MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ CHIẾN LƯỢC
CẠNH TRANH ................................................................................................. 1
1.1. KHÁI NIỆM VỀ CẠNH TRANH ............................................................. 1
1.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP ............................................................................................... 2
1.2.1. Các yếu tố góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh .................................... 2
1.2.1.1. Yếu tố về tài sản, tài năng của doanh nghiệp .............................. 2
1.2.1.2. Yếu tố về năng lựcquản lý của doanh nghiệp.............................. 2
1.2.2. Sức cạnh tranh tổng thể ......................................................................... 3
1.2.2.1. Các yếu tố của bản thân doanh nghiệp ........................................ 3
1.2.2.2. Nhu cầu của khách hàng .............................................................. 3
1.2.2.3. Các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ ........................................... 3
1.2.2.4. Chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, cấu trúc và đối thủ
cạnh tranh............................................................................................................. 4
1.3. CÁC CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH ......................................................... 4
1.3.1. Chiến lược nhấn mạnh chi phí ................................................................ 5
1.3.2. Chiến lược khác biệt hóa ........................................................................ 5
1.3.3. Chiến lược trọng tâm hóa ....................................................................... 6
1.3. VAI TRÒ CỦA NGÀNH NHỰA ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
6
Chương 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CỦA DOANH
NGHIỆP NHỰA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH............ 10
2.1. THỊ TRƯỜNG NGÀNH NHỰA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH...... 10
2.1.1. Thực trạng về khả năng cung cấp của các doanh nghiệp ................... 10
2.1.1.1. Nguồn nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp nhựa .................. 10
2.1.1.2 Tình hình cung cấp của các doanh nghiệp.................................. 13
2.1.2. Thực trạng về nhu cầu của thị trường .................................................. 15
2.1.2.1 Thị trường nội địa ....................................................................... 16
1
3.1. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH NHỰA TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ......................................................................... 39
3.1.1. Dự báo về tình hình ngành nhựa trong những năm tới ....................... 39
2
3.1.1.1. Dự báo về phát triển kinh tế Việt Nam trong những năm tới .... 39
3.1.1.2. Dự báo về tình hình ngành nhựa trong nước ............................. 40
3.1.1.3. Dự báo về tình hình ngành nhựa trong nước ............................. 45
3.1.1.4. Dự báo nguồn nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp nhựa ...... 46
3.1.2. Mục tiêu và phương hướng phát triển ngành nhựa Thành phố Hồ Chí
Minh ................................................................................................................... 46
3.1.2.1. Quan điểm phát triển ngành công nghiệp nhựa TP Hồ Chí Minh46
3.1.2.2. Mục tiêu phát triển ngành công nghiệp nhựa Thành phố Hồ Chí
Minh ................................................................................................................... 47
3.2. NHÓM GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỰA TP HỒ CHÍ
MINH NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH ............................ 48
3.2.1. Mở rộng thị trường tiêu thụ .................................................................. 48
3.2.1.1. Đối với thị trường trong nước.................................................... 49
3.2.1.2. Đối với thị trường xuất khẩu...................................................... 50
3.2.2. Cải tiến mẫu mã và nâng cao chất lượng sản phẩm ............................ 50
3.2.3. Đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị sản xuất .................................... 51
3.2.4. Tăng cường đầu tư và vốn kinh doanh ................................................. 53
3.2.5. Một số giải pháp phát triển nguồn nguyên liệu .................................... 56
3.2.6. Phát huy khả năng quản lý và nguồn nhân lực .................................... 58
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM NÂNG
CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỰA VIỆT
NAM ................................................................................................................. 61
3.3.1. Hoàn thiện một số chính sách phát triển kinh tế................................... 61
(1989) sản lượng của ngành cũng chỉ đạt 50 ngàn tấn. Ngành công nghiệp nhựa
thựa sự khởi sắc và có tốc độ tăng trưởng cao trong 10 năm cuối cùng của thế kỷ
XX và những năm đầu thế kỷ XXI. Tốc độ tăng trưởng luôn đạt 25 đến 30%/năm.
