KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG THỰC HIỆN ĐỀ ÁN TÁI CƠ CẤU NGÀNH LÂM NGHIỆP TỈNH LÂM ĐỒNG - Pdf 39

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG THỰC HIỆN ĐỀ ÁN TÁI
CƠ CẤU NGÀNH LÂM NGHIỆP TỈNH LÂM ĐỒNG
(Dự thảo 2)

Ngày……tháng 02 năm 2015
SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TỈNH LÂM ĐỒNG

1


CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LSNG
PCCCR
BV&PTR
Công ty lâm nghiệp
nhà nước
UBND
NN& PTNT

Lâm sản ngoài gỗ
Phòng cháy chữa cháy rừng
Bảo vệ và phát triển rừng
Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên do
Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Ủy ban nhân dân
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn


của Kiểm lâm giai đoạn 2014-2020...............................................................42
3.2.6. Kiện toàn Ban lâm nghiệp xã và bố trí cán bộ chuyên trách lâm nghiệp
cấp xã........................................................................................................... ..42
3.3. Phát triển thị trường lâm sản....................................................................42
3.3.1. Hỗ trợ hoạt động quảng cáo, tiếp thị sản phẩm trong nước...................43
3.3.2. Tìm kiếm thị trường mới cho xuất khẩu đồ gỗ......................................43


4.4. Xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý rừng và đất lâm nghiệp..........................45
4.5. Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính........................................45
4.6. Cơ chế, chính sách................................................................................45
5. Tổ chức thực hiện……………………………………………………......46
6. Kiến nghị………………………………………………………………….46
PHỤ LỤC 01: Khung logic kế hoạch hành động thực hiện đề án tái cơ cấu
ngành lâm nghiệp tỉnh Lâm Đồng..............................................................49
PHỤ LỤC 02: Giá trị sản xuất lâm nghiệp tỉnh Lâm Đồng..........................89
PHỤ LỤC 03: Tổng hợp nguồn kinh phí cho công tác BV & PTR 5 năm( 20092013)……………….................................................................................90


MỞ ĐẦU
Lâm Đồng là tỉnh miền núi phía Nam Tây Nguyên với diện tích tự nhiên
977.354 ha, trong đó diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp là 591.476ha,
chiếm tỷ lệ 60,5%. Đây là địa bàn đầu nguồn hết sức quan trọng về môi trường
sinh thái không chỉ cho khu vực Tây Nguyên mà còn đối với các tỉnh Duyên
hải miền Trung, miền Đông Nam bộ - Thành phố Hồ Chí Minh và vùng hạ lưu
sông Mê Kông, là một khu vực có tiềm năng lớn về tài nguyên rừng, có nhiều
lợi thế về phát triển lâm nghiệp, địa bàn chiến lược quan trọng đối với quốc
phòng, an ninh chung của cả nước,
Trong thời gian qua, ngành Lâm nghiệp tỉnh Lâm Đồng đã có những
chuyển đổi quan trọng, từ nền lâm nghiệp chủ yếu dựa vào khai thác, lợi dụng

- Mâu thuẫn trước mắt và lâu dài giữa phát triển nông nghiệp với phát
triển lâm nghiệp; áp lực chuyển đổi từ đất lâm nghiệp, đặc biệt từ rừng tự nhiên
sang sản xuất nông nghiệp và trồng cây công nghiệp dài ngày là rất lớn.
- Mâu thuẫn giữa việc khai thác, sử dụng rừng với bảo vệ, bảo tồn và phát
triển hệ sinh thái rừng tự nhiên hiện còn.
- Mâu thuẫn lợi ích giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt giữa tổ chức lâm
nghiệp nhà nước với hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng trong quản lý, sử dụng
tài nguyên rừng.
6. Cơ chế, chính sách chưa tạo ra được những cơ sở, nền tảng cần thiết để
quản lý bền vững rừng tự nhiên trong điều kiện kinh tế thị trường, nền kinh tế
nhiều thành phần đang phát triển. Cho đến nay chúng ta vẫn lúng túng trong
nhiều vấn đề cụ thể nhưng rất cơ bản trong việc thiết lập một chế độ quản lý
rừng tự nhiên hiện còn.
Xuất phát từ những vấn đề trên, hướng tới sự phát triển bền vững, thực
hiện tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp tỉnh Lâm Đồng là cần thiết và đúng hướng.


