ĐỀ TÀI:
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT GIAO TIẾP
ĐỂ TỔ CHỨC DẠY TẬP LÀM VĂN NÓI NGHI THỨC Ở LỚP 2
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Từ sau Cách mạng tháng Tám, tiếng Việt đã được dùng để giảng dạy tất cả các môn
trong nhà trường từ cấp phổ thông đến đại học. Tiếng Việt là công cụ của nhận thức và tư
duy khoa học nên tiếng Việt là môn giáo dục sâu sắc, mạnh mẽ lòng yêu nước, là môn học
góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách, tâm hồn của con người Việt Nam.
Môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình
thành những phẩm chất quan trọng nhất của con người và trong việc thực hiện những
nhiệm vụ của hệ thống giáo dục quốc dân vì nó đặt nền móng cho các em nắm được tiếng
mẹ đẻ một cách hệ thống, khoa học. Đó là chìa khoá của nhận thức, của học vấn, của sự
phát triển để các em tham gia vào cuộc sống xã hội hiện đại, vào sự phát triển. Vì vậy, môn
học Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ là môn học trung tâm ở trường tiểu học.
Môn Tiếng Việt ở tiểu học hiện nay đang được quan tâm và có những định hướng đổi
mới về phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là chuyển hoá những
thành tựu mới nhất của khoa học kĩ thuật và của khoa học giáo dục vào thực tiễn dạy học.
Đổi mới PPDH phải đổi mới đồng bộ: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ
chức,…
Những định hướng cơ bản của việc đổi mới dạy học môn Tiếng Việt là: dạy học Tiếng
Việt thông qua hoạt động giao tiếp, dạy học theo quan điểm tích hợp, dạy học phát huy tính
tích cực.
Dạy học Tiếng Việt thông qua hoạt động giao tiếp đây là quan điểm trung tâm, cơ bản.
Quan điểm này thể hiện trong nội dung biên soạn và định hướng về phương pháp dạy học.
Về nội dung dạy học: dạy các nghi thức lời nói, các kĩ năng làm việc và giao tiếp cộng
đồng; dạy học thông qua các bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống
giao tiếp tự nhiên.
Dạy học theo hướng tích hợp là một quan điểm dạy học hiện đại nhằm giải quyết mâu
thuẫn giữa lượng kiến thức ngày càng nhiều với lượng thời gian không thay đổi.Tích hợp là
chế khi tìm cách gợi ý cho học sinh.
Nhận thức được tầm quan trọng của Tập làm văn trong chương trình môn Tiếng Việt
tiểu học nói chung và chương trình tiếng Việt lớp 2 nói riêng, xuất phát từ những khó khăn
đang đặt ra cho thực tiễn dạy Tập làm văn lớp 2 trong trường tiểu học, tôi tự đặt cho mình
nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề vận dụng lí thuyết giao tiếp để tổ chức dạy Tập làm văn nói
theo nghi thức ở lớp hai để góp phần dạy học tiếng mẹ đẻ được tốt hơn, đáp ứng yêu cầu
của nhà trường và xã hội, đảm bảo mục tiêu dạy học.
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đặt ra mục đích nghiên cứu thực trạng dạy học tập làm văn, các cơ sở lí luận để
dạy Tập làm văn, từ đó xác lập một quy trình dạy học bằng một tổ hợp câu hỏi và trò chơi
đóng vai nhằm giúp học sinh lớp hai biết nói có nghi thức bằng lời của mình. Hơn nữa,
giúp các em có hiểu biết ban đầu về phương châm lịch sự trong giao tiếp. Đề tài sẽ góp
phần bổ sung, hoàn thiện quá trình dạy Tập làm văn ở lớp 2 tiểu học, nâng cao hiệu quả dạy
học Tiếng Việt nói chung.
III. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
1. Xác định cơ sở lí luận dạy Tập làm văn bằng cách phân tích một số luận điểm khoa học
có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu. Cơ sở lí luận này là tiền đề cho việc đề xuất
nhóm câu hỏi - bài tập trắc nghiệm và trò chơi trong phương pháp dạy Tập làm văn lớp 2.
2
Phân tích thực trạng dạy học Tâp làm văn bao gồm nội dung sau: phân tích tài liệu dạy
Tập làm văn lớp hai, nghiên cứu phân tích quá trình dạy học Tập làm văn ở lớp hai trường
tiểu học.
2. Đề xuất phương pháp dạy Tập làm văn được cụ thể hoá bằng việc xây dựng tổ hợp câu
hỏi - bài tập trắc nghiệm và trò chơi.
3. Tiến hành dạy học thực nghiệm để xem xét tính khả thi và hiệu quả của phương pháp
dạy Tâp làm văn lớp 2 theo tổ hợp câu hỏi - bài tập trắc nghiệm và trò chơi mà đề tài đã đề
xuất. (GV soạn giáo án dạy thực nghiệm, phân tích giáo án, tổ chức dạy thực nghiệm để
nghiên cứu, xem xét vấn đề)
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cuốn Luyện tập Tiếng Việt 2 do Hoàng Văn Thung – Đỗ Xuân Thảo biên Soạn đưa
ra hệ thống câu hỏi và bài tập chung cho các phân môn Tiếng Việt, phần Tập làm văn có
đưa ra một số bài tập tình huống để HS sản sinh lời nói thích hợp theo nghi thức lời nói.
