Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh Đăk Nông - Pdf 39

PHẦN I
MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc mở rộng dân
chủ và tăng cường pháp chế XHCN bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân. Việc mở rộng dân chủ phải gắn liền với xây dựng hoàn thiện hệ thống chính
trị từ Trung ương đến tận cơ sở. Đây vừa mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc
đổi mới đất nước.
Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền lợi cơ bản của công dân đã được
Hiến pháp ghi nhận. Từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992 càng được
ghi nhận cụ thể quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc khiếu nại, tố cáo và
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Khiếu nại, tố cáo được giải quyết đúng theo quy
định của pháp luật sẽ bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của công dân, phát
huy được quyền dân chủ của công dân trong việc tham gia kiểm tra, giám sát hoạt
động của các cơ quan nhà nước, chống các hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng,
buôn lậu và các biểu hiện tiêu cực khác, góp phần bảo vệ kỷ cương pháp luật, mở
rộng thiết chế XHCN, giữ vững ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, tình hình khiếu nại, tố cáo đang đặt ra
những vấn đề hết sức bức xúc, phức tạp cần giải quyết một cách toàn diện, việc
khiếu nại, tố cáo của công dân ngày một gia tăng về số lượng cũng như tính chất
phức tạp, nhiều vụ nếu giải quyết không kịp thời dễ trở thành “điểm nóng” gây ảnh
hưởng đến an ninh trật tự và tình hình kinh tế - xã hội ở một số địa phương và có
nguy cơ lây lan trong phạm vi rộng.
Về mặt chủ quan, có thể nói chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay
cũng còn nhiều hạn chế, tồn tại, trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo ở nhiều
nơi chưa cao, tình trạng chuyển đơn vòng vo, đùn đẩy, né tránh diễn ra khá phổ
biến, dẫn đến tình trạng đơn thư gửi vượt cấp, một số vụ khiếu nại, tố cáo phức tạp
tồn đọng, kéo dài nhưng không được giải quyết dứt điểm, đây là vấn đề bức xúc
nhất hiện nay. Mặt khác, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán bộ,

hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng. Chính đặc điểm này nảy sinh những nguyên
nhân làm phát sinh nhiều vụ việc khiếu kiện phức tạp, đông người, chủ yếu tập
trung ở lĩnh vực đất đai với tỷ lệ lên đến 90%, cụ thể như:
Một là, việc giải phóng mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô
thị, xây dựng khu dân cư diễn ra khắp nơi nhất là các khu vực trung tâm tỉnh, trung
tâm huyện, thị trấn, cụm xã. Đặc biệt, thời gian vừa qua có nhiều dự án lớn triển
khai trên địa bàn tỉnh như: Dự án khai thác quặng Bauxite, luyện Alumin của Tập
đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam; các dự án Thủy điện Đăk R’tih, Đồng Nai 3,
Đồng Nai 4, dự án Hồ Trung tâm, dự án Đường Bắc - Nam; các dự án sản xuất
nông lâm nghiệp ở các huyện Đăk G’long, Đăk Mil, Tuy Đức…với diện tích đất
phải phải thu hồi để đền bù, giải phóng mặt bằng rất lớn, có ảnh hưởng đến đời
sống của nhiều hộ dân trong vùng dự án. Việc tranh chấp đất đai, lấn chiếm đất

2


rừng trong các dư án nông lâm nghiệp cũng diễn ra khá phổ biến, gay gắt giữa
người dân bị thu hồi đất với nhà đầu tư.
Hai là, việc thu hồi đất không thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật
quy định; việc hỗ trợ đền bù không đúng chính sách, thiếu công khai dân chủ; giá
cả đền bù thấp, không nhất quán, không công bằng, cá biệt còn có những trường
hợp tiêu cực, sai sót; công tác quản lý đất đai ở các cấp chính quyền cơ sở có nơi
còn lỏng lẽo; chính sách, pháp luật đất đai có nhiều thay đổi và cũng còn bất cập
nên gây nhiều lúng túng, tùy tiện trong việc áp dụng chế độ, chính sách, văn bản
quy phạm pháp luật dẫn đến sự mất công bằng, ảnh hưởng đến quyền lợi chính
đáng của người dân trong vùng dự án bị giải tỏa, là những nguyên nhân làm phát
sinh khiếu nại, tố cáo kéo dài. Ví dụ như vụ việc khiếu nại của 12 hộ dân ở thị xã
Gia Nghĩa về dự án giải tỏa hành lang quốc lộ 14, đoạn đi qua thị xã Gia Nghĩa
kéo dài trong nhiều năm nhưng chưa được giải quyết dứt điểm. Qua vụ việc này
cho thấy sự thiếu thống nhất của cơ quan nhà nước trong việc áp dụng văn bản