I. CĂN CỨ PHÁP LÝ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG
- Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá
trị gia tăng và phát triển bền vững;
- Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 8/7/2013 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành lâm
nghiệp;
- Quyết định số 774/QĐ-BNN-TCLN ngày 18/4/2014 của Bộ NN&PTNT
phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng
trồng sản xuất giai đoạn 2014-2020;
- Quyết định số 1391/QĐ-BNN-TCLN ngày 29/4/2014 của Bộ
NN&PTNT phê duyệt Kế hoạch phát triển kinh tế hợp tác và liên kết theo
chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp giai đoạn 2014-2020;

phòng hộ, Ban quản lý vườn quốc gia và các cơ quan lâm nghiệp liên quan
khác. Quá trình xã hội hóa nghề rừng có thêm sự tham gia của các doanh nghiệp
tư nhân thuê đất trồng rừng, hộ gia đình...Nguồn vốn đầu tư trồng rừng cũng
được đa dạng, như: nguồn ngân sách của địa phương theo kế hoạch bảo vệ và
phát triển rừng hàng năm; nguồn vốn trung ương hỗ trợ từ các chính sách lâm
nghiệp; nguồn vốn hỗ trợ ODA từ các chương trình dự án trong và ngoài nước;
vốn tự có, vốn vay và liên doanh liên kết...
b) Diện tích rừng trồng: toàn tỉnh đến hết năm 2013 là 68.561,6 ha (số
liệu chưa tính đến diện tích tổ chức trồng rừng trong năm 2014 do chưa nghiệm
thu ). Trong đó, các chủ rừng Nhà nước: 32.683,35ha chiếm tỷ lệ 47,7% (08
công ty lâm nghiệp: 13.285,3ha; 15 ban quản lý rừng: 16.507,4ha; Hạt Kiểm
lâm và Vườn quốc gia: 1.659,1ha; các đơn vị lâm nghiệp khác liên quan:
1.231ha); các doanh nghiệp tư nhân thuê đất trồng rừng, đến thời điểm hiện nay
đã triển khai trồng 14.667,3 ha chiếm tỷ lệ 24,4 %; công ty cổ phần Giấy Tân
Mai liên doanh liên kết trồng rừng với diện tích 9.260,55 ha chiếm tỷ lệ 13,5%;
các hộ gia đình tại 70 xã trồng rừng với diện tích 11.951ha, chiếm tỷ lệ 17,4%.
c) Loài cây trồng: trước đây 02 loài cây trồng chiếm ưu thế là Thông 3 lá
và keo. Cây Thông phù hợp với sinh thái và khí hậu á ôn đới ẩm mưa nhiều của
khu vực phía Bắc Lâm Đồng; cây Keo phù hợp với khí hậu tiếp giáp Đông Nam
Bộ thuộc địa bàn 03 huyện phía Nam Lâm Đồng (Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên ).
Trong những năm chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường,
thử nghiệm trồng thêm một số loài cây bản địa tại địa phương, các loài cây du
nhập khác vừa có gía trị kinh tế, vừa có gía trị môi trường thích hợp với điều


nguyên liệu giấy cường độ tỉa thưa kinh doanh sản phẩm nguyên liệu giấy cao
hơn sản lượng tỉa thưa 50m3/ha; năng suất tỉa thưa rừng Keo các loại bình quân
30m3/ha. Năng suất rừng trồng Thông ba lá đến tuổi khai thác trắng khi đạt cấp
tuổi > 20 để làm gỗ nguyên liệu cho chế biến tinh chế từ 100m3 đến 200m3/ha,
bình quân 140m3/ha tương ứng với trữ lượng đạt 210 m 3/ha; năng suất khai thác

