PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂN PHÚ
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN QUỐC TOẢN
Mã số: ................................
(Do HĐKH Phòng GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY - HỌC
MỘT SỐ MÔN HỌC Ở LỚP 4
Người thực hiện: Trần Thị Thúy Vân
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: ………………….
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: .......................................................
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2011-2012
3
ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY - HỌC
MỘT SỐ MÔN HỌC Ở LỚP 4
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cách học truyền thống đã khiến tư duy của nhiều em học sinh đi vào lối
mòn, không kích thích được sự phát triển của trí não, điều đó làm cho một số
em học sinh tuy rất chăm học nhưng sự tiếp thu vẫn rất ít vì không biết xâu
chuỗi kiến thức với nhau, không biết vận dụng những kiến thức đã học trước đó
vào phần sau. Học sinh chỉ biết ghi mà không biết cách lưu thông tin sao cho
khoa học, tự chủ, độc lập nhất. Học sinh còn yếu về kỹ năng và tư duy khoa
học, đặc biệt ghi nhớ chưa được sâu sắc mà sa vào lối học vẹt, thuộc lòng máy
móc, dẫn đến chán nản, áp lực, …
Kinh nghiệm dạy lớp 4 nhiều năm cho thấy: Khi học bài mới còn nhiều
học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là lĩnh hội kiến thức một
cách máy móc mà chưa được rèn luyện kỹ năng tư duy. Học sinh chỉ học bài
nào biết bài đấy, cô lập nội dung của các môn, phân môn mà chưa có sự liên hệ
kiến thức với nhau vì vậy mà chưa phát triển được tư duy logic và tư duy hệ
thống. Sau khi học bài mới các em còn chưa có thói quen học bài cũ, hoặc có
học nhưng chưa hiệu quả, học trước quên sau, học vẹt. Nhiều khi kiểm tra bài
cũ các em đọc làu làu, quên một chữ là nghĩ không ra hoặc cần giáo viên, bạn
bè nhắc cho chữ đầu…khi viết thì các em cũng viết rất kém, nhiều khi viết thiếu
từ cũng không hiểu. Điều này chứng tỏ các em chưa hiểu bài sâu. Ngoài ra, việc
chuẩn bị bài mới cũng là khâu quan trọng để học sinh tiếp thu kiến thức mới tốt
hơn nhưng các em vẫn chưa có ý thức chuẩn bị.
Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan song phải kể đến nguyên
nhân chính là do phương thức học tập của HS chưa tích cực và phương pháp
giảng dạy của GV chưa thực sự thu hút được sự hứng thú học tập nhằm phát huy
năng lực học tập của HS.
Cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới
hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có
thể “thể hiện” nó dưới dạng SĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập SĐTD
phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.
SĐTD: Công cụ ghi chú tối ưu tận dụng được những từ khóa cũng như
những nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng. Với cách ghi chú như thế, cả não trái
lẫn não phải, hay phần lớn công suất của não bộ sẽ được huy động triệt để nhằm
mang lại hiệu quả tối ưu nhất.
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ
lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ
của mình. Vì vậy trong dạy học: Việc sử dụng sơ đồ tư duy huy động tối đa
tiềm năng của bộ não, giúp học sinh học tập tích cực, hỗ trợ hiệu quả các
phương pháp dạy học. Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học, giáo viên giúp học
sinh có thói quen tự tay ghi chép hay tổng kết một vấn đề, một chủ đề đã đọc đã học, theo cách hiểu của học sinh. Mỗi bài học, kiến thức trọng tâm được hệ
thống dưới dạng sơ đồ tư duy trên một trang giấy, giúp học sinh dễ ôn tập, dễ
xem lại kiến thức khi cần. Học sinh thường xuyên tự lập sơ đồ tư duy sẽ phát
triển khả năng thẩm mỹ do việc thiết kế nó phải bố cục màu sắc, các đường nét,
các nhánh sao cho đẹp, sắp xếp các ý tưởng khoa học, súc tích… Và đó chính là
để các học sinh của chúng ta “Học cách học”. Các em được học để tích lũy kiến
thức, nhưng đã bao giờ các em học cách để lĩnh hội những kiến thức đó một
cách hiệu quả chưa?
