Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả vào việc bảo vệ môi trường sinh thái trong sản xuất nông nghiệp ở huyện mê linh (hà nội) hiện nay - Pdf 39

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====o0o=====

VŨ THỊ THU HƢƠNG

VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG
GIỮA NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ VÀO VIỆC
BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG SINH THÁI TRONG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN MÊ LINH (HÀ NỘI) HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. Trần Thị Hồng Loan

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trần Thị Hồng Loan, ngƣời đã tận
tình giúp đỡ, hƣớng dẫn, khích lệ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong tổ Bộ môn Triết học, khoa
Giáo dục Chính trị, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện cho tôi
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp này đƣợc

3.2. Một số phƣơng hƣớng chủ yếu trong việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái trong
sản xuất nông nghiệp ở huyện Mê Linh ............................................................... 46
3.3. Một số biện pháp chủ yếu nhằm bảo vệ môi trƣờng sinh thái trong sản xuất
nông nghiệp ở huyện Mê Linh hiện nay trên cơ sở vận dụng mối quan hệ biện
chứng giữa nguyên nhân và kết quả ..................................................................... 48
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 68


MỞ ĐẦU
1.

Lí do chọn đề tài
Hiện nay nƣớc ta đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhiệm

vụ trọng tâm là thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Để làm đƣợc
điều này, chúng ta cần tận dụng các nguồn lực để phát triển kinh tế cả về con
ngƣời, nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên… Sau đại hội đổi mới 1986, mặc dù
cơ cấu nền kinh tế nƣớc ta đã có bƣớc phát triển mạnh mẽ theo hƣớng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhƣng ngành nông nghiệp vẫn chiếm một vị trí quan
trọng. Hiện nay nền nông nghiệp ở Việt Nam không chỉ đảm bảo an ninh lƣơng
thực quốc gia mà còn xuất khẩu ra bên ngoài thế giới. Nếu nhƣ trƣớc kia con
ngƣời chỉ biết gieo trồng một số loại cây có sẵn trong tự nhiên để phục vụ nhu
cầu cho mình mà không cần đến thuốc bảo vệ thực vật hay phân bón,thì nay
trong quá trình phát triển đã có nhiều tiến bộ khoa học đƣợc đƣa vào ứng dụng
trong sản xuất, nhiều giống cây trồng nhiều loại phân bón và nhiều chủng loại
thuốc bảo vệ thực vật khác nhau ra đời đáp ứng yêu cầu sản xuất của bà con
nông dân. Tuy nhiên, cùng với phát triển kinh tế nông nghiệp là sự ô nhiễm
nghiêm trọng về môi trƣờng sinh thái. Chính hoạt động sản xuất nông nghiệp
chƣa an toàn, khoa học nhƣ: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón tùy

dƣới các góc độ khác nhau nhƣ:
Trần Thị Hồng Loan, Vấn đề văn hóa sinh thái trong sự phát triển bền
vững ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Viện khoa học, xã hội Việt
Nam (2012), luận án đã cho thấy sự cần thiết phải xây dựng văn hóa sinh thái
đối với sự phát triển bền vững ở nƣớc ta hiện nay
Nguyễn Văn Tuyên (1997), Sinh thái học và môi trường, Nxb Giáo dục,
Hà Nội đã chỉ ra vai trò quan trọng của môi trƣờng đối với cuộc sống con ngƣời
Mai Đình Yên (1994), Con người và môi trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội
đã làm rõ mối quan hệ mật thiết không thể tách rời giữa con ngƣời và môi
trƣờng sống, qua đó thay đổi nhận thức của con ngƣời về môi trƣờng.
Nhƣ vậy, đề tài về môi trƣờng không phải là một vấn đề mới mà đã đƣợc
các tác giả, các nhà nghiên cứu quan tâm bàn bạc để tìm ra giải pháp. Nhƣng
những công trình nghiên cứu trên mới chỉ tìm hiểu chung về môi trƣờng,vẫn
chƣa phân tích kĩ các khía cạnh của vấn đề, hơn nữa với đề tài “Vận dụng mối
2


quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả vào việc bảo vệ môi trường
sinh thái trong sản xuất nông nghiệp ở huyện Mê Linh (Hà Nội) hiện nay” thì
hiện chƣa có một công trình nghiên cứu nào. Vì vậy, nhằm góp phần nâng cao
công tác bảo vệ môi trƣờng sinh thái trong sản xuất nông nghiệp ở huyện Mê
Linh (Hà Nội) tôi đã mạnh dạn quyết định nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận về cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả và sự vận dụng
mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả trong bảo vệ môi trƣờng
sinh thái trên cơ sở tìm hiểu thực trạng môi trƣờng sinh thái; trong sản xuất nông
nghiệp ở huyện Mê Linh, bƣớc đầu đề xuất một số biện pháp thiết thực để bảo
vệ môi trƣờng sinh thái ở địa phƣơng này
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

quả, đặc biệt là mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả trong việc
bảo vệ môi trƣờng sinh thái.
6.2. Về mặt thực tiễn
Góp phần nâng cao nhận thức, thái độ của con ngƣời đối với tự nhiên. Giúp
ngƣời dân ý thức sâu sắc hơn trong hoạt động sản xuất nông nghiệp để không
gây hại đến môi trƣờng.
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa
luận gồm 3 chƣơng, 9 tiết.

4


CHƢƠNG 1
MỘT SỐ LÍ LUẬN CHUNG VỀ CẶP PHẠM TRÙ
NGUYÊN NHÂN-KẾT QUẢ VÀ MÔI TRƢỜNG SINH THÁI
1.1. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
1.1.1. Khái niệm nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân và kết quả là một cặp phạm trù trong phép biện chứng duy
vật và là một trong những nội dung của nguyên lí về mối liên hệ phổ biến, dùng
để chỉ mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả.
Nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự
vật, hiện tƣợng hoặc giữa các sự vật, hiện tƣợng với nhau, từ đó tạo ra sự biến
đổi nhất định.
Kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt,
các yếu tố trong một sự vật, hiện tƣợng hoặc giữa các sự vật, hiện tƣợng.
Ví dụ: Khói bụi từ các nhà máy, các khu công nghiệp là nguyên nhân gây
ra ô nhiễm không khí. Hay phá rừng là nguyên nhân dẫn đến tài nguyên rừng bị
can kiệt, suy thoái, lũ lụt, hạn hán…
1.1.2. Nội dung quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

- Khi các nguyên nhân tác động cùng lúc lên sự vật thì hiệu quả tác động
của từng nguyên nhân dẫn đến việc hình thành kết quả sẽ khác nhau, tùy thuộc
vào hƣớng tác động của nó.
- Nguyên nhân sinh ra kết quả, song kết quả có thể tác động trở lại nguyên
nhân đã sinh ra nó, nếu nguyên nhân đó chƣa mất đi. Sự ảnh hƣởng tác động trở
lại theo hai hƣớng: Hƣớng tích cực (tức là thúc đẩy sự hoạt động của nguyên
nhân), hƣớng tiêu cực ( tức là cản trở sự hoạt động của nguyên nhân). - Trong sự
vận động của thế giới vật chất, không có nguyên nhân đầu tiên và không có kết
quả cuối cùng. Nguyên nhân và kết quả có thể chuyến hóa cho nhau. Một sự vật,
hiện tƣợng nào đó trong mối quan hệ này là kết quả, song trong mối quan hệ
khác lại là nguyên nhân. Trong thế giới chuỗi quan hệ nhân - quả là vô cùng, vô
tận, không có điểm bắt đầu và không có điểm kết thúc. Một hiện tƣợng nào đó
đƣợc coi là nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng đƣợc xét trong mối quan hệ
xác định, ở một không gian, thời gian cụ thể.

6


Ph.Ăngghen có viết: “ Chúng ta thấy rằng nguyên nhân và kết quả khi
được áp dụng trong trường hợp riêng biệt nhất định, nhưng một khi chúng ta
nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với toàn bộ
thế giới thì những khái niệm ấy vẫn gắn bó với nhau và xoắn xuýt với nhau
trong một khái niệm về sự tác động qua lại lẫn nhau một cách phổ biến, trong
đó nguyên nhân và kết quả luôn thay đổi vị trí cho nhau, cái ở đây hoặc trong
lúc này là nguyên nhân thì ở chỗ khác hoặc ở lúc khác lại là kết quả và ngược
lại”[13, tr.38]
Ph.Ăngghen khẳng định: Nguyên nhân và kết quả là những biểu tƣợng có ý
nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi nào đƣợc áp dụng vào một trƣờng hợp riêng
biệt, nhƣng khi ta xét trƣờng hợp riêng biệt ấy trong mối quan hệ chung của nó
với toàn bộ thế giới thì nguyên nhân hội tụ lại và quyện vào nhau trong biểu