dựng cơ bản như điện, đường, trường học, khu dân cư dẫn đến giảm diện tích
rừng trồng. Ngoài ra diện tích rừng trồng còn bị giảm do bị cháy và sâu bệnh
hại rừng trồng, súc vật cắn phá, người dân nhổ phá rừng trồng trên diện tích
trồng lại sau giải tỏa và những nguyên nhân bất khả kháng khác.
+ Đơn giá ngày công lao động phổ thông cho việc trồng rừng và chăm
sóc rừng trồng còn thấp, vì vậy việc động viên và huy động người dân tham gia
gặp nhiều khó khăn.
+ Diện tích rừng trồng phân bố không tập trung nằm dàn trải trên nhiều
tiểu khu, do đó khó khăn trong việc quy hoạch xây dựng các nhà máy chế biến
gắn với vùng nguyên liệu tập trung. Cơ cấu cây trồng chưa đa dạng để đáp ứng
nhu cầu thị trường tiêu thụ sản phẩm rừng trồng.
+ Qua thực tiễn sản xuất cho thấy, kinh doanh rừng trồng theo phương
thức truyền thống, chủ yếu để lấy gỗ lớn bộc lộ một số nhược điểm như: chu kỳ
kinh doanh quá dài (từ 40 - 50 năm ), ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển vốn,
thu hồi vốn đầu tư chậm, hiệu quả kinh tế không cao. Vấn đề xã hội hoá nghề
rừng cũng bị ảnh hưởng do không tạo được công việc làm cho cộng đồng dân
cư địa phương, công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR hàng năm cũng gặp nhiều
khó khăn, tốn kém. Mặt khác rừng trồng ở cấp tuổi > 20 tăng trưởng chậm.
+ Rừng trồng giao cho các công ty lâm nghiệp chưa có cơ chế thông
thoáng để các công ty tự chủ trong việc kinh doanh rừng; nhà nước chưa có cơ
chế ưu đãi cho vay vốn trồng rừng; đối với diện tích rừng trồng đầu tư từ vốn
của các doanh nhiệp tư nhân, tiến độ trồng rừng triển khai chậm.
+ Rừng trồng của Công ty nguyên liệu giấy Đồng Nai phục vụ cho mục
đích cung ứng nguồn nguyên liệu giấy, tuy nhiên chưa bố trí đầu tư nhà máy
giấy gắn với vùng nhiên liệu.
+ Việc quản lý giống cây trồng lâm nghiệp được quan tâm và theo dõi
chặt chẽ. Tuy nhiên việc khuyến nông, khuyến lâm cho đối tượng tổ chức, cá
nhân tham gia hoạt động trồng rừng chưa triển khai rộng. Đối tượng tham gia
trồng rừng còn nhiều lúng túng và vướng mắc trong việc chọn cơ cấu cây trồng
rừng.

bảo vệ rừng mà áp dụng các hệ số điều chỉnh biên chế sự nghiệp quản lý, bảo vệ
rừng tăng hay giảm cho phù hợp để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ có hiệu qủa
nhất.
c) Kinh phí hàng năm cho hoạt động của 15 Ban quản lý rừng là 13.793
triệu đồng. Kinh phí Nhà nước đầu tư từ các nguồn vốn để thực hiện trả tiền
công khoán quản lý, bảo vệ rừng cho 191.385,7 ha là 19.385 triệu đồng. Như


