1
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, căn cứ,
kết quả có trong luận văn là trung thực.
Đề tài này chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác.
2
Lời cảm ơn
Luận văn với đề tài: “Vận dụng lý thuyết giao tiếp vào dạy học đọc – hiểu cho học
sinh lớp 4, lớp 5” được hoàn thành dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của PGS.TS. Đỗ
Huy Quang.
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS.Đỗ Huy Quang,
các thầy cô giáo trong phòng Sau đại học, các cô giáo trường Tiểu học Kì Bá (Thái Bình),
trường Tiểu học Lê Lợi (Kiến Xương, Thái Bình ), trường Tiểu học Ngọc Thanh (Vĩnh
Phúc), và các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp tôi
hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2011
Học viên
Hoàng Thị Thu Hiền
Danh mục kí hiệu viết tắt
GV
: Giáo viên
GT
5
đồng thời góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy, nâng cao vốn hiểu biết
về tiếng Việt,văn hóa, xã hội, tự nhiên của Việt Nam và nước ngoài.
1.2.Trong các phân môn tiếng Việt, phân môn tập đọc có ý nghĩa vô
cùng quan trọng nhằm phát triển khả năng giao tiếp cho học sinh trong đó
đọc hiểu là đích của hoạt động đọc, và đọc – hiểu là hoạt động tư duy gắn
liền với hoạt động ngôn ngữ. Rèn kĩ năng đọc và kĩ năng hiểu bài đọc là hai
kĩ năng quan trọng của dạy tập đọc.Nếu chỉ rèn kĩ năng đọc thì giờ tập đọc
không đi đến đích của việc dạy tìm hiểu bài còn nếu chỉ chú ý rèn cách hiểu
thì lại thành giảng văn. Chính vì vậy dạy học đọc – hiểu phải được chú ý sao
cho phù hợp với học sinh tiểu học đặc biệt với học sinh lớp 4, lớp 5. Đây là
giai đoạn các em chuẩn bị chuyển tiếp lên cấp học trên. Mà dạy học ngữ văn
cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông hiện nay đều đang đi theo định
hướng mới đó là dạy đọc hiểu văn bản. Do đó yêu cầu đặt ra trong dạy học
tập đọc là phải chuẩn bị kĩ năng, năng lực đọc hiểu cho học sinh. Bên cạnh
đó, yêu cầu của giáo dục hiện nay là rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh, mà
giao tiếp là một trong những kĩ năng sống quan trọng. Đọc hiểu là hoạt động
thực hành giao tiếp nên dạy học đọc hiểu góp phần rèn luyện kĩ năng sống
cho học sinh, đáp ứng nhu cầu xã hội.
1.3.Trên thực tế hiện nay, việc dạy đọc hiểu trong trường tiểu học chủ
yếu thông qua hệ thống câu hỏi để học sinh tái tạo lại nội dung chứa trong bài
đọc, giải nghĩa ngôn từ và hiểu được nội dung bài đọc. Đó là đọc hiểu theo
hướng “giải mã văn bản ”. Các em chưa có điều kiện được thể nghiệm cuộc sống,
trò chuyện với các nhân vật và với nhà văn. Các em cũng chưa có điều kiện tự
so sánh, chọn lựa, đánh giá, phân tích, có cách hiểu khác, góc nhìn khác về
bài tập đọc. Để giải quyết vấn đề này, nếu vận dụng lý thuyết giao tiếp sẽ rất
phù hợp với lứa tuổi tiểu học lứa tuổi hồn nhiên, vừa học vừa chơi, lại có trí
tưởng tượng phong phú, các em sẽ cảm nhận được nội dung bài đọc như cuộc
7
bài học gắn liền với các kĩ năng sử dụng tiếng Việt, và thông qua hệ thống bài
tập…
Trong dạy học phần đọc hiểu các nhà biên soạn chương trình và sách
giáo khoa cũng đã chú trọng tới việc dạy học đọc hiểu cho HS theo quan
điểm GT. Điều đó được thể hiện qua hệ thống bài tập, câu hỏi tìm hiểu bài
được xây dựng theo hướng thực hành GT. Thực sự, việc dạy tiếng Việt nói
chung và dạy đoc hiểu nói riêng theo quan điểm GT đã tạo điều kiện để thực
hiện phương hướng sư phạm tích cực hóa hoạt động của người học.