kỷ XVIII quyền con người được coi là quyền tự nhiên. Đầu thế kỷ XX, quyền con
người được quốc tế hoá, được ghi nhận bằng văn bản pháp luật quốc tế. Ngày
10/12/1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tuyên ngôn về quyền con
người.
Trong chế độ XHCN của Nhà nước ta, quyền con người nói chung và quyền
khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng không những được Nhà nước ghi nhận,
mở rộng mà Nhà nước còn tạo điều kiện để nhân dân dễ dàng thực hiện, từ việc
quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong tiếp nhận và giải quyết khiếu
nại, tố cáo của công dân đến việc nghiên cứu thiết lập cơ chế tái phân cấp hành
chính, mở ra cho người dân có khả năng khởi kiện các quyết định hành chính, hành
vi hành chính của cơ quan công quyền tại toà án. Quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân ngày càng được đảm bảo thực hiện, quá trình giải quyết ngày càng công khai,
dân chủ. Tuy nhiên, những gì chúng ta đang cố gắng thực hiện và kết quả đạt được
như mong muốn vẫn còn là một khoảng cách, số lượng các vụ việc khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị và phản ánh ngày một tăng. Việc giải quyết chưa đat hiệu quả mong
muốn là điều đáng phải suy nghĩ. Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân
cả khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là nguyên nhân chủ quan. Đó là tình
trạng thiếu trách nhiệm trong hoạt động công vụ nhất là các lĩnh vực đụng chạm
đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Phương thức giải quyết khiếu
kiện mà chúng ta đang áp dụng thực ra chưa thích hợp và hiệu quả, làm cho vụ
việc kéo dài, không có điểm dừng là thực trạng đáng báo động hiện nay.
Đề cao trách nhiệm và thái độ phục vụ của nhân dân đang là đòi hỏi bức
bách của quá trình cải cách nền hành chính và hoàn thiện bộ máy nhà nước theo
định hướng pháp quyền XHCN. Đứng trên phương diện đó thì cần phải thấy rằng:
Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là trách nhiệm của toàn bộ bộ máy nhà
nước, thậm chỉ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hiến pháp
năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định rằng “ Tất cả quyền lực
thuộc về nhân dân…quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp”. Chính vì vậy, dù thực hiện quyền lực nào đi chăng nữa thì cũng thực

3. Mục tiêu:
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực tiễn và lý luận về công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo hiện nay, đề ra những giải pháp để thực hiện việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo của công dân đảm bảo đúng pháp luật, thấu tình đạt lý, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân cũng như lợi ích của Nhà nước; hạn chế và từng
bước giảm thiểu tình trạng khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, đông người, vượt
cấp, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh là
mục tiêu chính của nhiệm vụ khoa học này.