d) Kết quả đạt được
- Nhìn chung các Ban quản lý rừng cơ bản hoàn thành được nhiệm vụ
tham mưu chính quyền địa phương trong quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên
rừng; đồng thời làm tốt vai trò chủ đầu tư các dự án, nhất là Dự án trồng mới 5
triệu ha rừng.
- Tổng diện tích giao khoán quản lý, bảo vệ rừng là 201.951,2 ha/năm
(chiếm khoảng 70 % diện tích được giao) thu hút trên 7.650 hộ tham gia. Thông
qua các hoạt động lâm nghiệp đã tạo được việc làm, góp phần tăng thu nhập,
giải quyết ổn định đời sống cho đồng bào dân tộc tại chỗ, đồng thời tạo được sự
gắn bó giữa Ban quản lý rừng với chính quyền địa phương huyện, xã, tham gia
có hiệu qủa một số vấn đề xã hội trên địa bàn.
đ) Hạn chế, khó khăn vướng mắc
- Một số Ban quản lý rừng chưa phát huy hết vai trò và thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ của mình, để xảy ra nhiều vụ vi phạm lâm luật, diện tích đất lâm
nghiệp bị lấn chiếm trái phép nhưng chưa thu hồi được.
- Do cơ chế hoạt động còn nặng về bao cấp nên chưa tự chủ trong hoạt
động quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên của mình, làm hạn chế đến tính
năng động, sáng tạo, khai thác thế mạnh (đất đai, tài nguyên rừng...) để tăng
nguồn thu, góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động.
- Chính quyền xã, phường chưa thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà
nước về lâm nghiệp trên địa bàn.
- Tình trạng di dân tự do lấn chiếm đất rừng, phá rừng trái phép vẫn xảy

hiện bàn giao cho các tổ chức, cá nhân khác để giải quyết đất sản xuất 8 công ty
lâm nghiệp quản lý 184.066 ha đất tự nhiên, trong đó đất lâm nghiệp 173.102
ha. Phân theo mục dích sử dụng, gồm: (1) Đất rừng sản xuất 154.763 ha
(89,4%);(2) Đất rừng phòng hộ 14.918 ha (10,6%); phân theo nguồn gốc hình
thành rừng, gồm: (1) Rừng tự nhiên 150.810 ha (87,1%); (2) Rừng trồng 18.808
ha (12,9%). Bình quân 23.008ha/1 công ty, trong đó rừng tự nhiên :18.850 ha/1
công ty.
Trong những năm qua các công ty đã phối hợp và thống nhất với các cấp
chính quyền địa phương, xác định rõ ranh giới đất được giao trên bản đồ và trên
thực địa để làm cơ sở cho việc tổ chức quản lý, sử dụng rừng được chặt chẽ và
ngày càng hiệu quả. Tuy chưa nhiều nhưng các đơn vị cũng đã bước đầu thực
hiện rà soát và điều chỉnh lại diện tích đất đai, rừng để giao trả cho các địa
phương. Cơ bản thực hiện việc phủ xanh diện tích đất trống thuộc lâm phần
quản lý, góp phần tăng đáng kể độ che phủ của rừng, hạn chế tình trạng phá


Tổng lao động đến năm 2013 là 446 người, bình quân 56 người/1 công ty.
Lực lượng lao động tham gia thực hiện các hoạt động trồng, chăm sóc, nuôi
dưỡng rừng trồng hàng năm khoảng trên 4.000 lao động chủ yếu là lao động
thời vụ với thời gian tối đa không quá 4 tháng/năm. Ngoài ra còn có các hộ
nhận khoán bảo vệ rừng theo chỉ tiêu kế hoạch nhà nước giao với khoảng 5.000
hộ dân, trong đó có trên 80% là hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
d) Tài sản, vốn
- Nguồn vốn chủ sở hữu: tính đến 31/12/2013 là 171.949 triệu đồng (bao
gồm cả nguồn vốn tạo rừng), bình quân 21.943 triệu đồng/1 công ty. Những
đơn vị có nguồn vốn chủ sở hữu lớn nhất là: Công ty lâm nghiệp Bảo Lâm
48.428 triệu đồng, Công ty lâm nghiệp Di Linh 40.560 triệu đồng; những đơn vị
còn lại ở mức từ 8.000 triệu đồng đến 15.000 triệu đồng.Trong tổng số vốn nêu
trên, chủ yếu là vốn tạo rừng (vốn ngân sách đầu tư từ nhiều năm trước đây cho
trồng rừng, chăm sóc rừng trồng) chiếm trên 80% vốn đầu tư cho xây dựng văn