Bên cạnh việc quan tâm tới quan điểm GT trong dạy học Tiếng Việt,
cũng có rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm tới vấn đề dạy học đọc hiểu
cho HS tiểu học, khẳng định đây là đích của việc học Tập đọc.
Trong công trình Dạy học đọc hiểu ở Tiểu học [8] PGS.TS Nguyễn Thị
Hạnh đã khẳng định việc dạy đọc hiểu cho học sinh tiểu học có vai trò quan
trọng trong quá trình học tập của HS, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả học
tập của các em. Theo tác giả, có kĩ năng đọc hiểu, học sinh sẽ từng bước
thành thạo các thao tác của tư duy, tăng dần phẩm chất sáng tạo, phê phán của
tư duy, từ đó cùng với các môn học khác góp phần hình thành năng lực giải
quyết vấn đề ở các em, tác giả cho rằng: “Có kĩ năng đọc- hiểu con người sẽ
có khả năng tiếp cận với một nền văn hóa đọc để rồi có một học vấn và một
vốn kinh nghiệm cần thiết, phong phú”. Tác giả cũng đã tiến hành thống kê,
phân loại các dạng bài tập đọc hiểu trong chương trình tiếng Việt, phân môn
Tập đọc ở tiểu học, đồng thời hướng dẫn phương pháp dạy học, tổ chức hoạt
động học tập để học sinh đọc hiểu
GS.TS. Lê Phương Nga trong công trình Dạy học tập đọc ở tiểu học
[24] đã thể hiện cách nhìn hệ thống và sâu sắc vể chương trình môn học, chú
trọng xem xét các bình diện nội dung và hình thức của văn bản nhằm giúp GV
có căn cứ xác định nội dung luyện đọc thành tiếng và đọc hiểu cho học sinh
9
Quán triệt hơn nữa việc thực hiện quan điểm giao tiếp trong dạy học
phân môn tập đọc nói riêng, trong dạy học Tiếng Việt nói chung.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng hợp các cơ sở lý luận, cở sở thực tiễn của việc dạy học đọc
hiểu theo lý thuyết giao tiếp.
Vận dụng lý thuyết giao tiếp vào dạy học đọc hiểu cho học sinh lớp
4, lớp 5.
Thực nghiệm sư phạm, đánh giá kết quả quá trình vận dụng lý thuyết
giao tiếp trong dạy học đọc hiểu.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu : Hoạt động dạy và học đọc –hiểu cho học sinh
lớp 4, lớp 5 trong giờ tập đọc.
Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 4, lớp 5 ở một số trường thuộc
tỉnh Vĩnh Phúc và Thái Bình.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thống kê, so sánh.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu chuyển một số câu hỏi tìm hiểu bài trong sách giáo khoa theo hình
thức mới, vận dụng lý thuyết giao tiếp, giúp học sinh hiểu nội dung bài đọc
bằng các thao tác giao tiếp với nhân vật , với tác giả, với các sự việc trong bài
đọc thì học sinh sẽ được nâng cao nhận thức cũng như kỹ năng giao tiếp.Giờ
học đọc hiểu sẽ hào hứng,thú vị , phát huy được vai trò chủ động sáng tạo của
học sinh và góp phần giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học.
nhận thức, về tình cảm và mục đích tác động tạo nên sự biến đổi về hành
động. Còn hiệu quả cao hay thấp của một cuộc giao tiếp như thế nào sẽ được
người nghe hay nhận đánh giá và chịu ảnh hưởng.
A Lêonchiw đưa ra định nghĩa giao tiếp như sau: Đó là một hệ thống
những quá trình có mục đích và động cơ trong hoạt động tập thể, thực hiện
các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lí và sử dụng những
phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ.