5


4. Giới hạn:
Trong phạm vi nhiệm vụ nghiên cứu khoa học này, nhóm tác giả chỉ tập
trung nghiên cứu về tình hình khiếu nại, tố cáo trên lĩnh vực hành chính thông qua
số liệu tổng hợp, báo cáo công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố
cáo của các cơ quan hành chính nhà nước kết hợp với việc khảo sát thực tế một số
cơ quan, đơn vị nhằm nắm tình hình và thu thập số liệu về thực trạng giải quyết
khiếu nại, tố cáo của các cơ quan này. Nhiệm vụ khoa học không tiến hành việc
phỏng vấn đối với phía người khiếu nại, không thực hiện khảo sát xã hội học về sự
bằng lòng của người dân đối với cách giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay của các
cơ quan hành chính nhà nước.
Từ giới hạn nói trên, nhiệm vụ khoa học chỉ đi sâu phân tích các khiếu nại
về quyết định hành chính, hành vi hành chính của công dân đối với cơ quan nhà
nước. Nhiệm vụ khoa học không nghiên cứu các khiếu nại, tố cáo ở lĩnh vực tư
pháp mặc dù thực tế có đến 30% - 40% đơn thư khiếu nại, tố cáo hiện nay liên
quan đến hoạt động tư pháp.
Do thời gian nghiên cứu của nhiệm vụ khoa học ngắn, nguồn kinh phí có
hạn, đội ngũ tham gia cũng như Chủ nhiệm nhiệm vụ là những cán bộ mới tham
gia nghiên cứu khoa học lần đầu nên không khỏi gặp những khó khăn, tồn tại và

Công thương, Y tế, Giáo dục, Lao động Thương binh Xã hội.
2. Địa điểm, quy mô và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu tại Thanh tra tỉnh, thời gian nghiên cứu 06 tháng từ tháng
9/2013 đến tháng 02/2014. Trong đó, tập trung phân tích tổng hợp số liệu tình hình
khiếu nại, tố cáo từ năm 2007 đến 2012 tại cơ quan Thanh tra tỉnh và một số sở
ngành, huyện thị trong tỉnh kết hợp với đi khảo sát nắm tình hình tại cơ sở.
3. Nội dung nghiên cứu:
Nhiệm vụ khoa học nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
Nội dung 1. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về
quyền khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

7


- Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quyền khiếu
nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Vai trò của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay.
Nội dung 2. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở tỉnh Đăk Nông.
- Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại tố cáo ở tỉnh Đăk Nông;
- Nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo và kết quả giải quyết hiện nay;
- Những tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về khiếu nại, tố
cáo.
Nội dung 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết
khiếu nại tố cáo trên địa bàn tỉnh Đăk Nông.
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại tố
cáo trên địa bàn tỉnh Đăk Nông.
4. Phương pháp nghiên cứu:
* Phương pháp luận: Tiếp cận, nghiên cứu đề tài trên phương pháp luận
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác - Lê Nin.
* Phương pháp cụ thể:

thị quan trọng về giải quyết khiếu nại, tố cáo như: Nghị định số 89/1997/NĐ-CP
ngày 03/3/1997 của Chính phủ ban hành Quy chế tiếp dân; Luật Khiếu nại, tố cáo
năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm 2005); Nghị định số 53/2005/NĐ-CP
ngày 19/4/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu
nại, tố cáo và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Khiếu nại, tố cáo; Chỉ thị
09/CT-TW ngày 06/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương về một số vấn đề cấp
bách cần thực hiện trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; Chỉ thị số
36/2004/CT-TTg ngày 27/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh và
tăng cường trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; Nghị định số 38/2005/NĐ-CP ngày
18/3/2005 của Chính phủ quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng;
Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết
và thi hành một số điều Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Khiếu nại, tố cáo; Thông báo số 130/TB-TW ngày 10/01/2008 của
Ban Chấp hành Trung ương về việc thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tình
hình giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2006 và giải pháp trong thời gian tới; Luật
Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011; Luật Tố cáo số 03/2011/QH13 ngày
11/11/2011; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy
9


định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại; Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày
03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Tố cáo; Chỉ thị
số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh và
nâng cao hiệu quả tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Mặc dù Đảng và Chính phủ đã có nhiều quan tâm ban hành các văn bản
pháp luật về khiếu nại, tố cáo nhưng đến nay tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo
chưa đạt được như mong muốn. Việc khiếu nại, tố cáo đang có xu hướng ngày một
tăng và chưa được giải quyết kịp thời, đây là điều đáng suy nghĩ.
Khi nghiên cứu tình hình khiếu nại, tố cáo và thực trạng giải quyết khiếu nại,

giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của thủ trưởng các cấp, các ngành. Với
nội dung trên cho thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất, đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chức năng thanh
tra, kiểm tra của bất cứ cơ quan, tổ chức nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói
“Không có thanh tra, kiểm tra thì không có quản lý; đã quản lý thì phải thanh tra,
kiểm tra”. Thực hiện vai trò này cho thấy chức năng thanh tra, kiểm tra là việc làm
quan trọng nhất của các chủ thể quản lý. Vì vậy, pháp luật từ trước đến nay đều
quy định việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nói riêng và thực hiện chức năng thanh
tra nói chung là trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan nhà nước, các tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp.
Thứ hai, đó là một trong hai phương thức thực hiện dân chủ trong bất kỳ
chế độ nào. Phương thức thứ nhất là dân chủ đại diện, là việc công dân bầu ra
những người có đức, có tài đại diện cho mình tham gia quản lý các tổ chức chính
trị xã hội mà mình là thành viên. Còn dân chủ trực tiếp là việc công dân trực tiếp
tham gia quản lý nhà nước, các thành viên của tổ chức chính trị xã hội trực tiếp
tham gia quản lý, điều hành tổ chức mà mình là thành viên. Để đảm bảo cho công
dân, cho các thành viên của các tổ chức thực hiện quyền trực tiếp tham gia quản lý
nhà nước, quản lý xã hội thì phương thức hữu hiệu nhất đó là phương thức đảm
bảo thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, của các thành viên tổ chức.
Chỉ có thông qua khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo thì công dân,
thành viên của các tổ chức mới được tham gia quản lý nhà nước, quản lý tổ chức
của mình một cách đầy đủ, hiệu quả và đảm bảo tính dân chủ cần thiết.
Do công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo có vai trò lớn như vậy nên Điều 5
Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Cơ quan Thanh tra nhà nước trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền
thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và
phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và
phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật”.
3. Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Đăk Nông thời
gian qua

nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển kinh tế - xã
hội ổn định, bền vững phải đi đôi với tăng cường, chú trọng công tác xem xét, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và phải xem đây là một mặt thống nhất của hai vấn đề. Đó
là đảm bảo phát triển kinh tế bền vững gắn liền với giữ vững ổn định chính trị.
Trên cơ sở từng bước mở rộng dân chủ, tạo điều kiện cho mọi công dân thực hiện
quyền khiếu nại, tố cáo của mình một cách đúng pháp luật.
3.2. Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo (số liệu từ năm
2007 đến năm 2012)
3.2.1. Tình hình phát sinh khiếu nại, tố cáo
Tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh thời gian qua diễn biến hết sức
phức tạp ở diện rộng, có yếu tố lây lan, bị lôi kéo đông người và có dấu hiệu bọn
xấu lợi dụng, kích động, chuyển từ mục đích đòi quyền lợi cá nhân sang các yêu
sách thỏa thuận khác không liên quan đến quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm hoặc
12


do nhiều nguyên nhân, người khiếu nại hiện nay chuyển từ khiếu nại sang tố cáo,
làm phức tạp thêm tình hình khiếu kiện đông người.
Tổng hợp, thống kê số liệu có được qua khảo sát, điều tra, thu thập từ các
sở ngành, huyện, thị xã về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh
Đăk Nông từ năm 2007 đến năm 2012 cho thấy: Số lượng đơn khiếu nại, tố cáo đã
tiếp nhận 10.593 đơn với 8.144 vụ việc; trong đó có 9.319 đơn khiếu nại với 7.008
vụ việc, 1.274 đơn tố cáo với 1.136 vụ việc. Trong tổng số vụ việc nêu trên, có
3.511 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấp, sở, ngành (3.047 vụ khiếu
nại; 464 vụ tố cáo), cụ thể:
- Năm 2007 đã tiếp nhận 1.120 đơn, với 889 vụ việc (967 đơn khiếu nại với
736 vụ việc, 153 đơn tố cáo với 153 vụ việc; số vụ việc khiếu nại liên quan đến
lĩnh vực đất đai là 662 chiếm 89,94%, còn 74 vụ việc khiếu nại liên quan đến nội
dung khác như chế độ chính sách an sinh xã hội, chính sách thuế, quyết định kỷ
luật...). Trong tổng số 889 vụ việc thì có 378 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết

chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội và các vụ việc không đủ điều kiện để thụ lý
giải quyết theo quy định. Trong 444 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ
quan hành chính các cấp thì thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh 55 vụ việc (46 vụ
khiếu nại, 9 vụ tố cáo); cấp huyện 135 vụ việc (112 vụ khiếu nại, 23 vụ tố cáo);
cấp xã 209 vụ việc (189 vụ khiếu nại, 20 vụ tố cáo); sở ngành 45 vụ việc (26 vụ
khiếu nại, 19 vụ tố cáo). So với năm 2008, số lượng đơn thư và vụ việc tiếp nhận
trong năm 2009 giảm 535 đơn và 589 vụ việc.
- Năm 2010 đã tiếp nhận 1.387 đơn, với 1.100 vụ việc (1.130 đơn khiếu
nại với 927 vụ việc, 257 đơn tố cáo với 173 vụ việc; số vụ việc khiếu nại liên quan
đến lĩnh vực đất đai là 834 chiếm 89,97%, còn 93 vụ việc khiếu nại liên quan đến
nội dung khác). Trong tổng số 1.100 vụ việc có 483 vụ việc thuộc thẩm quyền giải
quyết của cơ quan hành chính các cấp (435 vụ khiếu nại; 48 vụ tố cáo), còn lại là
các vụ việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan tư pháp, của các tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị xã hội và các vụ việc không đủ điều kiện để thụ lý giải quyết theo
quy định. Trong 483 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết thì thẩm quyền giải
quyết của cấp tỉnh 55 vụ việc (50 vụ khiếu nại; 5 vụ tố cáo); cấp huyện 115 vụ việc
(101 vụ khiếu nại; 14 vụ tố cáo); cấp xã 284 vụ việc (269 vụ khiếu nại, 15 vụ tố
cáo); sở ngành 29 vụ việc (15 vụ khiếu nại, 14 vụ tố cáo). So với năm 2009, số
lượng đơn thư và vụ việc tiếp nhận trong năm 2010 giảm 84 đơn và 89 vụ việc.
- Năm 2011 đã tiếp nhận 2.212 đơn, với 1.878 vụ việc (1.993 đơn khiếu
nại với 1.677 vụ việc, 219 đơn tố cáo với 201 vụ việc; số vụ việc khiếu nại liên
quan đến lĩnh vực đất đai là 1.509 chiếm 89,98%, còn 168 vụ việc khiếu nại liên
quan đến nội dung khác). Trong tổng số 1.878 vụ việc có 1.018 vụ việc thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan hành chính các cấp (923 vụ khiếu nại, 95 vụ tố cáo),
còn lại là các vụ việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan tư pháp, của các tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị xã hội và các vụ việc không đủ điều kiện để thụ lý giải
quyết theo quy định. Trong 1.018 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết thì thuộc
thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh 125 vụ việc (120 vụ khiếu nại, 5 vụ tố cáo); cấp
huyện 200 vụ việc (170 vụ khiếu nại, 30 vụ tố cáo); cấp xã 510 vụ việc (486 vụ
khiếu nại, 24 vụ tố cáo); sở ngành 183 vụ việc (147 vụ khiếu nại; 36 vụ tố cáo). So

thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, giao đất cho các dự án.
Trong đó, phát sinh khiếu nại tập trung vào các dự án như: Vụ khiếu kiện của các
hộ dân xã Đăk Ngo, huyện Tuy Đức, với hàng trăm công dân khiếu kiện vượt cấp
ra Trung ương đòi lại đất khi Nhà nước cho thuê, kéo dài từ năm 2005 đến nay
chưa giải quyết được; Dự án khai thác quặng Bauxit - sản xuất Alumin tại xã Nhân
Cơ, huyện Đăk R’lấp đã giải tỏa đền bù trên 200 hộ dân. Khi xây dựng phương án
đền bù đã tính sai hạng đất từ loại 3 xuống loại 4, làm phát sinh đơn khiếu nại kéo
dài trong nhiều năm; Dự án xây dựng Nhà máy thủy điện Đăk R’tih phải giải tỏa,
bồi thường cho 1.758 hộ dân. Quá trình giải quyết sai sót trên, 528 hộ đã được bồi
thường khắc phục theo Kết luận số 4057/KL-UBND của UBND tỉnh, với số tiền
20.951.442.344 đồng; Dự án Thủy điện Đồng Nai 3&4 ở huyện Đăk G’long đã
thực hiện việc di dân lên vùng tái định cư gần 4 năm nhưng vẫn chưa giải quyết
dứt điểm vấn đề về bố trí đất sản xuất, đất ở cho người dân.
Thực trạng trên đang là những bức xúc của các hộ dân ở vùng dự án bị thu
hồi đất ở tỉnh ta hiện nay. Ở đây nói lên sự tắc trách của một số cơ quan nhà nước
trong việc tổ chức triển khai xây dựng phương án đền bù chưa chặt chẽ. Công tác
kiểm kê, đo đếm tài sản, hoa màu trên đất cho người bị thu hồi đất còn thiếu sót và
sai phạm. Đặc biệt là chủ đầu tư, vì lợi ích nhóm nên đã cố tình chậm trễ đền bù,
khắc phục hậu quả cho công dân. Việc thiếu đất ở, đất sản xuất ở khu tái định cư,
định canh của Dự án Thủy điện Đồng Nai 3&4 đang tiềm ẩn những rủi ro về cuộc
sống của người dân vùng dự án khi bị chuyển đi tái định cư nhưng không có đất
sản xuất, dẫn đến đói nghèo là một thực tế đáng suy nghĩ. Trong khi luật quy định
người dân chuyển đến địa điểm tái định cư phải đảm bảo tốt hơn nơi ở cũ. Rõ ràng
giữa các quy định của pháp luật và thực tế thực hiện ở các dự án đang là một
15


khoảng cách. Trước thực trạng trên, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời cho
công dân đang là nhiệm vụ nặng nề cho các cấp, chính quyền địa phương trong
thời điểm hiện nay.

483
1.018
504
3.511

311
576
373
435
923
429
3.047

Tố
Tổng
cáo
số
67
323
108 629
71
392
48
460
95
931
75
489
464 3.224


50
90,9
64
16,3 52
45
86,5
45
9,8 23
20
87
75
8
87
67
77
70
14,4 15
10
66,6
420 13
287
243 84,6

Số vụ tồn đọng
Tố cáo
SL %
4
7,3
5
9,1

6
100
6
100
39 100

(Nguồn: Số liệu khảo sát, thu thập từ các sở, ngành, huyện, thị xã)

17

Tố cáo
SL
0
0
0
0
0
0
0

%
0
0
0
0
0
0
0




%

Số vụ

%

Số vụ

%

Số vụ
tiếp
khiếu

1

2007

311

311

51

260

35

14


135

33

50

3

2009

373

373

93

280

40

14

184

66

56

20


2011

923

923

132

791

114

15

516

65

161

20

67

6

2012

429


13

1.413

63

556

24

243

Tổng cộng

(Nguồn: Số liệu khảo sát, thu thập từ các sở, ngành, huyện, thị xã)

18


Bảng 3. Kết quả giải quyết các vụ tố cáo từ năm 2007 đến năm 2012 của cơ quan hành chính các cấp

Kết quả giải quyết (vụ việc)
Stt

Năm

Số vụ thuộc
thẩm quyền giải
quyết

67

67

9

14

31

46

27

40

4

2

2008

108

108

17

16


7

4

2010

48

48

6

12

32

67

10

21

3

5

2011

95


50

26

35

5

464

464

60

13

247

53

157

34

44

Tổng cộng

(Nguồn: Số liệu khảo sát, thu thập từ các sở, ngành, huyện, thị xã)