Mặt khác, Việt Nam đã gia nhập AFTA, để có thể cạnh tranh nổi với các
nước trong khu vực và thế giới, đòi hỏi ngành nhựa Việt Nam phải có những bước
tiến mới cả về sản phẩm, công nghệ, trình độ cán bộ công nhân viên của ngành, về
giá cả sản phẩm, hình thức tiêu thụ, …
4
Vì lý do trên mà chúng tôi đã chọn đề tài “MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỰA VIỆT
NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Mục đích chính của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng của các doanh
nghiệp nhựa Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp nhựa Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh, làm cơ sở cho các doanh nghiệp và Nhà nuớc định hướng chiến lược phát
triển cho các doanh nghiệp nhựa tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cho cả
ngành nhựa Việt Nam nói chung.
Sự phân bố sản xuất của ngành nhựa tại Việt Nam bao gồm khoảng 75%
tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh do đó đề tài này chỉ xin đề cập đến hoạt
động cạnh tranh của các doanh nghiệp nhựa Việt Nam đóng trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên các kiến thức của các môn học
kinh tế đặc biệt là chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh, dựa trên số liệu thống kê,
báo cáo của Hiệp hội nhựa ở Thành phố Hồ Chí Minh và những dự báo tình hình
xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra
việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế trong điều kiện thị trường tự do và
công bằng.
Nói cách khác, cạnh tranh kinh tế là quá trình đấu tranh giữa các doanh
nghiệp khác nhau trên một thị trường chung nhằm đứng vững được trên thị trường
và tăng lợi nhuận, trên cơ sở đó tạo ra và sử dụng ưu thế về giá trị sử dụng, giá bán
và tổ chức tiêu thụ sản phẩm của họ.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và
mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
trong nước và nước ngoài.
Một doanh nghiệp được xem là có sức cạnh tranh khi nó có thể đưa ra các
sản phẩm thay thế, hoặc các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn cho sản
phẩm cùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc điểm
về chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hay cao hơn. Nhìn chung, khi xét đến tính
cạnh tranh của một doanh nghiệp ta cần phải xem xét đến tiềm năng sản xuất một
hàng hóa hay dịch vụ ở mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà
không có trợ cấp.
Ngày nay nền kinh tế của các nước dù xu hướng phát triển dưới bất kỳ hình
thức nào, đều vận hành theo cơ chế thị trường. Xu hướng tự do hóa thị trường làm
cho giá cả thay đổi cho đến khi thị trường cân bằng, tức là lượng cung bằng lượng
cầu hàng hóa. Do đó các quyết định của mọi tổ chức kinh tế về việc phân phối các
nguồn lực và sản xuất như thế nào đều trên cơ sở giá cả thị trường mà hình thành.
Môi trường kinh tế thế giới ngày nay không có gì là cố định, luôn luôn khó
đoán trước các vấn đề như biến động của thị trường, nhu cầu khách hàng, chu kỳ
vòng đời sản phẩm, tốc độ thay đổi của kỹ thuật, .. thì cạnh tranh càng diễn ra
quyết liệt. Đặt biệt khi hàng rào thương mại giữa các quốc gia được tháo bớt thì
không một thị trường do công ty nào đó chiếm giữ lại thoát khỏi sự cạnh tranh từ
bên ngoài. Ngày nay cạnh tranh là một vấn đề một mất một còn: doanh nghiệp
hoạt động tốt sẽ loại trừ doanh nghiệp hoạt động tồi, và các tiêu chuẩn như giá cả
7
về phương diện quản trị. Yếu tố này thể hiện khả năng quản trị quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp . Những yếu tố thuộc về năng lực quản lý thậm chí còn
khó chuyển đổi, mua bán hơn cả yếu tố tài năng bởi vì chúng được hình thành gắn
liền với phong cách, văn hóa của doanh nghiệp. Do đó, việc bắt chước một hệ
thống mới và thành công của một doanh nghiệp khác sẽ đòi hỏi doanh nghiệp đang
xem xét phải thay đổi cách tiếp cận trong vấn đề kinh doanh và đây là một quá
trình vô cùng khó khăn.
8
Để có thể sử dụng các nguồn lực bên trong nhằm phát huy lợi thế cạnh
tranh của mình, doanh nghiệp không những cần phải cố gắng phát triển hay sở hữu
cho được những năng lực quản lý đặc thù riêng biệt từ đó mới có thể tạo lợi thế
trên cơ sở phí tổn thấp hoặc sự khác biệt về sản phẩm mà còn phải không ngừng
nâng cao năng lực học tập và cải tiến.