712 triệu đồng/năm); Đơn Dương (lợi nhuận trước thuế bình quân 1 tỷ 461 triệu
đồng/năm); những đơn vị khác còn lại, lợi nhuận không đáng kể.
- Mặc dù là doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng
do quản lý diện tích rừng tự nhiên lớn, kể từ năm 2012 không được phân bổ chỉ
tiêu khai thác gỗ, nên hàng năm tỉnh Lâm Đồng vẫn bố trí kinh phí từ ngân sách
địa phương cấp cho các Công ty để thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng tự
nhiên hàng năm khoảng 21 tỷ đồng/năm (bình quân khoảng 2,6 tỷ đồng/01 đơn
vị ).
- Việc làm của công nhân viên các đơn vị về cơ bản đã được giải quyết ổn
định,thu nhập tuy chưa cao nhưng ổn định, tỷ trọng thu nhập từ sản xuất lâm
nghiệp trong kinh tế gia đình của họ cũng ngày càng tăng.
e) Hạn chế, khó khăn vướng mắc
- Mô hình tổ chức: trong quá trình thực hiện còn lúng túng giữa việc tổ
chức quản lý tài nguyên rừng là rừng tự nhiên với tổ chức sản xuất kinh doanh,
nên chưa tạo được sự tự chủ cho các doanh nghiệp, việc phân định các hoạt
động công ích với hoạt động sản xuất kinh doanh chưa rõ ràng. Công ty lâm
nghiệp được thành lập với mục tiêu chủ yếu là sản xuất kinh doanh nhưng vẫn
phải quản lý diện tích rừng phòng hộ và một số diện tích lớn rừng tự nhiên
không đưa vào khai thác, kinh doanh được, trong khi kinh phí ngân sách nhà
nước cấp để bảo vệ diện tích rừng này rất hạn chế.
- Quản lý đất đai: nhiều công ty chưa thực hiện được rà soát, đo đạc, cắm
mốc và chưa hoàn chỉnh được hồ sơ thủ tục để giao đất, cho thuê đất, cấp mới,


vay ưu đãi để đầu tư cho sản xuất kinh doanh trung và dài hạn; bên cạnh đó việc
vay vốn của các ngân hàng thương mại để trồng rừng sản xuất cũng rất khó
khăn, lãi suất vay cao, thời hạn cho vay ngắn, trong khi chu kỳ kinh doanh rừng
trồng với chu kỳ dài; nguồn vốn ngân sách giao cho các doanh nghiệp còn hạn
chế, cơ sở vật chất của các đơn vị chủ yếu xây dựng từ lâm trường quốc doanh
giai đoạn trước còn nghèo nàn, giá trị vốn của các đơn vị chủ yếu là văn phòng

mưu sắp xếp được theo hướng tập trung thành ngành hàng, từng vùng.

- Tuy số doanh nghiệp tăng cao nhưng năng lực chế biến tăng thấp, cùng
với sự tăng trưởng về số lượng, hiện nay, lĩnh vực chế biến gỗ cũng đang gặp
rất nhiều khó khăn và bộc lộ những điểm yếu kém như: ngành công nghiệp chế
biến gỗ phát triển mang tính tự phát, chưa vững chắc, thiếu quy hoạch và tầm
nhìn chiến lược, tính cạnh tranh chưa cao, sự liên kết và phân công sản xuất
chưa tốt (chưa có sự chuyên môn hoá, chưa có phân công sản xuất theo vùng,
tiểu vùng…). Tuy đã định hướng được trên 20 đơn vị có đầu tư hoạt động sản
xuất chính là chế biến ván ghép thanh và hàng mộc nhưng đa số là đầu tư thiết
bị công nghệ cũ và lạc hậu, chỉ có 03 đơn vị có đầu tư máy móc thiết bị mới
tương đối hiện đại.
- Sản phẩm chế biến tập trung chủ yếu là ván ghép thanh (nguyên liệu gỗ
thông) và hàng mộc, còn lại hầu hết các đơn vị đầu tư với quy mô quá nhỏ sản
xuất đơn chiếc, tỷ lệ gỗ chế biến tinh còn quá thấp (khoảng 15%), vì vậy, giá trị
gia tăng từ hoạt động chế biến gỗ chưa cao. Đối với việc thực hiện chế biến gỗ
tạp lá rộng và sản phẩm gỗ rừng trồng (keo lai, keo tai tượng) đang gặp nhiều
khó khăn, chủ yếu vẫn thực hiện tiêu thụ gỗ tròn ra ngoài tỉnh, chưa có sản
phẩm xuất khẩu trực tiếp.
- Chính sách, giải pháp về nguyên liệu không ổn định, dẫn đến các đơn vị chưa
yên tâm đầu tư công nghệ thiết bị phát triển chế biến gỗ, như; thực hiện giao thầu, chỉ
định bán toàn bộ gỗ tròn nguyên liệu cho các đơn vị có đầu tư máy móc thiết bị tinh
chế, sau thay đổi tổ chức đấu giá toàn bộ khối lượng gỗ tròn nguyên liệu, chưa có quy
hoạch vùng nguyên liệu rừng trồng phục vụ chế biến gắn với xây dựng chứng chỉ
chuỗi hành trình sản phẩm (CoC), chứng chỉ rừng (FSC) phục vụ chế biến sản phẩm
xuất khẩu.