Cuốn Tập làm văn 2 của Đặng Mạnh Thường là sách dùng cho GV và phụ huynh
nên hướng vào cách dạy một giừo TLV lớp 2 gắn với bài dạy cụ thể là chính,đồng thời đưa
ra lời giải của các bài tập.
Cuốn Thực hành Tập làm văn của Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Phan Phương Dung
thiên về cách giải các bài tập trong sách giáo khoa.
Mỗi cuốn sách đều hướng tới rèn kĩ năng Tập làm văn cho Học sinh lớp 2 thông qua
các bài tập hoặc trò chơi riêng biệt. Song nhìn lại, vấn đề “Vận dụng lí thuyết giao tiếp để
tổ chức dạy Tập làm văn nói theo nghi thức ở lớp hai” vẫn chưa được giải quyết thoả
®áng, chưa có tài liệu nào đưa ra được quy trình dạy tập làm văn theo lí thuyết giao tiếp,
trong đó có sử dụng tổ hợp câu hỏi - bài tập và trò chơi để hướng dẫn giáo viên trong quá
trình lên lớp. Vì vậy, chúng tôi đặt cho mình nhiệm vụ đi vào nghiên cứu đề tài “Vận dụng
lí thuyết giao tiếp để tổ chức dạy Tập làm văn nói theo nghi thức ở lớp hai ”. Chúng tôi
hi vọng sẽ góp phần nghiên cứu nhỏ bé của mình trong dạy học phân môn Tập làm văn nói
riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
4
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. NHỮNG CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI VẬN DỤNG LÍ THUYẾT GIAO
TIẾP ĐỂ TỔ CHỨC DẠY TẬP LÀM VĂN NÓI THEO NGHI THỨC Ở LỚP 2
I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN
Trong đề tài này, tôi chỉ đề cập tới các cơ sở lí thuyết liên quan trực tiếp đến việc dạy
học Tập làm văn nói theo nghi thức ở lớp 2. Đó là cơ sở tâm lí học, cơ sở ngôn ngữ và văn
học của việc dạy Tập làm văn ở tiểu học.
1. Cơ sở tâm lí học của việc dạy Tập làm văn ở lớp 2
Theo trường phái tâm lí học hoạt động thì nhận thức của trẻ em được phát triển
thông qua các hoạt động thực tiễn. Chúng ta có thể nêu sơ đồ của tâm lí học hoạt động như
sau:
sống. Các em ít nhiều đã quen với cái đẹp trong tác phẩm văn học qua lời kể của bà, của
mẹ, của anh chị. Tính thẩm mĩ đã được hình thành từ đó và trở thành nhu cầu của các em.
Hoạt động của học sinh lớp 2 đã gắn liền với nhà trường và xã hội. Những hoạt động này
tạo nên sự phát triển lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, yêu cỏ cây hoa lá, yêu đất nước
và những người tốt, yêu thích sự khám phá và thể hiện niềm cảm xúc này. Từ đây, đã nảy
sinh ý nguyện tô điểm cho cuộc sống của mình thêm đẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho các
em thấu hiểu vẻ đẹp của các đợn vị từ ngữ, đặc biệt là từ trong các truyện đã diễn đạt
những giá trị tinh thần cao đẹp mà các em yêu quý. Tuy nhiên đây cũng là lứa tuổi mà vốn
sống, kinh nghiệm còn hạn chế. Nhiều khi cảm thụ của các em còn mang tính trực tiếp,
ngây thơ, không đồng nhất với cảm xúc của tác giả và không hiểu được ý nghĩa sâu xa mà
tác giả gửi gắm trong tác phẩm. Trong khi đó việc cảm nhận, phân tích giá trị của truyện
đòi hỏi có sự tưởng tượng, so sánh, liên tưởng. Đây là một khó khăn khi dạy trẻ nhỏ. Vì
vậy, việc nhận biết nghĩa từ, câu đoạn…cần có sự dẫn dắt của giáo viên hướng cho các em
tới đích mong muốn.
2. Cơ sở ngôn ngữ học của việc dạy Tập làm văn
2.1. Lí thuyết giao tiếp với việc dạy học Tập làm văn
Lí thuyết giao tiếp cho rằng khi hai người gặp nhau và trò chuyện với nhau về một
điều gì đấy thì giữa hai người đố đã diễn ra một hoạt động giao tiếp. Trong hoạt động giao
tiếp, ta nhận thấy các ngôn bản được sản sinh. Đích của một ngôn bản thông thường là tác
động về nhận thức, tác động về tình cảm, tác động về hành động. Hiệu nquả của việc giao
tiếp sẽ được đánh dấu bằng những đích giao tiếp đã đạt được đến chừng mực nào.