1.2.2. Sức cạnh tranh tổng thể
Đối với các doanh nghiệp, việc mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh
cần phải dựa trên những đánh giá chính xác về sức cạnh tranh của mình trước khi
tiến ra thị trường. Thông qua các tiếp cận của mô hình sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp như yêu cầu ở trên. Mô hình sức cạnh tranh tổng thể được Michael
Porter xây dựng dựa trên việc xem xét sức cạnh tranh là tổng hòa của 4 yếu tố sau:
1.2.2.1. Các yếu tố của bản thân doanh nghiệp
Các yếu tố này bao gồm các yếu tố về con người như chất lượng, kỹ năng,
chi phí; yếu tố vật chất; các yếu tố về trình độ như khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm
thị trường, các yếu tố về vốn. Các yếu tố này có thể chia thành hai loại là yếu tố cơ
bản như môi trường tự nhiên, địa lý, lao động không có kỹ năng và các yếu tố
nâng cao như thông tin, lao động có trình độ cao …Trong hai yếu tố trên thì yếu tố
thứ hai có ý nghĩa quyết định tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, chúng
quyết định những lợi thế cạnh tranh ở mức độ cao và những công nghệ có tính độc
doanh nghiệp; yếu tố 2 và 3 là những yếu tố có tính chất tác động và thúc đẩy sự
phát triển của chúng. Ngoài ra, còn có hai yếu tố cần tính đến là những cơ hội như
những phát minh sáng chế, khủng hoảng (ví dụ khủng hoảng dầu mỏ) và vai trò
của Chính phủ. Vai trò của Chính phủ có tác động tương đối lớn tới khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp như chi tiêu của Nhà nước, thái độ của Nhà nước đối với
cạnh tranh, chính sách thuế, chính sách phát triển vùng của Nhà nước, chính sách
về công nghệ, đào tạo, trợ cấp, tình hình bao cấp của Nhà nước.
1.3. CÁC CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH
Theo Giáo Sư Michael Porter của Đại Học Harvard, chiến lược cạnh tranh
là sự kết hợp của các kết quả cuối cùng (mục đích) mà doanh nghiệp đang tìm
kiếm và các chính sách nhờ đó doanh nghiệp cố gắng đạt tới mục tiêu trên. Trong
đó, mối quan hệ giữa mục tiêu và chính sách trong chiến lược cạnh tranh của một
công ty được mô tả như một bánh xe mà trục trung tâm của bánh xe là mục đích
của doanh nghiệp. Xoay quanh trục trung tâm, hướng về mục tiêu của doanh
nghiệp là các chính sách để đạt được mục tiêu, các chính sách này bao gồm các
nội dung như: nghiên cứu và phát triển sản phẩm, sản xuất, phân phối, tiêu thụ,
marketing, tài chính và kiểm soát… Mục tiêu của doanh nghiệp cũng chính là lực
nối kết, gắn bó các chính sách với nhau, không thể tách rời.
Việc hoạch định chiến lược cạnh tranh hữu hiệu phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như: các mục tiêu chiến lược, nguồn lực của công ty, các áp lực cạnh tranh hiện tại
đối với công ty, sản phẩm đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống, vị trí của công ty
đang ở đâu trong vị thế cạnh tranh, đặc điểm chung của nền kinh tế, chính sách
hiện tại và tương lai của Nhà nước đối với nền kinh tế …
10
Cũng theo Giáo Sư Michael Porter có ba cách tiếp cận chiến lược cạnh
tranh chung: chiến lược nhấn mạnh chi phí, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược
trọng tâm hóa.
1.3.1. Chiến lược nhấn mạnh chi phí
nghiệp ngày càng bị công cuộc cạnh tranh tiêu diệt mà thay bằng việc cố gắng tiết
giảm chi phí để hạ giá bán, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
1.3.2. Chiến lược khác biệt hóa
Chiến lược thứ hai là làm khác biệt hóa các sản phẩm và dịch vụ của một
công ty, làm cho các dịch vụ hoặc sản phẩm của công ty mình có những điểm độc
đáo và ưu việt hơn sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Điều này tạo ra lợi thế lớn
cho công ty vì với những ưu điểm khác biệt này sẽ tạo được tính độc quyền cho
sản phẩm trong thị trường cạnh tranh. Các đặc tính sẽ hấp dẫn và thu hút người
tiêu dùng đến với sản phẩm và hơn thế nữa có khi nó còn ghi sâu trong óc người
tiêu dùng rất lâu.