Ở lớp 4, môn Tiếng Việt đã bắt đầu hình thành khái niệm ngữ pháp, cung
cấp và rèn luyện quy tắc ngữ pháp, làm văn…, phân môn Lịch sử - Địa lí ngoài
việc hình thành cho học sinh một số kĩ năng cơ bản còn bắt đầu cung cấp một
số kiến thức như nhân vật, sự kiện lịch sử, mối quan hệ giữa các nhân vật, sự
kiện lịch sử trong quá khứ và hiện tại; sự vật hiện tượng, mối quan hệ địa lí
giữa các vùng miền, giữa thiên nhiên và con người… Lượng kiến thức ấy
không phải là ít và dễ dàng tiếp nhận. Hơn nữa học sinh tiểu học còn thích được
vẽ, thích tưởng tượng, thích vừa học vừa chơi. Chính vì vậy ứng dụng sơ đồ tư
duy vào dạy – học cho học sinh lớp 4 góp phần giúp học sinh biết cách tiếp
nhận thông tin, ghi chú, ôn luyện hiệu quả vẫn không cảm thấy quá tải, vẫn
làm nổi bật.
2. Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm.
3. Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc (chứ không nằm ngang) để
nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
* Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ:
1. Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.
2. Bất cứ lúc nào có thể, bạn hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để
tiết kiệm không gian vẽ và thời gian. Mọi người ai cũng có cách viết tắt
riêng cho những từ thông dụng. Bạn hãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều
cách viết tắt cho riêng bạn. Đây là một số cách viết tắt tôi thường xuyên
sử dụng.
Hình vẽ
Không có: X có
Suy ra: =>
6
Tăng lên / Giảm xuống, phát triển/ sa sút: ↑/↓
Lớn hơn / nhỏ hơn: > /
học sinh có thể phát huy được hết khả năng ngôn ngữ của mình, tìm ý sâu sắc
hơn, phong phú hơn và không bị bỏ sót các ý hay.
Từ SĐTD này, mỗi lần quan sát một đối tượng gì học sinh chỉ việc thay tên
chủ đề và lập sơ đồ tìm ý rất nhanh (xem phụ lục 2).
7
Ví dụ 2: Phân môn lịch sử: Nước Đại Việt thời Trần (gồm 3 bài)
Bài 1: Nhà Trần thành lập
Tôi cho học sinh xác định chủ đề là Nhà Trần. Học sinh tự vẽ chủ đề vào
trang giấy (tôi lưu ý học sinh nên vẽ vào một vở dành riêng để còn tiếp tục vẽ
các bài liên quan tiếp theo vào sơ đồ này)
Gợi ý: Chủ đề có thể là tên một chương, một bài học, một triều đại, một
gia đoạn lịch sử... có thể dựa vào đó để xác định tên chủ đề.
Cho học sinh nêu câu hỏi trong sách giáo khoa: Nhà Trần ra đời trong hoàn
cảnh nào? Sau đó vẽ thêm tiêu đề: Hoàn cảnh ra đời.
Ở tiêu đề này tôi gợi ý học sinh bằng câu hỏi: Cuối thế kỉ XII nước ta gặp
phải khó khăn gì? ( tình hình trong nước, ngoài nước)
Học sinh đọc sách giáo khoa trả lời trả lời bằng cách vẽ tiếp các nhánh:
Tôi hướng dẫn học sinh vẽ nhánh con thứ nhất, xác định từ khóa nhà Lý
Gợi ý tiếp:
- Biểu hiện của sự suy yếu là gì?