Ngôn bản có hai dạng: dạng nói và dạng viết. Dạng nói đòi hỏi phải dùng văn nói.
Văn nói có một số điểm đáng lưu ý:
Cần sử dụng ngữ điệu để thể hiện nội dung. Sự thay đổi của ngữ điệu có tác động lơn
đến việc lí giải nội dung thông tin tiếp nhận được ở người nghe.
Có sử dụng những yếu tố phi ngôn ngữ hỗ trợ cho việc chuyển tải nội dung ngôn
bản.
Việc sử dụng ngôn ngữ dạng nói của ngôn bản có một số điểm khác biệt với dạng
viết: về mặt dùng từ, có nhiều từ chêm xen, hoặc hiện tượng lặp từ, thừa từ. Về việc dùng
câu, thường dùng các kiểu câu ngắn, kết cấu đơn giản, có thể dùng các câu tỉnh lược một
sao cho phù hợp, biết lúc nào nên chủ động tham gia hội thoại, biết lúc nào im lặng để nghe
người khác nói và biết lúc nào nên kết thúc, chấm dứt cuộc hội thoại.Chính vì thế, để giao
tiếp có hiệu quả, bên cạnh việc nắm các quy tắc ngôn ngữ để xây dựng ngôn bản, chúng ta
còn phải nắm quy tắc nói năngđể chủ động tạo ra những lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao
tiếp miệng.
Ở lớp 2 có nội dung dạy Tập làm văn nói theo nghi thức chính là bước đầu hướng
dẫn các em nắm được các quy tắc nói năng trong hội thoại. Đó chính là sự hướng dẫn về sự
hoà phối hội thoại giữa những người tham dự giao tiếp. Hoà phối hội thoại là việc đối
tượng giao tiếp này phải có những hành động , cử chỉ, ngôn ngữ…sao cho phù hợp, tương
ứng với đối tượng giao tiếp kia và ngược lại. Không có sự hoà phối , hội thoại khó có thể
tiến hành trọn vẹn được. Sự hoà phối trong hội thoại được thực hiện bằng hệ thống các lượt
lời và bằng những yếu tố phi ngôn ngữ như nét mặt cử chỉ, động tác…
Để dạy tốt Tập làm văn nói theo nghi thức ở lớp 2 , người GV cần chú ý cho HS
chuẩn bị tốt nội dung bài nói (dù dài hay ngắn); phải tạo ra được nhu cầu hội thoại cho HS,
ngiã là tạo ra các tình huống giả định trong học tập nhưng vẫn chân thực, không gượng ép,
khô cứng vừa có sức lôi cuốn hấp dẫn, kích thích được nhu cầu nói ở các em; phải tạo được
hoàn cảnh giao tiếp tốt. Hoàn cảnh ở đây được hiểu là điều kiện lớp học trong thời điểm
luện nói. Điều kiện này bao gồm: không khí lơpá học, nét mặt, cử chỉ của GV, hoạt động
nghe của HS, trật tự lơp học và những hoạt động khác có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp
tới việc nói năng của HS.
Để giúp cho HS nói tốt trong những giờ TLV nói theo nghi thức, GV nên lưu ý hướng
dẫn HS:
- Khi nói cần hết sức bình tĩnh, tự tin để có thể đạt hiệu quả giao tiếp tốt.
7
- Trong khi nói cần hết sức theo dõi diễn biến tâm lí, sự hứng thú của người nghe đối với
bài nói của mình để có thể kịp thời điều chỉnh cách nói hoặc một phần nào đó nội dung nói
cho phù hợp vpới nhu cầu, đòi hỏi, hứng thú của người nghe.
- Cần phải tôn trọng hững nghi thức lời nói trong giao tiếp. Vấn đề văn hoá trong lời nói,
trong giao tiếp là điều phải hết sức được tôn trọng trong quá trình hội thoại.
- Ngữ điệu có ảnh hưởng lớn tới chất lượng của bài nói. Tuỳ thuộc vào điều kiện giao tiếp
Văn bản tự sự thường có cốt truyện. Cốt truyện thực ra là diễn biến sự việc.Có
truyện chỉ có một sự việc. Cũng có truyện gồm nhiều sự việc tiếp diễn có quan hệ với
nhau.Trong những sự việc đó, có sự việc mở đầu, các sự việc khai triển, sự việc kết thúc.
8
Văn bản tự sự bao giờ cũng có nhân vật. Nhân vật có thể là người, có thể là vật.
Nhân vật thực hiện các hành động làm nên các sự việc.
Mỗi văn bản tự sự bao giờ cũng nhằm thể hiện một ý nghĩa nào đấy về mặt xã hội.
Như vậy, khi dạy tTLV Kể chuyện theo tranh, ta cần phải cho học sinh nắm được
câu chuyện với các sự việc diễn biến của nó có quan hệ với nhau như thế nào qua các tranh.