Một hoạt động giao tiếp được hình thành bởi những nhân tố: nội dung
giao tiếp, nhân vật giao tiếp, hình thức giao tiếp, phương tiện giao tiếp, kênh
giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp… các nhân tố này có mối quan hệ hữu cơ với
nhau cùng hướng tới mục đích giao tiếp. Có thể khái quát bằng sơ đồ sau:
Đ
12
HC
NV
PTK
ND
b. Khái niệm giao tiếp ngôn ngữ:
Giao tiếp ngôn ngữ hay giao tiếp bằng ngôn ngữ là loại giao tiếp lấy
ngôn ngữ (nói và viết) làm phương tiện.
1.1.1.2 Những nội dung chính của giao tiếp ngôn ngữ
Phương tiện giao tiếp ngôn ngữ bằng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Thông thường, nếu so sánh với ngôn ngữ nói thì ngôn ngữ viết cho
phép liên lạc giữa con người với nhau trong khoảng cách rất lớn về không
gian và thời gian. Tuy nhiên, nhờ có các phương tiện kĩ thuật hiện đại, ngày
nay ngôn ngữ nói cũng có thể giúp con người liên lạc với nhau trong những
khoảng cách rất xa (điện thoại truyền hình, vô tuyến điện tử…)
Nhìn chung ở dạng ngôn ngữ nói hay viết thì giao tiếp cũng gồm 2 mặt
là lĩnh hội và sản sinh. Khi nói thì mặt lĩnh hội là nghe, mặt sản sinh là nói.
Khi viết thì mặt lĩnh hội là nghe, mặt sản sinh là viết. Như vậy ngôn ngữ nói
và ngôn ngữ viết là hai công cụ quan trọng trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, nó
14
giúp đạt đến mục đích của giao tiếp. Ba chức năng chính của ngôn ngữ trong
giao tiếp là: chức năng thông báo sự việc,chức năng bộc lộ (chức năng biểu
cảm), chức năng tác động. Thông qua ngôn ngữ, con người có thể thông báo
về thế giới hiện thực hoặc một thế giới tưởng tượng giả định nào đó, có thể
bộc lộ những cảm xúc của chính mình hoặc tác động đến người khác.
Những chức năng trên đây của ngôn ngữ được thể hiện một cách đa
dạng, sinh động thông qua văn bản, cùng với những hiệu quả tương ứng.
Chức năng thông báo giúp cho văn bản phát huy những hiệu quả về nhận
thức. Chức năng bộc lộ giúp cho văn bản phát huy những hiệu quả về tình
cảm. Chức năng thông báo giúp cho văn bản phát huy những hiệu quả về
hành động. Những chức năng này thường được thể hiện đan quyện vào nhau
và tùy từng loại văn bản mà một chức năng nào đó có thể đóng vai trò chủ
yếu hay thứ yếu
Hành động giao tiếp bằng ngôn ngữ có 2 quá trình là tạo lập văn bản và
lĩnh hội văn bản.
Văn bản (hay ngôn bản) vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của hành
động giao tiếp
Tạo lập văn bản là hoạt động của người phát tin một văn bản (nói và
giao tiếp tuy vẫn mang theo những kinh nghiệm riêng của mình về thế giới,
những niêm tin, những hiểu biết xã hội, về phép lịch sự nhưng cũng phải có
chung một nền tảng tri thức, văn hóa… thông thường, trong giao tiếp, vai trò
người phát người nhận là cố định hoặc khó có thể thay đổi (như diễn viên
với khán giả xem truyền hình…)
b. Nội dung giao tiếp: Trước hết, đây chủ yếu là phạm vi hiện thực ở bên
ngoài ngôn ngữ. Phạm vi hiện thực này có thể là những gì đã, đang hoặc sẽ
xảy ra trong thế giới thực tại mà chúng ta đang sống, hoặc trong một thế giới
tưởng tượng. Khi nói đến những phạm vi hiện thực ngoài ngôn ngữ, chúng ta
16
nói đến những sự vật, sự việc nào đó, trong đó sự vật thế nào, vì sao, ai làm,
làm gì với ai, ở đâu, khi nào, nhằm mục đích gì ….thường phải xác định rõ.