- Học sinh tiếp tục vẽ các nhánh cháu vào nhánh con này: (mẹo nhỏ là
cho học sinh đánh số vào các ý cháu để dễ dàng xác định được có mấy ý cần
nhớ)
1. Chính quyền không chăm lo đến đời sống của nhân dân
2. Nội bộ triều đình mâu thuẫn
3. Nhân dân cơ cực nổi dậy đấu tranh
Tiếp theo học sinh sẽ vẽ nhánh con thứ 2: giặc phương Bắc
Học sinh tiếp tục vẽ các nhánh cháu vào nhánh con này dựa vào câu hỏi:
bị bài trước. Nếu trước đây chúng ta chỉ yêu cầu học sinh về xem trước bài thì
chúng ta cũng khó có thể đánh giá được các em có xem hay không. Việc giao việc
vẽ SĐTD cụ thể cho mỗi bài học, chúng ta có thể dễ dàng kiểm soát được việc
chuẩn bị của các em qua sản phẩm cụ thể đó chính là bản vẽ của các em. Giáo viên
gợi ý học sinh đọc tài liệu sau đó tự đọc lướt xác định ý chính, tự đặt câu hỏi và
phát triển các ý chính như khi vẽ SĐTD ở trên lớp. Ban đầu tôi giao việc theo
nhóm các học sinh ở gần nhà, sau đó giao việc cá nhân cho học sinh. Đến giờ lên
lớp, giáo viên thể hiện nội dung bài học bằng SĐTD trên bảng, ở dưới HS đối
chiếu với sơ đồ của mình, thấy thiếu thông tin nào thì bổ sung vào. Ngược lại, các
em cũng có thể cung cấp cho giáo viên cũng như các bạn khác những thông tin,
cách liên tưởng mới lạ.
Ví dụ: Bài đồng bằng Nam Bộ
Tôi có thể hướng dẫn học sinh tự vẽ những ý chính mà các em nắm bắt sau
khi đọc sách.
Chẳng hạn nội dung chính của bài:
Đồng bằng Nam Bộ nằm ở phía nam của nước ta. Đây là đồng bằng lớn
nhất cả nước do phù sa của hệ thông sông Mê Công và sông Đồng Nai bồi đắp
nên. Đồng bằng có mạng lưới sông ngòi và kênh rạch chằng chịt. Ngoài đất phù
sa màu mỡ ở đây còn có đất phèn, đất mặn cần được cải tạo.
Học sinh vẽ lại dưới theo nhóm chẳng hạn:
Vẽ đối tượng chính là gì? (đồng bằng Nam Bộ) có thể bổ sung thêm số I để
biểu thị đây là đồng bằng lớn nhất cả nước. Nhánh con là gì? Có mấy nhánh
con?( 2 nhánh: Nhánh 1: do sông Mê Công và sông Đồng Nai bồi đắp nên. Học
sinh có thể vẽ con nai và con công cho dễ nhớ.
Nhánh 2: phần Đông Nam Bộ. Học sinh có thể vẽ mặt trời biểu thị cho
hướng Đông, vẽ một người có đầu là ông mặt trời, đang đi bộ, tay cầm bình dầu
và cái loa ( hồ Dầu Tiếng) và một hồ nữa là hồ Trị An, có thể vẽ gói thuốc trị an
hoặc người con gái mặc áo có chữ an v.v…
từng nhánh sơ đồ.
Đối chiếu bài làm với bản chính.
Có thể trong lần đầu sẽ thiếu sót một vài từ khóa, một vài nhánh, hãy nhìn kỹ
những từ khóa đó để chắc chắn sẽ không quên trong lần ôn tiếp theo.