Thông qua câu chuyện kể theo tranh mà ta bồi dưỡng cho các em những tình cảm tốt đẹp,
trau dồi hứng thú đọc và kể chuyện, đem lại niềm vui tuổi thơ trong hoạt động học tập.
Quy luật thống nhất giữa học và hành cũng chỉ rõ muốn học một khái niệm, một kĩ
năng thì nhất thiết phải tổ chức một quá trình hành động thích hợp. Việc dạy TLV ở lớp 2
cũng cần phải có một phương pháp hợp lí để học sinh rèn luyện kĩ năng nói và kĩ năng
nghe. Kĩ năng nói với hình thức độc thoại: kể một câu chuyện theo tranh. Kĩ năng nói với
hình thức đối thoại: tập nói đối thoại theo các vai khác nhau, bước đầu biết sử dụng các yếu
tố phụ trợ trong giao tiếp (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ). Kĩ năng nghe: theo dõi được lời thoại
để đáp lời, theo dõi được câu chuyện bạn kể để nêu ý kiến bổ sung, nhận xét.
Quy luật thống nhất giữa dạy và học cho thấy mọi hoạt động của thầy trên lớp nhằm
hướng tới sự phát triển của trò. Cụ thể là thầy thiết kế bài dạy, phần dạy cho học sinh thực
hiện các thao tác đi theo hướng học sinh tự thực hiện các thao tác dưới sự hướng dẫn của
thầy để tự nói theo nghi thức hoặc kể được câu chuyện. Cần phải chia các thao tác từ thấp
đến cao, đơn giản đến phức tạp. Giáo viên đưa ra các câu hỏi và bài tập để học sinh tự xác
định nội dung, chủ động nói, kể. Đồng thời giáo viên cần giúp học sinh tự xác định được
việc sử dụng các yếu tố phụ trợ khi nói, kể chuyện như thế nào.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY TẬP LÀM VĂN THEO NGHI THỨC
1. Chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên
Nội dung chương trình, SGK phân môn TLV có nhiều điểm mới so với SGK Tiếng Việt
CCGD. Trong chương trình, sách giáo khoa lớp 2 mới, phân môn TLV được dạy học trong
31 tiÕt, mỗi tuần một tiết nhằm rèn luyện cho HS các kĩ năng phục vụ học tập và giao tiếp
9 Ôn tập Ôn tập Ôn tập
10 Kể ngắn theo câu hỏi
11 Chia buồn, an ủi
12 Gọi điện thoại
13 Kể ngắn theo câu hỏi
14 Tả ngắn theo tranh và câu hỏi
15 Chia vui Viết tin nhắn Kể tự do (không có câu hỏi
gợi ý)
16 Khen ngợi Lập thời gian biểu Kể tự do (không có câu hỏi
gợi ý)
17 Lập thời gian biểu
18 Ôn tập Ôn tập Ôn tập
Kì II:
Tuần Các nghi thức lời
nói
Các kĩ năng làm
việc
Các tổ chức đoạn, bài
19 Đáp lời chào hỏi,
lời tự giới thiệu
20 Trả lời câu hỏi về một đoạn văn
miêu tả. Tả ngắn theo câu hỏi.
21 Đáp lời cảm ơn Trả lời câu hỏi về một đoạn văn
miêu tả.
22 Đáp lời xin lỗi Sắp xếp câu trong đoạn văn miêu tả
23 Đáp lời khẳng định Chép nội quy
24 Đáp lời phủ
định
Nghe- trả lời câu hỏi
25 Đáp lời đồng ý Tả ngắn theo tranh và câu hỏi
miêu tả (tả cảnh biển, tả ảnh Bác Hồ…). Yêu cầu đối với HS lớp 2 nhu vậy có quá cao
không?
A. Có
B. Không
Câu 4: SGK Tiếng Việt 2 dạy HS lớp 2 giao dich bằng thư từ, điện thoại. Dạy như
thế có sớm không?
A. Có
B. Không
Đo nghiệm trên 15 GV lớp 2, tôi nhận định kết quả:
Câu 1: Đa số GV cho rằng việc dạy nghi thức lời nói ở lớp 2 là cần thiết và rất có ích
cho HS.Các em bước đầu ý thức được cần nói có nghi thức . Điều này sẽ hình thành ở trẻ
em thói quen ngôn ngữ khi nói năng giao tiếp , tạo nên phép lịch sự khi ứng xử giao tiếp.
Đó là hành vi ngôn ngữ thể hiện văn hoá ứng xử của con người trong cuộc sống hiện đại.
Nội dung dạy nghi thức lời nói rất tiết thực, cụ thể và vừa sức đối với HS lớp 2. Một số
khác cho rằng trong những nội dung dạy nghi thức lời nói , có các nội dung như: chia buồn,
an ủi, khen ngợi là khó đối với các em; Bài tập miêu tả , giao dịch bằng điện thoại , thư từ
cũng khó khăn đối với lứa tuổi lớp 2.