4. Giá trị sản xuất lâm nghiệp
- Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2013 tính theo giá cố định năm 1994 là:
214 tỷ đồng, chiếm 1,3% gía trị sản xuất toàn ngành nông, lâm, thủy sản tỉnh

động tối thiểu cho bộ hoạt động bộ máy của lực lượng kiểm lâm, lâm nghiệp,
chủ rừng là doanh nghiệp nhà nước, các Ban quản lý rừng, vườn quốc
gia…cũng như chi thực hiện công tác phòng cháy chữa cháy rừng, trồng rừng
rừng giải tỏa, trồng rừng trồng cây phân tán…
- Về cơ cấu nguồn vốn: năm 2013, trong 452,6 tỷ đồng đầu tư cho công tác

bảo vệ và phất triển rừng, nguồn vốn từ chi trả dịch vụ môi trường rừng chiếm
39%; doanh nghiệp & hộ gia đình chiếm 26,7% và ngân sách nhà nước: 34,3%.
- Về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng:


nộp vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng từ năm 2011 đến nay là 388,9 tỷ đồng,
riêng năm 2013 là 141,6 tỷ đồng. Diện tích khoán bảo vệ rừng bằng nguồn chi
trả dịch vụ môi trường rừng hàng năm chiếm tỷ lệ bình quân 87% tổng diện
tích khoán bảo vệ rừng toàn tỉnh, góp phần tạo thu nhập cho hơn 15.000 hộ gia
đình sống gần rừng, trong đó đồng bào dân tộc chiếm tỷ lệ 80%.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là một chính sách khuyến
khích để ngăn chặn mất rừng và suy thoái rừng, làm giảm số vụ phá rừng rõ rệt,
có nơi giảm 50%, Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là nguồn lực tài chính
mới, bền vững nhất là khi ngân sách địa phương còn hạn hẹp (thu không đủ chi
và thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên của chính phủ), góp phần giảm
nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn.
Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách còn
một số hạn chế, tồn tại, như: quản lý sử dụng nguồn thu chi trả dịch vụ môi
trường rừng còn theo cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp, chưa thể hiện tính
dịch vụ cao đối với chủ rừng, hệ số K chưa được áp dụng nên chưa tạo tính
cạnh tranh để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng, phê duyệt kế hoạch chi
trả của địa phương còn chậm.
5.4. Chính sách đối với chế biến lâm sản
Ưu tiên giải quyết gỗ tròn nguyên liệu cho các đơn vị phục vụ sản xuất