* Mẹo học và ôn bài kết hợp với SĐTD
Chúng ta khó mà nhớ nổi những gì chúng ta học là vì cách ghi chú truyền
thống rất nhạt nhẽo, đơn điệu. Chúng ta sẽ tăng cường được sức mạnh của trí nhớ
bằng cách tạo ra những ghi chú làm nổi bật thông tin. Chúng ta cũng có khuynh
hướng ghi nhớ những sự việc buồn cười, khác thường, chúng ta thường hay nhớ
được những sự việc mà chúng ta tưởng tượng ra. Đặc biệt khi chúng ra dùng nhiều
giác quan để tưởng tượng. Nói cách khác thay vì chỉ tưởng tượng đơn giản hình
dáng một trái chuối thì hãy tưởng tượng thêm về vị ngọt, mùi hương,…của trái
chuối.
10
Đối với các môn học cần học thuộc kiến thức thì có thể áp dụng một bí quyết
học bài nhanh, nhớ lâu khi vẽ SĐTD là vẽ và xâu chuỗi lại thành một câu chuyện
hài, dí dỏm.
Ví dụ : Tiết luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ chủ đề Sức khỏe.
Để nhớ được các từ ngữ nói lên một cơ thể khỏe mạnh: sau khi tìm được các
từ sau: vạm vỡ, lực lưỡng, cân đối, rắn chắc, rắn rỏi, chắc nịch, cường tráng, dẻo
dai, nhanh nhẹn…tôi giúp học sinh vẽ rồi xâu chuỗi thành câu chuyện vui sau:
Chuẩn bị cho kì thi sức khỏe, anh Vạm hay làm vỡ đồ nên gọi là (vạm vỡ) và anh
Lực nhà bác Lưỡng (lực lưỡng) rủ nhau đi cân (cân đối). Hai anh gặp hai con rắn là
rắn rỏi và rắn chắc, liền rút dây nịt (chắc nịch) ra quất con rắn, ai dè rút dây ra nên
quần tụt, khó đánh rắn, hai anh phải nhờ đến anh Cường làm bánh tráng (cường
tráng), bánh của anh nổi tiếng là dẻo dai. Ba anh đã hợp sức lại và chiến thắng hai
con rắn một cách nhanh nhẹn.
- Đề xuất: Đối với cấp lãnh đạo: Cùng giáo viên nghiên cứu, hỗ trợ, hướng
dẫn các phương pháp nghiên cứu để nâng cao số lượng và chất lượng của các
nghiên cứu khoa học. Đối với giáo viên: Không ngừng học tập nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ. Biết tích lũy, học hỏi những kinh nghiệm quý báu từ đồng
nghiệp và biết vận dụng những kinh nghiệm ấy sao cho phù hợp khi dạy HS lớp
mình. Luôn tích cực đầu tư nghiên cứu tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng
dạy – học.
- Bằng những kinh nghiệm tôi đã rút ra sau nhiều năm giảng dạy ở trường,
qua những bài học thu được từ các đồng nghiệp, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của
Ban Giám Hiệu nhà trường, của tổ chuyên môn, tôi đã hoàn thành sáng kiến kinh
nghiệm “ Ứng dụng sơ đồ tư duy vào trong dạy - học một số môn học cho học
sinh lớp 4”. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các đồng nghiệp để vốn kinh
nghiệm giảng dạy của tôi được phong phú hơn.
- Tôi tin tưởng các học sinh biết sử dụng SĐTD để hệ thống kiến thức một
cách đơn giản ở tiểu học tạo nền tảng để học sinh học lên bậc phổ thông. Ngoài ra,
có thể áp dụng dạng SĐTD này vào trong cuộc sống hằng ngày như lập kế hoạch,
thời gian làm việc hay vẽ ra những lựa chọn cho tương lai…
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tôi tài giỏi, bạn cũng thế! – Tác giả Adamkhoo - Dịch giả Trần Đăng Khoa &
Uông Xuân Vy – Nhà xuất bản Phụ Nữ
2. Sách giáo viên và giáo khoa lớp 4 –Nhà xuất bản giáo dục - Bộ GD& ĐT .
3. Mạng Internet về phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy.
Người viết
12
Trần Thị Thúy Vân
PHỤ LỤC
Bảng thiết kế nghiên cứu.