11
Câu 2: Các câu trả lời nhận xét về phía GV:
- 70% GV dạy bình thường như hướng dẫn yêu cầu.
- 30% GV cho rằng cách dạy hiện nay có một số chỗ chưa thoả đáng.Họ thiếu hụt cả
tri thøc và phương pháp dạy TLV nơi theo nghi thức, chưa chọn được một cách dạy TLV
đáp ứng việc rèn hai kĩ năng nghe - nói , viết cùng một lúc trong gìê dạy.
Giáo viên nhận xét về phía học sinh:
- 40% GV cho rằng nhìn chung học sinh tiếp thu được kiến thức.
- 60% GV cho rằng chưa huy động hết khả năng làm việc của HS trong giờ TLV.
Một số em còn rụt rè, KHÔNG MẠNH DẠN khi nói năng, ngôn ngữ diễn đạt còn khó
khăn, lúng túng.
Giáo viên nhận xét về tài liệu và các lí do khác: Một số bàicó nội dung nêu ra yêu
B. Không,
12
C. Đôi khi.
Câu 6. Em có muốn được hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể khi chào hỏi, tự giới thiệu hoặc khi kể
chuyện : hướng dẫn về nội dung, về ngữ điệu, về cách thể hiện điệu bộ,… không?
A. Có
B. Không
Sau khi nghiên cứu kết quả điều tra khoả sát về phía HS khi học Kể chuyện, chúng
tôi nhận thấy:
Học sinh tiểu học nói chung, HS lớp 2 nói riêng rất thích được hướng dẫn cụ thể về
nói theo nghi thức . Với những nội dung đưa vào dạy học như như hiện nay, các em v«
cùng thích thú, các em có điều kiện được nói và nghe nhiều hơn. Nói cách khác, HS muốn
được luyện nói, luyện nghe , được sử dụng điệu bộ nhiều hơn.
Tuy vậy, ở một số em còn rụt rè, e ngại. GV cần tạo điều kiện để các em đó được thể
hiện trong giờ học, mạnh dạn nói trước tập thể lớp. Một số bài có yêu cầu cao khiến các
em khó có thể thực hiÖn theo. Các em mong muốn có được sự hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ, chi
tiết hơn khi nói theo nghi thức, khi kể chuyện theo tranh để có thể nói, kể hấp dẫn hơn .
* Đánh giá thực trạng dạy và học phân môn TLV ở lớp 2:
- Đánh giá thực trạng dạy của giáo viên
Thầy giáo có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học. Thầy giáo là người tổ
chức, chỉ đạo quá trình dạy học. Trong quá trình dạy học nếu thầy giáo nắm vững các tri
thức khoa học và các phương pháp tổ chức tốt thì kết quả dạy học sẽ cao. Qua khảo sát
chúng tôi thÊy giáo viên lớp 2 đã nhận thực được tầm quan trọng của việc dạy học TLV và
dành thời gian thích đáng cho việc này nhưng năng lực tổ chức và hướng dẫn của giáo viên
còn hạn chế. Trong giờ học đa số GV chưa chú ý hình thành cho HS thói quen nhập vai khi
đóng vai trong những tình huống giao tiếp. Hầu hết GV mới chỉ dừng lại ở việc giảng giải
mà chưa thật sự là mẫu chuẩn cho HS học tập, cả về mấu lới nói lẫn mẫu điệu bộ. Vì vậy
giờ học trở nên đơn điệu, học sinh không rèn được nhiều về kĩ năng.
Nhìn chung GV còn ít suy nghĩ đầu tư cho giờ dạy, ỷ lại vào tài liệu dạy học là
- Lời cảm ơn, xin lỗi là phép nói lịch sự cần thiết khi giao tiếp.
- Nội dung của hai bức tranh giáo khoa.
- Biết cách thể hiện tình cảm bằng các yếu tố phi ngôn ngữ thích hợp khi nói lời cảm
ơn, xin lỗi, khi kể chuyện theo nội dung tranh giáo khoa.
2. Kĩ năng: HS được hình thành và rèn luyện các kĩ năng:
- Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi phù hợp với tình huống giao tiếp.
- Biết nói 3, 4 câu về nội dung mỗi bức tranh, trong đó có lời cảm ơn, xin lỗi thích
hợp; viết được những điều vừa nói thành đoạn văn.
- Biết phối hợp yếu tố phụ trợ với ngữ điệu khi nói lời cảm ơn, xin lỗi một cách phù
hợp.
- Có kĩ năng nghe bạn nói, nhận xét câu trả lời của bạn.
3. Thái độ: HS khi học có thái độ:
- Học tập cách nói lời cảm ơn , xin lỗi để vận dụng vào cuộc sống.
- Có tinh thần hợp tác, hăng hái xây dựng bài.
II. Đồ dùng dạy học
Tranh minh hoạ SGK.