của xã hội cho bảo vệ và phát triển rừng.
- Phần lớn đất đai và rừng của các công ty lâm nghiệp, các ban quản lý
rừng chưa được rà soát, đo đạc trên thực địa, chưa lập bản đồ địa chính, diện
tích đất được cấp sổ đỏ chiếm tỷ lệ thấp, những vi phạm chính sách và pháp luật
về đất đai dưới nhiều hình thức khác nhau chưa được xử lý dứt điểm (lấn chiếm
đất đai, tranh chấp đất đai...)
- Một số công ty lâm nghiệp chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản
lý và quản trị doanh nghiệp, sản xuất kinh doanh hiệu quả thấp, chưa thể hiện rõ
vai trò là trung tâm chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới,
cung cấp dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, thông tin thị trường đối với nông
dân trong vùng và chưa thực hiện được vai trò điểm tựa phát triển kinh tế - xã
hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng trên địa bàn.
- Công tác bảo vệ rừng còn thụ động, chưa thực sự vững chắc và hiệu quả
thấp.
- Chưa phát huy hết tiềm năng vốn có của rừng, nhất là đối với hệ sinh
thái rừng tự nhiên. phát triển rừng trồng chưa thực sự tương xứng với tiềm năng
đất đai.


(phần lớn là đồng bào dân tộc) vẫn còn nhiều khó khăn, từ đó tạo áp lực mở rộng
diện tích sản xuất cây nông nghiệp, cây công nghiệp vào đất rừng.
- Đô thị hóa và nhu cầu năng lượng đòi hỏi phát triển cơ sở hạ tầng, các
công trình xây dựng quốc gia, nhất là xây dựng công trình thủy điện, đường giao
thông dẫn đến chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, mất rừng tự nhiên. Trong thời
gian từ 2007-2012, mất rừng tự nhiên còn do việc thực hiện chưa tốt chính sách
chuyển đổi từ rừng tự nhiên sang trồng cao su.
- Điều kiện tự nhiên của tỉnh có nhiều bất lợi như vị trí xa các trung tâm
tiêu thụ lâm sản, địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, đất trống đồi trọc tuy còn
nhiều nhưng manh mún, nghèo dinh dưỡng, khí hậu cực đoạn nên ảnh hướng
đến hiệu quả kinh doanh rừng trồng.

lâm nghiệp nhà nước chiếm tới 80%. Nhận thức một nền lâm nghiệp Nhà nước
(Lâm nghiệp quốc doanh) hoạt động khép kín hiện đang hiện hữu, nhưng bộc lộ
những hạn chế rõ rệt trong tổ chức quản lý rừng, trong khi nhận thức về xã hội
hoá nghề rừng còn hạn chế, lúng túng trong việc xác định bước đi, mô hình và
cơ chế khuyến khích.
c) Là một địa phương nằm sâu trong nội địa, xa cảng biển, xa các khu vực
trung tâm tiêu thụ lâm sản, cơ sở hạ tầng giao thông thấp kém, trong khi quỹ đất
dành cho trồng rừng sản xuất phân tán, hiệu quả đầu tư trồng rừng thấp, do đó
không hấp dẫn các nhà đầu tư, cũng như người dân tại chỗ, khó khăn trong việc
quy hoạch xây dựng các nhà máy chế biến gắn với vùng nguyên liệu tập trung.
d) Lâm Đồng là tỉnh có điểm xuất phát thấp so với bình quân chung cả
nước; dân số toàn tỉnh khoảng 1,235 triệu người (tính đến 1/7/2012), trong đó
đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 21,6% (riêng dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên
chiếm 17% dân số), từ trước đến nay quen với việc hái lượm từ rừng là chủ yếu,
chưa có ý thức phát triển rừng, tuy họ có ý thức về bảo vệ rừng. Xu thế di dân
tự do đến tỉnh Lâm Đồng vẫn rất phức tạp, vẫn đang có tình trạng dân bản địa
lùi sâu mãi vào rừng và khai phá rừng để bán, canh tác nông nghiệp
đ) Phát triển lâm nghiệp tỉnh Lâm Đồng đang phải đối mặt với một số
mâu thuẫn cần tập trung giải quyết, đó là:
- Mâu thuẫn trước mắt và lâu dài giữa phát triển nông nghiệp với phát
triển lâm nghiệp; áp lực chuyển đổi từ đất lâm nghiệp, đặc biệt từ rừng tự nhiên
sang sản xuất nông nghiệp và trồng cây công nghiệp dài ngày là rất lớn. Khác
với nhiều tỉnh khác, lâm nghiệp tỉnh Lâm Đồng có vị trí “yếu thế” so với trồng
và kinh doanh những cây công nghiệp hàng hoá mang lại hiệu quả kinh tế rất
cao như cao su, cà phê
- Mâu thuẫn giữa việc sử dụng rừng với bảo vệ và phát triển hệ sinh thái