Bản thân ngôn ngữ cũng có thể được lấy làm nội dung giao tiếp. Trong
trường hợp này, ngôn ngữ được dùng để nói về chính ngôn ngữ. chẳng hạn,
trong tiết Ngữ pháp tiếng Việt, các thầy giáo, cô giáo dùng tiếng Việt để nói
về tiếng Việt, về những đơn vị ngữ pháp, những quy tắc hoạt động của nó.
c. Phương tiện giao tiếp và kênh giao tiếp
Đó là ngôn ngữ được chọn dùng làm phương tiện chuyên chở thông tin
ngôn ngữ dùng trong giao tiếp thường ở dạng một biến thể nào đó. Đấy là
biến thể tiếng địa phương, chẳng hạn chúng ta có tiếng Hà Nội, tiếng Huế,
tiếng Sài Gòn…và có khi trong những điều kiện hạn chế có thể dùng thêm
biệt ngữ xã hội.
Để cho giao tiếp đạt được hiệu quả, người phát và người nhận phải có
một trình độ nhất định trong việc sử dụng ngôn ngữ. Người phát phải có khả
năng dùng từ, đặt câu, phát âm hoặc viết chữ chuẩn xác để tạo nên văn bản
truyền tải nội dung thông tin đến người nhận. Người nhận phải có năng lực
ngôn ngữ tương ứng để hiểu những nội dung thông tin được truyền tải trong
văn bản.
đánh giá…trong một quy trình dạy học chặt chẽ với sự tham gia của người
dạy và người học.
Như vậy theo quan niệm thông thường, giao tiếp sư phạm là giao tiếp
chủ yếu giữa thầy với trò, giao tiếp giữa trò với trò trong nhà trường
Tuy nhiên đặt trong từng hoạt động giao tiếp ở những nội dung môn
học khác nhau sẽ nảy sinh thêm một mối quan hệ giao tiếp nữa là quá trình
giao tiếp học sinh với các nội dung kiến thức bài học. Ở luận văn này chúng
tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề giao tiếp sư phạm trong quá trình đọc hiểu bài đọc.
18
Trên thực tế trong môn tập đọc, khi giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp
xúc với văn bản và đi sâu tìm hiểu văn bản sẽ nảy sinh một mối quan hệ nữa
là quan hệ giữa trò với các thế hệ bạn đọc khác. Nghĩa là học sinh khi đi vào
tìm hiểu nội dung bài học không chỉ qua sự hướng dẫn của giáo viên, qua trao
đổi với bạn bè mà còn qua sự cảm nhận bằng tâm hồn và tình cảm của mình
đồng điệu cùng các thế hệ bạn đọc khác trong thế giới tác phẩm.
Có thể
khái quát, giao tiếp sư phạm trong quá trình đọc hiểu bài đọc là giao tiếp giữa
thầy với trò, giữa trò với trò và là giao tiếp giữa trò với các thế hệ bạn đọc
khác.
1.1.2.1.1 Giao tiếp giữa thầy với trò, giữa trò với trò trong quá trình đọc hiểu
bài đọc.
Đây là mối quan hệ giao tiếp cơ bản trong nhà trường. Vai trò của
người thầy trong bất kì bài học nào cũng là định hướng, tổ chức các hoạt động
học tập cho học sinh để học sinh chiếm lĩnh được nội dung bài học. Trong dạy
học đọc hiểu, giáo viên càng có vai trò to lớn trong việc tổ chức các hoạt
động, gợi mở tư duy cho học sinh bằng hệ thống các câu hỏi, giao tiếp với các
Li đồng thời yêu cầu từng học sinh nêu lên ý kiến về điều mình học được
trong bài để vận dụng vào cuộc sống.