III. Các hoạt động dạy học chủ yếu
Bước 1. Ổn định tổ chức
Bước 2. Kiểm tra bài cũ
- Gọi 2 HS lên bảng thực hiện các yêu cầu sau:
+ HS 1 kể lại câu chuyện Gọi bạn theo tranh minh hoạ
+ HS 2 đọc danh sách tổ mình đã lập trong tiết TLV trước.
- Nhận xét cho điểm từng HS.
Bước 2. Bài mới
Tổ chức các hoạt động dạy – học:
Hoạt động 1. Khởi động
15
Nội dung hoạt động Hoạt động dạy của GV Hoạt động học của HS
Tập làm văn
Cảm ơn, xin lỗi
-H: Em sẽ nói thế nào?(Mỗi
em nghĩ một câu mà mình sẽ
nói rồi lần lượt nói câu đó lên)
-H: Khi nói, em dùng ngữ điệu
lời nói thế nào?điệu bộ thế nào?
- GV cho HS nói và thể hiện
ngữ điệu, điệu bộ.
- GV cho HS tự nhận xét, sau
đó xác nhận lại kiến thức, kĩ
năng cho các em (lưu ý nói
Cảm ơn, không phải Cảm ơn).
*GV cho HS tiến hành tương tự
với các tình huống còn lại của
- HS:Đọc bài tập.
-TL: Em dùng từ cảm ơn.
- TL: Bạn của em.
-TL: (Cảm ơn bạn!Cảmơn
bạn nhé!Mình cảm
ơn nhiều!Cảm ơn bạn,
không có bạn thì mình ướt
hết rồi,…)
-TL: Chân thành, thân
mật giọng hơi cao ở cuối
câu; mắt nhìn thẳng
hướng vào bạn,đầu gật
nhẹ nhàng một cái.
TL:
-Cô giáo cho em mượn
16
2.2.Bài tập 2:Nói lời
quan trọng của các vai .
- Xác định giọng (ngữ điệu)
của mỗi vai khi nói.
- Ở vai thứ nhất, khi nói nét
mặt nên như thế nào khi
quyển sách: Em cảm ơn cô ạ!
Em xin cảm ơn cô!
- Em bé nhặt hộ em chiếc
bút: Cảm ơn em nhiều!
Anh (chị) cảm ơn em !
Em ngoan quá, chị cảm
ơn em!
-HS lắng nghe
-HS đọc bài tập 2.
-HS suy nghĩ cá nhân.
-HS làm việc theo nhóm.
17
2.3. Bài tập 3:Tập
nói theo nội
dung tranh, trong
đó có từ Cảm ơn
hoặc Xin lỗi.
nói? Phối hợp các cử chỉ như
thế nào?
- Ở vai thứ hai nét mặt nên
như thế nào khi nói? Phối
hợp các cử chỉ như thế nào?
- Ở vai nói lời dẫn nét mặt
nên như thế nào khi nói?Phối hợp
các cử chỉ như thế nào?
* HS đọc bài tập.
* HS quan sát và trả lời.
-TL:Vẽ một bạn nhỏ
đang được nhận quà
của mẹ(cô, bác…)
- TL:Bạn phải cảm ơn
mẹ(cô, bác…)
- TL: Mẹ (cô, bác…)
* HS nói theo nhóm nhỏ,
nói rì rầm.
* HS thi nói, các em còn
lại lắng nghe và nhận xét.
- TL:Có ạ.
- HS làm việc cá nhân.
18
- Tranh 1: mẹ tặng
cho con con gấu
bông. Con rất thích
và
nói lời cảm ơn mẹ.
Tranh 2:Con sơ ý
làm vỡ lọ hoa,
mẹ nhắc nhở. Con
khoanh
tay xin lỗi mẹ.
(cho các em chuẩn bị)
( GV viết nội dung tóm tắt
của tranh I lên bảng)
* GV hướng dẫn cho HS nói
theo nhóm, nói trước lớp dựa
món quà của mẹ và nói:
“Ôi! Chú gấu bông đẹp
quá! Con cảm ơn mẹ ạ!”.
- HS 4: Mẹ:- Nhân dịp con
lên lớp 2, mẹ tặng cho
cho con gái mẹ chú gấu này.
Con:-Con cảm ơn mẹ ạ.
Chú gấu bông này đẹp quá
mẹ ạ!)
*Tranh II:
(- HS1: Quang sơ ý đánh vỡ lọ
hoa của mẹ, Quang đến
trước mẹ khoanh tay xin
lỗi và nói:
Con xin lỗi mẹ ạ!
- HS2: An nghich ngợm,
hiếu động, chẳng may
sơ ý làm
vỡ lọ hoa. Mẹ nhắc nhở.
An đến trược mặt
me, cậu khoanh tay và
nói: Con xin lỗi mẹ ạ! Lần
sau con không nghịch thế
19
nữa ạ!)