e) Cơ chế, chính sách chưa tạo ra được những cơ sở, nền tảng cần thiết để
quản lý bền vững rừng tự nhiên trong điều kiện kinh tế thị trường, nền kinh tế

đang đi vào cuộc sống như: chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, chính


Thị trường nội địa tiêu thụ gỗ rừng trồng là rất lớn, ngay tại địa bàn Tây
Nguyên có các nhà máy chế biến lớn như: nhà máy MDF Gia Lai, Nhà máy
giấy Tân Mai, Nhà máy giấy Kon Tum và hàng trăm doanh nghiệp chế biến gỗ
tư nhân. Ngoài ra, rất thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên liệu xuống các địa
bàn lân cận như: Đồng Nai, Sài gòn, Đà Nẵng..
d) Thương mại gỗ và đồ gỗ trên thế giới vẫn tiếp tục tăng trưởng, tạo cơ
hội phát triển cho ngành công nghiệp xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam, có nhu cầu
cao về gỗ nguyên liệu trong nước, tạo ra thị trường và động lực cho việc phát
triển rừng trong nước, đặc biệt là rừng trồng.
đ) Hợp tác quốc tế về lâm nghiệp tiếp tục phát triển
Hiện nay Việt Nam đang tăng cường hợp tác với các nước, các tổ chức
quốc tế, kể cả đa phương, song phương, phi chính phủ; các tổ chức tài chính
trong khu vực và trên thế giới để thu hút các hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật để
thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020. Chuẩn bị
các điểu kiện để tham gia đầy đủ sáng kiến REDD+ mang tính quốc tế (giảm
phát thải khí nhà kính do mất rừng và suy thoái rừng, bảo tồn rừng, quản lý bền
vững tài nguyên rừng, tăng cường trữ lượng các bon) nhằm thích ứng và giảm
nhẹ sự tác động của biến đổi khí hậu; sáng kiến thực thi Luật lâm nghiệp, quản
trị rừng và thương mại lâm sản ( FLEGT); thực hiện cơ chế phát triển sạch, tín
dụng các bon và chi trả dịch vụ môi trường rừng để tăng nguồn thu phục vụ
mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
1.1.2. Thách thức
- Trong xu hướng biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay, Việt Nam được dự
báo là một trong 5 nước chịu sự ảnh hưởng nặng nề của nước biển dâng. Tác
động dài hạn của biến đổi khí hậu có thể dẫn đến thay đổi sinh cảnh gây ảnh
hưởng đến đa dạng sinh học rừng, làm gia tăng sâu bệnh, cháy rừng và sa mạc
hóa.

- Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam
trong thời gian tới khoảng 15% năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ có thể đạt
7 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ khoảng 800 triệu USD/năm vào
năm 2020. Gỗ nguyên liệu trong nước đặc biệt là gỗ lớn hiện chưa đáp ứng nên
Việt Nam phải nhập khẩu từ 3-4 triệu m 3/năm. Việt Nam đã gia nhập Tổ chức
thương mại Quốc tế (WTO) các sản phẩm gỗ của Việt Nam cũng chịu sự tác động
của nền kinh tế toàn cầu. Mức độ cạnh tranh các sản phẩm cùng loại của các quốc
gia khác càng trở nên khốc liệt hơn cả trên thị trường quốc tế và thị trường nội
địa. Việt Nam vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu gỗ với khối lượng giảm dần đến



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status