vào mục đích:
+ Hỗ trợ cho các chủ dự án nhận lao động vùng bị thu hồi đất vào làm
việc. Số tiền này dùng một phần để hỗ trợ các chủ dự án đào tạo, đào tạo lại nghề
cho số lao động nông nghiệp bị thu hồi đất.
+ Hỗ trợ người nông dân vùng thu hồi đất để xây dựng các dự án hoạt

khác, các đề án dạy nghề cho lao động nông thôn của tỉnh, các chương trình hỗ
trợ và đền bù khác, chương trình hỗ trợ các ngành nghề thủ công truyền thống,...
Chính vì vậy mà Nghệ An cũng bước đầu đạt được một số thành công trong giải


xix

quyết chỗ ở TĐC, tạo việc làm cho lao động nông thôn, lao động vùng thu hồi
đất nhằm ổn định cuộc sống cho người dân; lao động có nhiều cơ hội.
4. Mặc dù đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ nhưng trong việc
giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống cho lao động vùng thu hồi đất cũng bộc lộ
những khó khăn, bất cập như: Việc xây dựng ồ ạt các nhà máy thủy điện đã đặt
ra nhu cầu đất đai để bố trí TĐC, điều này ảnh hưởng nhiều đến chất lượng các
khu TĐC về điều kiện đất đai canh tác cũng như chất lượng nhà ở và các công
trình hạ tầng kỹ thuật các khu TĐC; số lao động chưa đáp ứng được yêu cầu về
trình độ, chuyên môn kỹ thuật còn nhiều. Tỷ lệ lao động thiếu việc làm, chưa có
việc làm còn cao.
5. Thông qua phương hướng về giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội
nảy sinh đối với người nông dân vùng thu hồi đất, luận văn đưa ra những nhóm
giải pháp chủ yếu đó là:
- Nâng cao tính chủ động của người nông dân vùng thu hồi đất trong quá
trình CNH, HĐH về ổn định cuộc sống, nâng cao trình độ, tự tạo việc làm.
- Hoàn thiện các chính sách và tăng cường kiểm tra giám sát việc thực
hiện TĐC, vấn đề học tập nâng cao trình độ và vấn đề việc làm cho người nông
dân vùng thu hồi đất.
- Có cơ chế để phát huy các doanh nghiệp sử dụng đất, giải quyết các vấn
đề TĐC, học tập nâng cao trình độ và việc làm cho người nông dân.
- Có cơ chế phối hợp các bên liên quan giải quyết những vấn đề kinh tế - xã
hội nảy sinh, đối với người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH.
Với thời gian và năng lực của tác giả còn hạn chế, tuy đã có cách tiếp cận mới,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status