LỚP THỰC NGHIỆM
LỚP ĐỐI CHỨNG
MÔ TẢ DỮ LIỆU
Bài KT trước
TĐ
Bài KT sau
TĐ
Bài KT trước
TĐ
Bài KT sau
TĐ
Mode
Trung vị
Giá trị TB cộng
Độ lệch chuẩn
5
6
6.13
1.31
9
a) Trình bày kết quả.
So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Thực nghiệm
Đối chứng
Điểm TB cộng
7.91
6.44
Độ lệch chuẩn
1.44
1.83
Giá trị p của T-test
0.00073533026419025100
Mức độ ảnh hưởng
0.8024
b) Phân tích dữ liệu: Kết quả kiểm tra sau tác động cho thấy điểm
trung bình của HS lớp 4.1 là 7,91 cao hơn nhiều so với điểm trung bình kiểm
tra trước tác động là 6,13. Điều này chứng tỏ chất lượng học của HS lớp 4.1đã
được nâng lên rõ rệt
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ TRƯỚC VÀ SAU TÁC ĐỘNG.
LỚP THỰC NGHIỆM
STT
HỌ TÊN
Trước TĐ
Sau TĐ
6
1
Nguyễn Hoàng Anh
7
6
2
Hoàng Minh Duy
9
6
3
Vũ Thị Minh Hạnh
8
5
4
Vũ Minh Hiệp
6
6
5
Nguyễn Đức Hiếu
10
5
6
Võ Quốc Huy
6
Nguyễn Thị Nga
8
6
15
Hoàng Thanh Ngân
8
8
16
Trần Đăng Nguyên
9
15
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
Dương Hòang Phi Anh
Trần Thị Kim Chi
Trương Tr Ngọc Thành Công
Phạm Thị Mỹ Dung
Nguyễn Kiều Duyên
Vũ Đình Giang
Nguyễn Thị Bích Hiền
Vũ Minh Hoàng
Lê Thị Thanh Hương
Phạm Thị Thanh Hương
Hà Văn Lợi
Hoàng Đức Nam
Trần Văn Nam
Trần Văn Nhân
Phạm Lê Quỳnh Như
Vũ Thị Quỳnh Như
Bùi Nguyên Cẩm Nhung
10
8
7
7
6
9
9
9
5
LỚP ĐỐI CHỨNG
Trước TĐ
Sau TĐ
6
6
8
8
6
5
9
9
9
9
8
8
5
5
5
3
6
24
25
26
27
28
29
30
31
32
Phạm Văn Sỹ
Trần Mỹ Tâm
Trần Thị Mỹ Tâm
Phạm Duy Thái
Hoàng Cao Thắng
Trần Đức Tín
Vũ Minh Trí
Trịnh Xuân Trường
Phạm Minh Tú
Nguyễn Minh Tuấn
Nguyễn Thùy Vy
8
9
7
6
9
5
6
7
21
PHÒNG GD&ĐT TÂN PHÚ
TRƯỜNG TH TRẦN QUỐC TOẢN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Phú Xuân, ngày 16 tháng 01 năm 2012
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011-2012
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
Ứng dụng sơ đồ tư duy vào trong dạy - học một số
môn học cho học sinh lớp 4
Họ và tên tác giả: Trần Thị Thúy Vân
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường TH Trần Quốc Toản
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: ...............................
- Phương pháp giáo dục
- Lĩnh vực khác: ........................................................
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị
Khá
Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và
dễ đi vào cuộc sống:
Tốt
Khá
Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
trong phạm vi rộng:
Tốt
Khá
Đạt
Phiếu này được đánh dấu X đầy đủ các ô tương ứng, có ký tên xác nhận của người
có thẩm quyền, đóng dấu của đơn vị và đóng kèm vào cuối mỗi bản sáng kiến kinh
nghiệm.
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
22