11
Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm dễ dàng đem đến cho công ty tỷ lệ lợi
nhuận cao hơn mức bình quân chung và nó tạo cho công ty vị trí vững chắc hơn
trong cuộc cạnh tranh, sự biến động giá cả nhờ đó được giảm thiểu.
Sự khác biệt hóa sản phẩm làm cho sự đối phó với các áp lực cạnh tranh
cũng dễ dàng hơn nhiều. Nó làm cho khách hàng có điều kiện so sánh để có thể
không gây áp lực đòi giảm giá, nó làm cho sản phẩm thay thế gặp trở ngại lớn hơn
khi đến với người tiêu dùng, nó có lợi nhuận nhiều hơn để dễ dàng đối phó khi gặp
áp lực lên giá từ người cung ứng so với các đối thủ cạnh tranh khác.
Tuy nhiên, khi áp dụng chiến lược cạnh tranh bằng cách khác biệt hóa cần lưu
ý các đặc điểm sau:
-
Ưu tiên và chú trọng công tác nghiên cứu, thiết kế sản phẩm và dịch vụ.
-
-
Một bộ phận hàng hóa chuyên biệt.
-
Một vùng thị trường nhất định nào đó.
Qua chiến lược này công ty có khi đạt được sự khác biệt hóa thông qua việc
đáp ứng tốt hơn nhu cầu của một đối tượng cụ thể và đạt được chi phí hơn khi chỉ
trọng tâm phục vụ cho một nhóm khách hàng nào đó trong một bộ phận nào đó
của thị trường.
1.3. VAI TRÒ CỦA NGÀNH NHỰA ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
Nhờ sự nhận thức đúng đắn vai trò của sản phẩm nhựa đối với việc phát
triển kinh tế, trên cơ sở nắm bắt kịp xu hướng phát triển ngành công nghiệp nhựa
trên thế giới và trước những đòi hỏi của nhiều lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng trong
nước nên trong vòng 15 năm qua ngành nhựa Việt Nam đã phát triển với tốc độ
nhanh đóng góp phần đáng kể cho nền kinh tế và phục vụ đời sống nhân dân nước
ta.
Ngành nhựa ngày càng thể hiện vai trò quan trọng phát triển kinh tế nước ta
trong thời kỳ đổi mới thể hiện ở những mặt như sau:
-
Sản phẩm nhựa ra đời với ưu thế vượt trội đã thay thế nhiều sản phẩm
truyền thống khác như: bao dệt PP thay thay thế bao đay, ống nước nhựa
thay thế ống kim loại, két nhựa thay thế két gỗ, chai nhựa thay thế chai thủy
tinh, ly chén nhựa thay ly chén sứ và thủy tinh, nệm mút nhựa thay thế nệm
cao su và nệm cỏ.
-
(%)
1975
50.000
-
1980
10.000
- 80
1989
50.000
500
1990
60.000
20
1991
75.000
50
1997
500.000
20
1998
600.000
20
1999
750.000
25
2000
937.000
25
2001
1.050.000
800900
600900
400900
200900
900
2000
Tốc độ tăng
trưởng (%)
2001
2002
2003
2004
2005
Năm
Đồ thị 1: Biễu diễn tốc độ tăng trưởng của ngành nhựa Việt Nam
Đặc điểm của ngành công nghiệp nhựa Việt Nam là phát triển trong bối
cảnh nước ta chưa có công nghiệp hóa dầu, nơi tạo nguồn nguyên liệu vững chắc
cho ngành nhựa. Hiện nay ngành nhựa mới đáp ứng 10% nhu cầu bằng nguồn
nguyên liệu trong nước.