- HS3:An nghich ngợm,
hiếu động, chẳng may sơ
ý làm vỡ lọ hoa. Mẹ
nhắc nhở. An đến trước
mặt mẹ, cậu khoanh tay và
những bài tập. Song ở những môn học mà nội dung của chúng nhằm vào việc hình thành
các kĩ năng thì phần lí thuyết không phải lúc nào cũng được dạy trước phần vận dụng. Điều
này biểu hiện rõ ở môn Tiếng Việt trong nhà trường tiểu học. HS có thể vận dụng các thao
tác của kĩ năng trước, luyện tập các thao tác cho thành thạo, chuẩn xác mới học cơ sở của
các thao tác đó. Cách dạy này diễn ra theo con đường từ thực hành luyện tập để rút ra tri
thức có tính lí luận.Và như vậy bài tập không chỉ củng cố tri thức mà còn dùng để thực hiện
hình thành lí thuyết. Dạy Tập làm văn nói theo nghi thức nhằm rèn luyện cho HS kÜ năng
nghe, kĩ năng nói. Bài tập ở đây dùng với mục đích giúp cho HS thành thục các kĩ năng của
nghe, nói.
Do yêu cầu về tri thức tiếng Việt và ngôn ngữ học ở bậc tiểu học còn đơn giản, phần
lớn chưa yêu cầu HS nắm được bản chất, hệ thống tri thức về Tiếng Việt và ngôn ngữ. Hầu
như những kiến thức này được các em nhận biết dần qua thực hành kÜ năng lời nói. Vì vậy
nhiệm vụ của bài tập là rèn luyện thành thạo các kĩ năng lời nói là quan trọng hơn. Ở giờ
Tập làm văn nói theo nghi thức chủ yếu là giúp HS luyện tập thành thạo các kĩ năng nghe –
nói nên nó có tính chất hành động.
Tôi soạn giáo án theo những ý tưởng của mình, mong muốn giờ Tập làm văn nói
theo nghi thức sẽ có hiệu quả hơn. Chính vì vậy , tôi có đưa ra một tổ hợp các câu hỏi
hướng dẫn HS khi luyện nói theo nghi thức.
Bài dạy thực nghiệm là Cảm ơn, Xin lỗi. Ở tuần 1 và 2 , HS đã học cách chào hỏi và
tự giới thiệu. Đến tuần 4 này các em học cách nói lời cảm ơn và xin lỗi.
Cảm ơn và xin lỗi là những tình huống giao tiếp thường gặp trong cuộc sống. Một
người nào đó (có thể là người thân trong gia đình, là thầy cô, bạn bè, hàng xóm, hoặcngười
mới gặp) giúp ta một điều gì đó (có thể là lời khuyên, một việc làm, tặng một vât,…) ta đêu
phải cảm ơn. Ta phải xin lối khi lỡ để xảy ra một điều gì đó gây hậu quả không hay cho
ngươiì khác: làm hỏng vật, nói lời không hay, làm đau người khác,…
Lời cảm ơn hay xin lỗi phải chân thành, lễ phép, lịch sự với ngữ điệu thích hợp.
Lời cảm ơn, xin lỗi với mỗi đối tượng khác nhau: người vai trên, người vai dưới,
người ngang vai, ta cần có cử chỉ, điệu bộ phối hợp với lời lẽ sao cho phù hợp . Từng cử
chỉ, nét mặt, giọng nói…đều góp phần thể hiện thái độ , bộc lộ nội dung lời cảm ơn hoặc
xin lỗi.
phép.
- Xác định cách nói bao gồm câu diễn đạt thế nào, ngữ điệu thể hiện thế nào.
- Xác định các yếu tố phi ngôn ngữ để hỗ trợ khi nói.
* Nhóm câu hỏi xác định lời chào hỏi khi nói
Đây là câu hỏi cần thiết giúp cho HS ý thức được khi nói năng trước tập thể, cần phải
choà hỏi, tự giới thiệu để tạo mói quan hệ thân thiện, hiểu biết lẫn nhau khi giao tiếp trực
tiếp mặt đối mặt. Nhóm câu hỏi này gồm
- Câu hỏi xác định có cần chào hỏi , tự giới thiệu không.
- Câu hỏi định hướng chào hỏi , tự giới thiệu như thế nào.
* Nhóm câu hỏi và bài tập đóng vai
Nhóm bài tập này nhằm giúp cho các em xác định vai trong bài nói và chuẩn bị tâm
thế nhập vai để nói cho sinh động.
Nhóm bài tập này gồm những câu hỏi sau:
- Bức tranh (hoặc tình huống ) này có mấy người? Để đóng vai nói theo nội dung
bức tranh (hoặc tình huống) này thì cần có mấy bạn?
- Xác định những câu nói quan trọng của các vai .
- Xác định giọng (ngữ điệu) của mỗi vai khi nói.