Qua việc thực hành giao tiếp như trên, giáo viên đã tổ chức được cho học
sinh các hoạt động giao tiếp để tìm hiểu được nội dung chính của bài đọc
Bên cạnh đó trong giờ học và trong quá trình tìm hiểu bài, các học sinh có sự
trao đổi qua lại với nhau các nội dung bài học, tranh luận và đưa ra những
nhận xét về nội dung bài học. Việc các học sinh trả lời các câu hỏi, các bạn
khác chú ý lắng nghe và nhận xét cũng chính là hoạt động giao tiếp quan trọng
giúp các em hiểu kĩ hơn về bài đọc.
Ví dụ: khi cùng học đọc hiểu trong bài “Cái cầu” Phạm Tiến Duật
T.V3. Học sinh muốn tìm hiểu lí do vì sao bạn nhỏ lại yêu quý cái cầu “của
20
cha” như vậy thì có thể cho HS trao đổi theo nhóm, hoặc có thể bằng hình
thức phát biểu cảm nghĩ của mình.
Như vậy, một loạt ý kiến của HS sẽ được đưa ra trao đổi là: do bạn nhỏ
yêu bố mình, do bạn nhỏ tự hào với công việc của bố, do bạn nhỏ này thích
những cây cầu to, rộng, hiện đại,….
Chính nhờ quá trình giao tiếp trên mà nội dung chính của bài sẽ được rút ra:
bạn nhỏ rất yêu quý và tự hào về người cha và công việc của người cha.
1.1.2.1.2 Giao tiếp giữa trò với các thế hệ bạn đọc khác trong quá trình đọc
hiểu.
Như đã nói ở trên, trong quá trình học tập, tiếp xúc với bài đọc (chủ yếu
là các văn bản văn học) các em học sinh không những được tiếp xúc trực tiếp
với thầy, với bạn mà còn được tiếp xúc với các thế hệ bạn đọc khác nhau.
Trên thực tế, các bài tập đọc được trích dẫn trong sách giáo khoa có thể là
những tác phẩm văn học dân gian như truyện cổ tích, thần thoại, truyền
thuyết, những câu tục ngữ ca dao, truyện ngắn… được sáng tác trong những
hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Vì vậy khi chúng ta đọc các tác phẩm này có
hiểu sẽ giúp cho các em tìm hiểu bài đọc tốt hơn, sâu hơn và khách quan hơn.
Cần chú ý là GV phải phân biệt rõ hoàn cảnh trong văn bản và hoàn
cảnh ngoài văn bản. Trong luận văn này, chúng tôi khuyến khích các GV giúp
HS trang bị những kiến thức ngoài văn bản như đã nêu trên. Với hoàn cảnh
trong văn bản thì buộc HS phải tự tìm hiểu thông qua đọc hiểu bài đọc. Các
thao tác giúp HS tìm hiểu hoàn cảnh trong văn bản theo lý thuyết GT sẽ được
chúng tôi cụ thể ở phần sau.
1.1.2.2 Giao tiếp văn học
Giao tiếp văn học là hoạt động giao tiếp dùng văn học làm phương tiện
chuyển tải thông điệp giữa người “phát” (nhà văn) và người “nhận” (độc giả).
Văn học là một loại hình nghệ thuật dùng ngôn ngữ và hình tượng để thể hiện
22
đời sống và xã hội con người. Người sáng tác làm ra tác phẩm để chuyển tải
tư tưởng, tình cảm của mình, người đọc nhờ có tác phẩm mà tiếp nhận những
tư tưởng và tình cảm của người sáng tác. “Tác phẩm” văn học là đơn vị cơ
bản của văn học, là cầu nối, là phương tiện giao tiếp giữa người sáng tác và
người đọc. Những hoạt động “giao lưu” giữa người sáng tác và người tiếp
nhận qua tác phẩm văn học, gọi là hoạt động giao tiếp văn học.
a. Sáng tác văn học là hoạt động của nhà văn muốn được trò chuyện,
giao tiếp, bàn luận với bạn đọc về các vấn đề cuộc sống.