So với nhiều nuớc trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan thì ngành nhựa
nước ta có đặc điểm là sản phẩm nhựa gia dụng chiếm tỷ lệ khá lớn (khoảng trên
40%). Mặc dù trong những năm gần đây sản phẩm nhựa đã được sử dụng trong
Singapore
Nhật Bản
Hàn Quốc
Malaysia
28.3
Thái Lan
20
Việt Nam
Chỉ tiêu tiêu thụ (kg/người)
200
180
160
140
120
100
80
60
40
20
0
nhập khẩu rất phong phú đa dạng từ nhiều nước Châu Âu, Châu Á. Các loại
nguyên liệu nhập khẩu hiện nay trong nhành nhựa bao gồm trên 40 loại nguyên
liệu nhựa trong các nhóm PP, LDPE, LLDPE, HDPE, PS, ABS, PA, PVC, PVA,
PVAc, PET, … được nhập khẩu từ nhiều nước trên thế giới như: Thái Lan,
Singapore, Malaysia, Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật, Arab Saudi, Mỹ, Đức,
Pháp, … Hiện nay, do ngành nhựa Việt Nam đang phát triển nhanh nên số lượng
nguyên liệu nhập khẩu hàng năm rất lớn, từ 1,23 triệu tấn đến 1,65 triệu tấn mỗi
năm, với tổng giá trị lên đến trên 1 tỷ USD vào năm 2004, mức tăng trưởng bình
quân hàng năm đạt 30%. Giá trị nhập khẩu của nguyên liệu nhựa trong những năm
qua như sau:
17
Giá trị nhập khẩu
(triệu USD)
Năm
Tốc độ tăng trưởng
(%)
1993
100
-
1994
482
5
2000
531
10
2001
531
-
2002
614
16
2003
785
28
2004
2001
2003
2005
Năm
Đồ thị 3: Giá trị nhập khẩu nguyên liệu nhựa 1993-2004
Như vậy, nhu cầu về nguyên liệu nhựa ngày một tăng. Tuy nhiên giá cả và
số lượng nhập khẩu không ổn định do sự bất ổn của giá dầu thế giới (hầu hết
nguyên liệu cho ngành nhựa là sản phẩm của ngành công nghiệp hóa dầu). Vì 90%
nguyên liệu cho ngành nhựa Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là do nhập khẩu do
đó ngành công nghiệp gia công chế biến sản phẩm nhựa bị ảnh hưởng rất lớn. Rất
18
nhiều doanh nghiệp nhỏ do khả năng cạnh tranh yếu nên gặp rất nhiều khó khăn
trong sản xuất.
b/ Nguồn nguyên vật liệu trong nước
Nuớc ta có nguồn dầu khí đang được khai thác với sản lượng rất lớn. Do
đó, có thể nói tiềm năng sản xuất các loại nguyên vật liệu cho ngành nhựa là một
cơ hội cần phải được khai thác.
Sản xuất trong nước bắt đầu từ 1989, chỉ sản xuất 3 loại nguyên liệu chính
đó là nhựa PVC, hỗn hợp PVC và chất hóa dẻo DOP. Đến năm 2004, chỉ mới có
một số liên doanh sản xuất tại Việt Nam bằng nguyên liệu chính được nhập khẩu
từ nước ngoài.
-
2003
2004
80
80
80
80
80
Phú Mỹ
-
-
25
100
100
LG Vina
30
10
125
125
150
260
270
Mitsui Vina
Tổng cộng
Bảng 3: Sản lượng nguyên liệu nhựa sản xuất trong nước từ 2000 – 2004
19
20
50
10
Mitsui Vina
80
Tổng sản lượng
(tấn)
Chỉ số chất dẻo/
người (kg)
Tốc độ tăng
trưởng (%)
2000
937.000
11,57
-
2001
1.050.000
13,00
12,4
2002
1.260.000
15,60
18.7
20
18
15.6
Chỉ số chất
dẻo/người
16
14
13
11.57
12
10
2000
1
22001
3 2002
4 2003 5
2004
Năm
Loại
sản
phẩm
Số
lượng
doanh
nghiệp
Trong đó
Vốn đầu tư
nước ngoài
DN Tư nhân
DNNN
Số
DN
%
NLSX
Số
DN
%
5,8
12,000
2. Bao
dệt PP
148
131
71,2
89,000
10
18,4
23,000
7
10,4
13,000
3. Bao
bì rỗng
3
14,4
12,000
2
54,3
31,000
5. Tổng
cộng
442
381
69,6
364,200
35
17,0
89,000
Sự phát triển của ngành nhựa Việt Nam được chia ra hai giai đoạn như sau:
-
Trong giai đoạn từ 1990-2000, ngành nhựa chỉ đáp ứng thị trường trong
nước với tổng sản lượng nhựa cả nước tăng từ 60.000 tấn/năm lên đến
937.000 tấn/năm và doanh thu đạt 10.520,5 tỷ đồng.