* Nhóm bài tập sử dụng yếu tố phụ trợ
Nhóm bài tập này nhằm giúp cho các em xác định việc sử dụng những yếu tố phụ trợ trong
quá trình nói. Nói trước đối tượng giao tiếp là hình thức giao tiếp trực tiếp nên các yếu tố
hỗ trợ ngôn ngữ như nét mÆt, ánh mắt, cử chỉ của người nói là những yếu tố rất quan trọng
làm nên sự sinh động hấp dẫn. Hiện nay GV viên chưa có kĩ năng về dùng các yếu tố phụ
trợ nên khả năng hướng dẫn cho HS còn yếu. Hầu như chỉ nhắc nhở vài câu chung chung.
22
Nhóm bài tập này gồm những câu hỏi sau:
- Ở vai thứ nhất, khi nói nét mặt nên như thế nào khi nói? Phối hợp các cử chỉ như thế nào?
- Ở vai thứ hai nét mặt nên như thế nào khi nói? Phối hợp các cử chỉ như thế nào?
- Ở vai nói lời dẫn nét mặt nên như thế nào khi nói? Phối hợp các cử chỉ như thế nào?
Như vậy, giờ học thực sự sinh động bởi GV trên cơ sở bài tập SGK đã soạn một hệ
thống câu hỏi hướng dẫn HS thực hiện bài tập . Sự hướng dẫn này có cơ sở khoa học, đảm
Câu 2:B.
Câu 3:B.
Câu 4: A.
Câu 5: Các em có thể viết:
23
Huệ cùng các bạn vào vườn hoa (tranh 1). Huệ rất thích những bông hồng (tranh 2).
Huệ định hái một bông. Tuấn vội ngăn lại (tranh 3). Tuấn nói với Huệ: “ Hoa của công
viên, bạn đừng hái!” (tranh 4).
Trên cơ sở đầu vào của học sinh, tôi tiến hành dạy học thực nghiệm theo ý tưởng mà
mình đề xuất để nghiên cứu xem xét kết quả của những đề xuất trong dạy học TLV nói
theo nghi thức ở lớp 2.
III. TỔ CHỨC DẠY HỌC THỰC NGHIỆM
1. Mục đích của dạy học thực nghiệm
Áp dụng nội dung của những đề xuất về dạy TLV nói theo nghi thức ở lớp 2 để
nghiên cứu hiệu quả của những đề xuất đó. Đặc biệt chú trọng xem xét, phân tích tính hiệu
quả của tổ hợp câu hỏi và bài tập đóng vai cũng như tổ chức cho HS hoạt động để HS thực
hiện các thao tác xác định lời thoại quan trọng của nhân vật, xác định giọng điệu, cử chỉ
khinói, xác định nghi thức lời nói khi nói trước đông người, từ đó rèn kĩ năng nghe, nói.
Đối chiếu kêt quả của HS lớp dạy học thực nghiệm với kết quả của lớp đối chứng ,
phân tích những điểm tương đồng và khác biệt của những kết quả trên để đánh giá được
khả năng, mức độ áp dụng những đề xuất vào thực tiễn dạy học TLV nói theo nghi thức ở
lớp 2 hiện nay.
2. Địa bàn thực nghiệm
Tôi chọn hai lớp dạy đối chứng và thực nghiệm ở vùng giáo dục bình thường ngang
chuẩn. Đó là:
- Xã Văn Phú, Thường Tín, Hµ Néi.
3. Đối tượng thực nghiệm
- Học sinh lớp 2A1 – 2A2, trường Tiểu học…, Thường Tín.
4. Nội dung dạy học thực nghiệm bài
- Bài : Cảm ơn , xin lỗi
B. Xin lỗi cụ!
C. Xin lỗi cụ nhé!
D. Cháu vô ý quá, cháu xin lỗi cụ ạ!
Câu 5. Nói theo nội dung tranh 1, em chọn cách nói nào sau đây:
A. Người mẹ tặng cho con gái một con gấu bông. Người con giơ hai tay nhận gấu
bông và nói: “Con cảm ơn mẹ ạ!”.
B. Nhân ngày sinh nhật của Thu, mẹ tặng Thu một con gấu bông màu nâu rất
đẹp.Thu lễ phép đưa hai tay ra nhận món quà của mẹ và nói: “Ôi! Chú gấu bông
đẹp quá! Con cảm ơn mẹ ạ!”.
C. Mẹ Nga mua cho Nga một chú gấu bông xinh xắn.Nga thích lắm,em đưa tay ra
nhận món quà và nói:cảm ơn mẹ !
D. Cuối năm lớp 1, Trâm được xếp loại HS giỏi, mẹ tặng Trâm một con gấu bông rất
đẹp. Trâm nhận quà của mẹ và nói:Con cảm ơn mẹ nhiều ạ.Con rất thích chú gấu
đẹp này!
Câu 6. Nói theo nội dung tranh 2, em chọn cách nói nào sau đây:
A. Cậu bé làm vỡ lọ hoa trên bàn . Cậu đến đứng trước mẹ để xin lỗi: “Con xin lỗi
mẹ ạ”.
B. Quang sơ ý đánh vỡ lọ hoa của mẹ, Quang đến trước mẹ khoanh tay xin lỗi và
nói: xin lỗi mẹ ạ!
25