Phát triển dịch vụ tài chính hà nội đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-----------2B

4B

NGUYỄN THỊ MINH HẰNG

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH HÀ NỘI ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU HỘI NHẬP QUỐC TẾ
B
0

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

HOÀNG VIỆT TRUNG

HÀ NỘI - 2007


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
3B

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
5B

------------

một lớn mạnh ở khu vực phía Bắc và giữ vị trí hàng đầu trong cả nước vừa là
nhiệm vụ trọng tâm vừa là yêu cầu bức thiết trong tiến trình phát triển kinh tế
– xã hội Thủ đô. Để đạt được mục tiêu trên, Hà Nội cần có những giải pháp
đồng bộ, trong đó có nhóm giải pháp phát triển dịch vụ tài chính – ngân hàng,
hơn nữa, không chỉ trong phát triển kinh tế – xã hội Thủ đô, mà còn cho cả
nước, nhất là vào thời điểm hiện nay khi Việt Nam đã là thành viên thứ 150
của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Do đó, việc đánh giá thực trạng hoạt
động dịch vụ tài chính của thủ đô Hà Nội trong những năm qua nhằm tìm ra
những thuận lợi cũng như thách thức, khó khăn, trên cơ sở đó đề xuất các giải
pháp nhằm phát triển dịch vụ tài chính Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh
tế quốc tế là hết sức cần thiết.


2

2. Tình hình nghiên cứu:
Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài, nhiều công trình khoa học
tập trung nghiên cứu thị trường dịch vụ tài chính. Ví dụ: Đề tài khoa học cấp
Bộ “Dịch vụ Bảo hiểm và ngân hàng của Việt nam. Những vấn đề đặt ra trong
quá trình đàm phán và thực hiện các cam kết với WTO” do TS. Nguyễn Thị
Quy làm chủ nhiệm đề tài, đề tài “Phát triển các dịch vụ tài chính theo hướng
hội nhập và các giải pháp đẩy mạnh xuất nhập khẩu dịch vụ tài chính của Việt
Nam” do Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Thương Mại Trương Quang Hoài Nam
làm chủ nhiệm, luận văn thạc sỹ: “Những giải pháp nhằm xây dựng thị trường
DVTC ở Việt nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” của Vũ Thị
Xuân Thơ - CH8 ĐHNT.
Như vậy, hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về thị trường dịch
vụ tài chính ở khía cạnh này hay khía cạnh khác nhưng chưa có một công
trình nào nghiên cứu sâu về sự phát triển của dịch vụ tài chính Hà Nội đáp
ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

chung về Thương mại Dịch vụ (General Agreement on Trade in Services, viết
tắt là GATS) thì dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ
liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác
(ngoại trừ bảo hiểm) nhưng Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu là dịch
bảo hiểm và dịch vụ ngân hàng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn vận dụng phép duy vật biện chứng, kết hợp với các lý luận,
quan điểm kinh tế, tài chính và định hướng phát triển kinh tế tài chính của
Nhà nước để phân tích, đánh giá hoạt động dịch vụ tài chính Hà Nội.


4

Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh, thống kê và xuất phát từ thực tiễn để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu.
7. Bố cục của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục của Luận văn gồm 3 chương
Chương I: Dịch vụ tài chính trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam
Chương II: Thực trạng về dịch vụ tài chính Hà Nội trong những năm gần
đây
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ tài
chính Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế


5

CHƢƠNG I:
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH


- Chất lượng dịch vụ thường dao động trong một khoảng rất rộng nên
thường không ổn định. Nếu như chất lượng sản phẩm của ngành sản xuất vật
chất được quy định theo một tiêu chuẩn nhất định thì chất lượng của sản phẩm
dịch vụ lại không có một tiêu chuẩn cố định nào. Nó phụ thuộc rất nhiều vào
hoàn cảnh tiếp xúc, sự tác động qua lại giữa cung ứng và người tiêu dùng dịch
vụ.
Theo GATS thì có bốn phương thức cung cấp dịch vụ mang tính thương
mại quốc tế như sau:giao dịch qua biên giới, sử dụng dịch vụ ở nước ngoài,
hiện diện thương mại, hiện diện thể nhân.
Giao dịch qua biên giới tức là việc cung cấp dịch vụ được tiến hành từ
lãnh thổ của một nước này sang lãnh thổ của một nước khác. Ví dụ: gọi điện
thoại quốc tế, khám bệnh từ xa, học từ xa mà cả người sử dụng và người cung
cấp nằm ở các quốc gia khác nhau.
Sử dụng dịch vụ ở nước ngoài tức là người sử dụng mang quốc tịch một
nước đi đến một nước khác và sử dụng dịch vụ ở nước đó. Ví dụ: người Việt
Nam đi du lịch ở châu Âu, sang Trung Quốc chữa bệnh.
Hiện diện thương mại tức là người cung cấp dịch vụ mang quốc tịch một
nước đi đến một nước khác, lập ra một pháp nhân và cung cấp dịch vụ ở nước
đó. Ví dụ: một ngân hàng thương mại mở một chi nhánh ở nước ngoài.
Hiện diện thể nhân tức là người cung cấp dịch vụ là thể nhân mang quốc
tịch một nước đi đến một nước khác và cung cấp dịch vụ ở nước đó. Ví dụ:


7

một giáo sư người nước ngoài được mời sang một trường đại học Việt Nam ở
nước ngoài để giảng bài.
Theo tài liệu kí hiệu MTN.GNS/W/120 của Tổ chức Thương mại Thế
giới, dịch vụ được chia thành 12 nhóm lớn, trong đó lại bao gồm nhiều phân
nhóm khác nhau. 12 nhóm đó là:

phẩm dịch vụ tài chính không thể thấy được rõ ràng sản phẩm họ đang sử
dụng nên việc đánh giá chất lượng là vô cùng khó khăn. Do đó, nhà cung cấp
dịch vụ tài chính muốn lôi kéo được khách hàng thì phải chú trọng nâng cao
uy tín, thương hiệu của mình trong kinh doanh, đem lại niềm tin cho người
tiêu dùng về chất lượng sản phẩm của mình.
Tính không thể tách rời hay không thể chia cắt: Điều này có nghĩa là quá
trình cung cấp dịch vụ tài chính và quá trình tiêu dùng dịch vụ được diễn ra
cùng một lúc theo những quy trình nhất định. Do đó, dịch vụ tài chính không
có sản phẩm dở dang, không thể lưu kho lưu trữ mà được cung cấp trực tiếp
cho người sử dụng khi và chỉ khi khách hàng có nhu cầu. Ví dụ: một khách
hàng ra ngân hàng đăng kí làm thẻ ATM (Automatic teller machine) có nghĩa
là họ đăng kí sử dụng dịch vụ rút tiền tự động của ngân hàng đó. Ngân hàng
sẽ không có bán thành phẩm hay dự trữ thành phẩm mà chỉ khi khách hàng có
yêu cầu và làm đầy đủ thủ tục, ngân hàng chuẩn bị sẵn các thiết bị như máy
ATM, máy tính, đường truyền số liệu rồi giấy lĩnh tiền mặt, ủy nhiệm chi, tiền
mặt.... Như vậy, quá trình đã bắt đầu khi khách hàng đăng kí dùng dịch vụ của
ngân hàng, còn ngân hàng có nhiệm vụ chuẩn bị mọi phương tiện cần thiết và
kết thúc khi khách hàng rút tiền mặt ở máy ATM. Điều này có nghĩa là không
có khái niệm bảo trì, bảo dưỡng hay bảo hành cho sản phẩm dịch vụ tài chính


9

tức là dịch vụ này có nhiều điểm khác biệt so với các loại hàng hóa, dịch vụ
khác.
Tính không đồng nhất và khó xác định: Một sản phẩm dịch vụ tài chính
dù lớn hay bé (xét về quy mô) đều không đồng nhất thời gian thực hiện, cách
thức thực hiện, điều kiện thực hiện, vì vậy rất khó xác định. Một sản phẩm
dịch vụ tài chính được tạo nên bởi nhiều yếu tố như trình độ công nghệ, uy
tín, thương hiệu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ. Những yếu tố

Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm):
Ở nước ta hiện nay, vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ ngân
hàng. Có không ít quan niệm cho rằng, hoạt động ngân hàng bao gồm hoạt
động tín dụng và dịch vụ. Theo đó, hoạt động tín dụng là các nghiệp vụ về
nhận tiền gửi, huy động vốn, cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính; còn hoạt
động dịch vụ của ngân hàng là các nghiệp vụ thu phí (trừ phí bảo lãnh vì được
tính vào hoạt động tín dụng). Trong những năm gần đây, do yêu cầu hội nhập
quốc tế ngày càng trở nên cấp bách, quan niệm về dịch vụ ngân hàng đã được
đổi mới theo thông lệ quốc tế. Theo đó, khái niệm dịch vụ ngân hàng có thể
được hiểu chung nhất là các công việc trung gian về tiền tệ của các tổ chức
nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng về sinh lời, đầu tư, giữ hộ hay bảo
đảm an toàn, đem lại nguồn thu phí cho tổ chức cung ứng dịch vụ.
- Chấp nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản quỹ có thể thanh toán
khác của công chúng;
- Mọi loại hình cho vay, kể cả tín dụng người tiêu dùng, tín dụng cầm
đồ, cầm cố, dịch vụ về hóa đơn và tài trợ của giao dịch thương mại;
- Thuê mua tài chính;


11

- Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, kể cả thẻ tín dụng, thẻ thanh
toán và tương tự, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng;
- Bảo lãnh và cam kết;
- Thương vụ tiến hành tự chịu chi phí hoặc nhân danh khách hàng, dù tại
sở giao dịch và trên thị trường không chính thức hoặc các giao dịch khác về
công cụ thị trường tiền tệ (kể cả séc, hóa đơn, giấy chứng nhận tiền gửi);
ngoại hối; các công cụ dẫn xuất nhưng không hạn chế bởi các giao dịch kỳ
hạn hoặc quyền giao dịch; tỷ giá hối đoái và các công cụ về lãi suất, kể các
công cụ như giao dịch swap, thỏa thuận tỷ giá kỳ hạn, chứng từ có thể chuyển

ninh xã hội hay các chương trình hưu trí công;
iii) Các hoạt động khác do một pháp nhân công cộng tiến hành do Chính
phủ chịu chi phí, đảm bảo hoặc sử dụng nguồn tài chính của Chính phủ.
Nhưng nếu một thành viên cho phép bất kỳ một hoạt động nào được nêu
tại điểm (ii) hoặc (iii) được người cung cấp dịch vụ tài chính của mình tiến
hành và cạnh tranh với một pháp nhân công cộng hoặc một người cung cấp
dịch vụ tài chính thì thuật ngữ “dịch vụ” vẫn được hiểu là bao gồm những
hoạt động đó.
Pháp nhân “công cộng” trong khuôn khổ WTO được hiểu là:
- Chính phủ, Ngân hàng Trung ương hoặc một tổ chức tài chính của một
Thành viên, hoặc một thực thể do một Thành viên sở hữu hoặc kiểm soát, chủ
yếu tiến hành chức năng chính phủ hoặc các hoạt động vì mục đích của Chính
phủ, không bao gồm pháp nhân chủ yếu cung cấp những dịch vụ tài chính trên
cơ sở những điều kiện thương mại; hoặc


13

- Một pháp nhân tư nhân, thực hiện các chức năng mà thông thường vẫn
do một Ngân hàng trung ương hoặc tổ chức tiền tệ, khi thực hiện các chức
năng này.

1.2 CAM KẾT, THỎA THUẬN CỦA VIỆT NAM VỀ LĨNH VỰC DỊCH VỤ
TÀI CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ.

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đánh dấu bởi hai
sự kiện quan trọng là việc ký kết thực hiện hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ và những cam kết về dịch vụ tài chính của Việt Nam khi gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới WTO. Hai sự kiện này có ảnh hưởng to lớn đến phát
triển dịch vụ tài chính ở Việt Nam và việc thực hiện những cam kết trong hai
hiệp định này là nội dung chính của phát triển dịch vụ tài chính trong hội nhập

Chính phủ kí ngày 13/7/2000, được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn này
28/11/2001 và có hiệu lực vào ngày 10/12/2001.
Hiệp định gồm 7 chương, 64 điều:
Chương I: Thương mại hàng hoá; Chương II: Quyền sở hữu trí tuệ;
Chương III: Thương mại dịch vụ. Chương IV: Phát triển quan hệ đầu tư;
Chương V: Tạo thuận lợi cho kinh doanh; ChươngVI: Các quyết định liên
quan tới tính minh bạch công khai và quyền khiếu kiện; ChươngVII: Những
điều khoản chung.
Ngoài ra còn có một loạt các phụ lục sau: A, B (B1,B2,B3,B4), C (C1,C2),
D (D1,D2), E, F, G, H, I và thư đính kèm, thư trao đổi.
1.2.1.2 Ý nghĩa của việc ký kết hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ


15

Hiệp định thương mại Việt-Mỹ đã có một ý nghĩa to lớn đối với Việt
Nam trong quá trình hội nhập mà trước mắt là mục tiêu trở thành thành viên
của WTO. Bản Hiệp định thể hiện chính sách mở cửa, hướng tới hội nhập của
Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành dịch vụ tài chính nói
riêng sẽ được phát triển trong một sân chơi bình đẳng. Sân chơi này sẽ đánh
giá đúng mức chất lượng của nền kinh tế. Bình đẳng đồng nghĩa với cạnh
tranh lớn, tuy nhiên trong một nền kinh tế thị trường chỉ có cạnh tranh mới có
phát triển. Những cam kết trong Hiệp định tạo ra một môi trường kinh doanh
mới cho Việt Nam. Môi trường này tạo ra nhiều thuận lợi nhưng cũng gây
không ít khó khăn cho Việt Nam. Khó khăn là trước mắt, điều này đòi hỏi
Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan nói chung và các tổ chức tài chính nói
riêng phải có những bước đi phù hợp để khắc phục khó khăn. Đây cũng là cơ
hội để tăng cường tính hiệu quả trong hoạt động của nền kinh tế nói chung và
ngành dịch vụ tài chính nói riêng.
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ đang được thúc đẩy lên một tầm cao

cảnh cho thời gian lưu trú ban đầu là 3 năm và sau đó sẽ được gia hạn; Người
chào bán dịch vụ-những người không sống tại Việt Nam và không nhận sự trả
lương từ bất kỳ nguồn nào tại Việt Nam, và những người tham gia vào hoạt
động liên quan đến việc đại diện cho một nhà cung cấp dịch vụ với mục đích
đàm phán để bán dịch vụ của nhà cung cấp dịch vụ đó mà (i) việc bán đó
không được chào trực tiếp cho công chúng và (ii) người chào bán không trực
tiếp cung cấp dịch vụ. Thời gian nhập cảnh của những người chào bán dịch vụ
này không quá 90 ngày.
Các cam kết về dịch vụ bảo hiểm:
Việt Nam cam kết trong tất cả các loại hình dịch vụ bảo hiểm và phụ trợ
bảo hiểm theo GATS ngoại trừ bảo hiểm sức khỏe, cụ thể:


17

- Không hạn chế đối với: các dịch vụ bảo hiểm cho các xí nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, các dịch vụ tái
bảo hiểm, các dịch vụ bảo hiểm trong vận tải quốc tế, các dịch vụ môi giới
bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm, các dịch vụ tư vấn, giải quyết khiếu nại,
đánh giá rủi ro.
- Bên cạnh đó, Hiệp định quy định các hạn chế sau:
+ Hạn chế về hình thức pháp nhân: chỉ được phép thành lập liên doanh
bảo hiểm sau 3 năm, công ty bảo hiểm 100% vốn của Hoa Kỳ sau 5 năm kể từ
ngày Hiệp định có hiệu lực; việc thành lập chi nhánh phụ thuộc vào tiến trình
xây dựng Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam.
+ Hạn chế về phần vốn góp: Phần vốn góp của phía Hoa Kỳ không được
vượt quá 50% vốn pháp định của liên doanh.
+ Hạn chế về loại hình kinh doanh: Các công ty cung cấp dịch vụ có vốn
đầu tư Hoa Kỳ không được kinh doanh các dịch vụ đại lý bảo hiểm và các
dịch vụ bảo hiểm bắt buộc là: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ

- Yêu cầu về vốn tối thiểu: Vốn do ngân hàng mẹ của Mỹ cấp để thành
lập chi nhánh ngân hàng Mỹ tối thiểu là 15 triệu USD; Vốn điều lệ tối thiểu
của ngân hàng liên doanh Việt – Mỹ hay ngân hàng con 100% vốn Mỹ là 10
triệu USD, của công ty thuê mua tài chính 100% vốn Mỹ và công ty thuê mua
tài chính liên doanh Việt – Mỹ là 5 triệu USD.
- Yêu cầu về quyền thế chấp: Các đơn vị tài chính ngân hàng 100% vốn
của Mỹ không được nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất. Sau 3 năm kể từ
khi Hiệp định có hiệu lực, các tổ chức tài chính 100% vốn Mỹ có thể nhận thế
chấp quyền sử dụng đất của các công ty đầu tư nước ngoài ; trong trường hợp
các công ty đó vỡ nợ, có thể sử dụng khoản thế chấp này để thanh lý.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status