-
Trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay, ngành nhựa tiếp tục đáp ứng thị
trường trong nước và thâm nhập, phát triển thị trường xuất khẩu, đến cuối
năm 2004, sản lượng ngành đã đạt 1.600.000 ngàn tấn và doanh thu ngành
đã tăng lên 30.000 tỷ đồng, đạt kim ngạch xuất khẩu toàn ngành trên 245
triệu USD trong đó 75% sản lượng và doanh thu là do các doanh nghiệp
nhựa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đóng góp.
2.1.2.1 Thị trường nội địa
a/ Bao bì nhựa:
Bao bì nhựa phục vụ nhu cầu trong nước là chủ yếu và một phần tham gia
xuất khẩu. Giai đoạn 1990-1995, ngành bao bì nhựa mới bắt đầu hồi sinh nên cung
không đủ đáp ứng cầu. Giai đoạn 1995-2004, các nhà đầu tư đã đầu tư ồ ạt vào
ngành bao bì nhựa làm cho năng lục sản xuất của tất cả các nhà máy bao bì nhựa
hiện nay cung đã vượt cầu trên thị trường nội địa.
b/ Vật liệu xây dựng bằng nhựa:
Nhóm sản phẩm ống và phụ tùng ống có một thị trường tương đối đa dạng,
thị trường xây dựng dân dụng chiếm khoảng 70% sản lượng là đối tượng tiêu thụ
chính hiện nay và trong những năm tới do nhu cầu đô thị hóa và nhu cầu về nhà ở
đang còn liên tục tăng.
Nhóm sản phẩm tấm trần và thanh định hình khung cửa đã chiếm lĩnh hoàn
màng khổ rộng cho nông nghiệp, sản xuất muối ăn, nuôi trồng thủy hải sản chưa
đáp ứng được nhu cầu trong nước phải nhập từ Đài Loan, Trung Quốc, Singapore,
Hàn Quốc, … với thuế suất nhập khẩu 20%.
Đối với sản phẩm giả da thì thị trường tiêu thụ giả da PU là các ngành sản
xuất quần áo, cặp túi, làm mũ giày dép, tấm trải sàn… sản phẩm giả da trong nước
gặp phải cạnh tranh gay gắt của hàng nhập khẩu có nguồn gốc nước ngoài. Hiện
tại các nhà sản xuất chỉ khai thác công suất thiết bị từ 20 – 25% để sản xuất cầm
chừng. Hàng năm vẫn phải nhập khẩu khoảng 2.000 tấn giả da/năm từ Đài Loan,
Hàn Quốc, …
2.1.2.2. Thị trường xuất khẩu
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của ngành nhựa Việt Nam so với các ngành
công nghiệp khác như dầu khí, dệt may, da giày, điện tử tin học trong những năm
qua rất không đáng kể. Tuy 5 năm trở lại đây kim ngạch xuất khẩu của ngành đã
có sự khởi sắc, giá trị xuất khẩu năm 2004 tăng gấp 3 lần so với năm 2001, từ 134
triệu USD năm 2001 lên 245 triệu USD năm 2004. Trong 5 tháng đầu năm 2005
giá trị xuất khẩu các sản phẩm nhựa đã tăng 58,3% đạt 133 triệu USD. Sản phẩm
xuất khẩu chủ yếu là bao bì mềm đơn lớp và đa lớp, bao dệt PP các dụng cụ ăn
uống bằng nhựa, áo mưa, túi xách. Trong 3 năm (2001-2004) mỗi năm Tổng Công
ty Nhựa Việt Nam xuất khẩu khoảng 300 ngàn áo mưa sang Tây Âu.
24
- Về bao bì: Hàng năm giá trị xuất khẩu của bao bì nhựa ước tính khoảng
550 – 600 tỷ đồng/năm. Trong đó, xuất khẩu chủ yếu là bao bì mềm đơn lớp và đa
lớp, bao dệt PP.
- Vật liệu xây dựng bằng nhựa: Thị trường xuất khẩu hiện nay là
Campuchia sản lượng xuất khẩu khá lớn nhưng chủ yếu là theo đường tiểu ngạch.
- Nhựa gia dụng: Giá trị xuất khẩu nhựa gia dụng khoảng 180 triệu USD
năm 2004.