Theo C.Mác: “Nhu cầu vĩ đại nhất, phong phú nhất của con người là
nhu cầu tiếp xúc với người khác. Nhu cầu này không ngang hàng với nhu cầu
khác, sự phát triển của nó trong một con người chính là điều kiện làm cho
con người trở thành con người”. Như vậy, đã là con người ai cũng có nhu cầu
giao tiếp. Đặc biệt là nhà văn những người luôn dành trọn trí tuệ, tâm huyết
của mình để dõi theo hơi thở, nhịp điệu của cuộc sống. Những người luôn
khát khao bộc lộ những trăn trở, suy tư và tiếng nói của mình về cuộc sống.
Đúng như L.Tôn.xtôi đã nói “nghệ thuật là một trong những phương tiện
tiếp nhiều chiều, làm cho con người gần gũi nhau hơn và ngày một phong phú
hơn. [26, tr.121]
Sự đồng cảm chia sẻ của nhà văn bao giờ cũng có ý nghĩa giải bày,
thuyết phục, mong muốn người khác thấu hiểu những điều mà ông ta quan
sát, suy nghĩ và thể nghiệm. Bằng “tác phẩm” của mình, nhà văn cung cấp
cho người đọc những hiểu biết mới về con người và xã hội đồng thời cũng tạo
ra những nhu cầu mới cho người đọc, thậm chí là tạo ra những bạn đọc mới.
b. Văn học là hoạt động giao tiếp, đối thoại giữa người đọc và nhà văn
qua tác phẩm.
24
Tiếp nhận văn học là hoạt động của người đọc nhằm chiếm lĩnh các giá
trị cũng như nghệ thuật của tác phẩm văn học. Con người thực hiện việc tiếp
nhận văn học qua hai con đường hoặc nghe, hoặc đọc “tác phẩm”. Hoạt động
tiếp nhận văn học bắt đầu từ việc tiếp xúc với văn bản ngôn từ (nói hoặc viết)
với hình tượng nghệ thuật, tiếp theo là phân tích, lí giải, lĩnh hội những giá trị
được hình thành từ hệ thống ngôn ngữ và hình tượng, cuối cùng là đánh giá tư
tưởng, thái độ, cảm hứng nghệ thuật của nhà văn qua hệ thống ngôn ngữ và
hình tượng. Tiếp nhận văn học là một hoạt động “giao lưu”, khám phá, một
hoạt động nhận thức của bạn đọc về con người và cuộc sống qua lăng kính
của nhà văn. Tác động của bạn đọc trong hoạt động tiếp nhận văn học với tác
phẩm thể hiện ở chỗ người đọc đem đến cho “tác phẩm” của nhà văn một
dáng vẻ mới, một giá trị mới nhiều khi vượt ra ngoài ý định của tác giả. Với
hoạt động tiếp nhận, bạn đọc sẽ làm cho giá trị của tác phẩm phong phú thêm
bằng những cảm thụ và đánh giá của riêng mình. Từ giao tiếp văn học, người
đọc còn thực hiện mở rộng các hoạt động giao tiếp xã hội với mọi người,
cùng tham gia hoạt động tiếp nhận văn học dưới các hình thức khác nhau. “Về
thực chất, tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa người
đọc và tác giả qua tác phẩm. Nó đòi hỏi người đọc tham gia với tất cả trái tim,
miêu tả trong tác phẩm. Đọc bất kì một “tác phẩm” văn học nào, người đọc
cũng đều phải trả lời được câu hỏi: hình tượng đó là gì, quá trình phát triển
của hình tượng ra sao, ý nghĩa của nó với việc biểu hiện chủ đề tư tưởng của
tác phẩm như thế nào? Câu trả lời thu được từ các câu hỏi ấy sẽ hình thành
nên kết quả của hoạt động giao tiếp giữa người đọc và nhân vật.
Mỗi một tác phẩm gồm nhiều hình tượng, có hình tượng con người, có
hình tượng thiên nhiên, hình tượng đời sống. Chính vì vậy, người tiếp nhận
phải biết phát hiện, lựa chọn khi thực hiện giao tiếp với nhân vật nào vừa đạt