Chủ tịch UBND tỉnh cho thấy chất lượng giải quyết lần đầu còn hạn chế,
nhiều vụ việc giải quyết lần đầu bị dân tiếp khiếu như huyện Đăk Song, Đăk
R’lấp. Đặc biệt với các vụ khiếu nại đông người ở thị xã Gia Nghĩa như: Vụ
khiếu nại của các hộ dân liên quan đến việc xây dựng Nhà máy thủy điện Đăk
R’tih; 12 hộ giải tỏa hành lang Quốc lộ 14 - đoạn qua thị xã Gia Nghĩa hay vụ
khiếu nại tái định cư, định canh thuộc Dự án Thủy điện Đồng Nai 3&4, huyện
Đăk G’long cho thấy các chủ đầu tư dự án chưa quan tâm đến việc lập, thẩm
định phương án đền bù cho người dân, dẫn đến việc kê khai, đo đếm tài sản,
hoa màu tại thời điểm kê khai còn nhiều thiếu sót, sai phạm. Nổi cộm lên là
20


vụ việc khiếu nại của các hộ dân thuộc khu vực xã Đăk R’moan, thị xã Gia
Nghĩa yêu cầu UBND xã xác nhận thời điểm sử dụng đất và xây dựng nhà
trên đất nhưng chính quyền không xác nhận được, cá biệt có nhiều trường hợp
cùng một hộ xác nhận thời điểm lại khác nhau, gây nên khiếu kiện đông
người, làm khó khăn cho công tác giải quyết khiếu nại hiện nay…
4. Nguyên nhân phát sinh tình hình khiếu nại, tố cáo thời gian
qua
4.1. Nguyên nhân khách quan
Nhằm phát huy nội lực, khởi động mọi tiềm năng trong xã hội, xây
dựng cơ sở hạ tầng và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà, nhiều
chủ trương, chính sách mới đã được ban hành, thực hiện. Tuy nhiên, trong
thực hiện chính sách có thể có đụng chạm đến quyền và lợi ích chính đáng
của một số người nên nảy sinh khiếu kiện. Việc điều hòa lợi ích đó chưa thỏa
đáng hoặc giải quyết không tốt, phát sinh mâu thuẫn, khiếu kiện có lúc còn
gay gắt.
Bên cạnh đó, một số chính sách vừa mới ban hành lại thiếu đồng bộ
và nhiều khi không thống nhất, chính sách lại thường xuyên thay đổi và thiếu
nhất quán. Trên một số mặt còn lúng túng trong việc ban hành những quy

đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, cá biệt có nơi cán bộ sai phạm, nội
bộ mất đoàn kết, vai trò lãnh đạo của Đảng ở đó giảm sút, chính quyền bị vô
hiệu hóa, không được sự tín nhiệm với nhân dân. Đây là một trong những
nguyên nhân phát sinh khiếu kiện kéo dài, có khi trở thành “điểm nóng” như
ở xã Đăk Ngo, huyện Tuy Đức...
Ý thức chấp hành pháp luật kỷ cương của một bộ phận cán bộ có
trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa nghiêm, bệnh quan liêu hành
chính thiếu dân chủ, công khai và công bằng còn phổ biến. Một số cán bộ làm
công tác kê khai đền bù có hành vi tiêu cực, tham nhũng làm dân bất bình,
dẫn đến khiếu kiện phát sinh gay gắt. Nhiều vụ việc vận dụng các văn bản
pháp luật giải quyết hoàn toàn trái ngược nhau, làm nảy sinh khiếu kiện mới
nhưng chậm được sửa đổi, khắc phục.
Một số vụ khiếu nại, tố cáo đã được giải quyết đúng chính sách pháp
luật nhưng trong việc chấp hành quyết định giải quyết thường không nghiêm
túc, dây dưa, kéo dài, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Cá biệt có những vụ việc Thanh tra kết luận, kiến nghị biện pháp xử lý nhưng
cấp có thẩm quyền không xử lý hoặc xử lý không kịp thời để cho dân bất
bình, dẫn đến tiếp khiếu trở thành phức tạp như các vụ giải quyết khiếu nại ở
huyện Đăk Song (Vụ khiếu nại của ông Đặng Văn Tấn, Nguyễn Thị
Phụng,...vv).
Nhiều vụ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho công dân, về trình tự
thủ tục giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo chưa đảm bảo đúng quy định, đặc
biệt ở cơ sở cấp xã, huyện còn có những vụ khiếu nại được giải quyết nhưng
không ban hành quyết định giải quyết theo quy định của pháp luật mà chỉ ra
công văn, thông báo trả lời cho công dân. Như vậy, xét về mặt nguyên tắc
22


pháp lý chưa thể coi vụ việc khiếu nại đã được giải quyết khi chưa có quyết
định giải quyết của cơ quan có thẩm quyền.

sự thật, quá khích, coi thường kỷ cương pháp luật, gây mất an ninh, trật tự,
thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết hoặc giải quyết sai pháp luật chưa
được xử lý nghiêm minh, dẫn tới nhiều người coi thường kỷ cương, pháp luật
trong thực hiện khiếu nại, tố cáo làm cho tình hình càng phức tạp thêm.
23


5. Những tồn tại và hạn chế trong giải quyết khiếu nại, tố cáo
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thời gian qua, mặc dù có nhiều
chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nhân dân
cũng như mong muốn của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đề ra. Trước thực trạng khiếu
nại, tố cáo ngày một gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất vụ việc phức tạp,
đông người, vượt cấp lên Trung ương. Đây đang là điều đáng suy nghĩ của
Cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Đăk Nông. Những tồn tại, thiếu sót thể hiện ở
những mặt sau đây:
- Trong giải quyết khiếu nại còn có biểu hiện đùn đẩy, né tránh trách
nhiệm; một số quyết định giải quyết khiếu nại còn chiếu lệ, qua loa, thiếu
công tâm, khách quan, chưa thấu tình đạt lý, còn có biểu hiện chủ quan, áp
đặt, chưa thực hiện đúng quy định đối thoại với người khiếu nại trước khi ban
hành quyết định nên chất lượng giải quyết khiếu nại lần đầu chưa cao; chưa
làm tốt việc hòa giải tranh chấp trong nội bộ nhân dân và các khiếu nại khi
mới phát sinh; chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại; một
số quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật nhưng cơ quan có liên quan
không tích cực triển khai thực hiện hoặc cơ quan ra quyết định giải quyết
không có biện pháp trong chỉ đạo đôn đốc thực hiện nên đã làm hạn chế hiệu
quả giải quyết. Thủ trưởng một số ngành và địa phương chưa quan tâm đến
việc xử lý các kết luận sau thanh tra, có những vụ việc đã có kết luận rõ ràng
nhưng cấp có thẩm quyền chậm trễ trong việc xử lý sai phạm, xử lý cán bộ,
khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nên người dân thiếu tin tưởng
vào việc giải quyết của chính quyền cơ sở mà tiếp tục gửi đơn đến các cấp

- Các dự án giao đất, cho thuê đất còn chồng lấn vào vùng đất xâm
canh của đồng bào di cư tự do, đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, đụng chạm
đến không gian sinh tồn, phong tục, tập quán của đồng bào bản địa, tạo cơ hội
cho bọn xấu lợi dụng, kích động, lôi kéo một bộ phận đồng bào tranh chấp,
khiếu kiện đông người kéo dài, khó giải quyết. Nổi lên các dự án nông lâm
nghiệp ở Công ty lâm nghiệp Quảng Tín, xã Đăk Ngo, huyện Tuy Đức.
- Hạn chế trong công tác giải tỏa, đền bù, công tác lập và thẩm định
dự án: Quy trình thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, thực hiện chính
sách hỗ trợ, tái định cư còn nhiều sai sót; công tác phối hợp giữa chính quyền
địa phương trong việc kê khai đền bù, giải tỏa cho nhân dân chưa được chặt
chẽ, dẫn đến bức xúc khiếu kiện đông người và vượt cấp. Đây là vấn đề đáng
báo động hiện nay.
- Các nhà đầu tư chưa phối hợp với cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các
đoàn thể quần chúng địa phương làm tốt công tác tuyên truyền, vận động,
thực hiện quy chế dân chủ, công khai, minh bạch; chưa giải quyết tốt lợi ích
chính đáng của người dân trong vùng dự án, nhằm tạo ra sự thống nhất, đồng
thuận; trình độ, năng lực của đội ngũ làm công tác thẩm định, lập phương án
đền bù còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra. Một số dự án phát
sinh khiếu kiện có trách nhiệm của các cơ quan chuyên ngành thẩm định, tư
vấn chưa đúng quy định của pháp luật.
6. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status