1.1.3. Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ biện chứng giữa
nguyên nhân và kết quả
Từ việc phát hiện ra mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả,
Triết học Mác-Lênin nêu ra một số ý nghĩa phƣơng pháp luận cho mối quan hệ
này để ứng dụng vào thực tiễn và tƣ duy, cụ thể là:
Vì mối quan hệ nhân quả là mối quan hệ có tính khách quan, nên trong
nhận thức và thực tiễn không thể phủ nhận quan hệ nhân- quả. Trong thế giới
hiện thực không thể tồn tại những sự vật, hiện tƣợng hay quá trình biến đổi,
không có nguyên nhân nào không dẫn đến kết quả nhất định.
Vì mối quan hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính
xác các loại nguyên nhân để có phƣơng pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với
những trƣờng hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn.
Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngƣợc lại một kết quả
có thể do nhiều nguyên nhân tạo ra nên trong nhận thức và thực tiễn cần có cách
nhìn nhận mang tính toàn diện và lịch sử cụ thể trong phân tích, giải quyết và
ứng dụng quan hệ nhân quả.
Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không
có sự vật, hiện tƣợng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân,
nhƣng không phải con ngƣời có thể nhận thức ngay đƣợc mọi nguyên nhân.
Nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện
tƣợng trong tự nhiên, xã hội và tƣ duy để giải thích đƣợc những hiện tƣợng đó.
8


Muốn tìm đƣợc nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân
các sự vật, hiện tƣợng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không phải trong tƣởng
tƣợng của đầu óc con ngƣời tách rời thế giới hiện thực.
Vì nguyên nhân luôn có trƣớc kết quả nên muốn đi tìm nguyên nhân của
một hiện tƣợng nào đó cần tìm trong mối liên hệ xảy ra trƣớc khi hiện tƣợng đó
xuất hiện.

đến sự tồn tại, phát triển của các sinh thể.
Thứ ba, môi trƣờng sống còn đƣợc hiểu là môi trƣờng của con ngƣời và xã
hội loài ngƣời. Nó bao gồm sinh quyển và các điều kiện xã hội. Nói cách khác
đó là môi trƣờng tự nhiên- xã hội, môi trƣờng sinh thái nhân văn.
Trên thực tế cho đến nay ở Việt Nam và thế giới đã có khá nhiều công trình
bàn đến khía cạnh của vấn đề này và đề xuất nhiều vấn đề khác về khái niệm
môi trƣờng. Năm 1981 Tổ chức Giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã
đƣa ra một định nghĩa về khái niệm này nhƣ sau: Môi trƣờng bao gồm toàn bộ
các hệ thống tự nhiên và nhân tạo, trong đó con ngƣời sinh sống và bằng lao
động của mình đã khai thác những tài nguyen thiên nhiên hay nhân tạo để thỏa
mãn nhu cầu của mình. Ở nƣớc ta, một số tác giả từ nhiều góc độ tiếp cận khác
nhau cũng đã đƣa ra quan niệm khác nhau về vấn đề này.
Khi bàn đến khái niệm môi trƣờng có ý kiến cho rằng: Đứng về mặt sinh
học thì “ Môi trƣờng là tất cả yếu tố xung quanh bao gồm các nhân tố vô sinh và
hữu sinh ảnh hƣởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống, sự phát triển, sự sinh
sản của sinh vật”. Tuy nhiên tác giả của quan điểmtrên cũng nhấn mạnh rằng,
đối với môi trƣờng của con ngƣời thì phải đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn. Nó
bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên và những gì do con ngƣời sáng tạo ra nhƣ
các hệ sinh thái nhân tạo, những nhóm và hội môi trƣờng văn hóa… trong đó
con sống, khai thác và hoạt động của mình, những nguồn lợi từ tự nhiên và nhân
tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu của con ngƣời.[3,tr.6]
Tác giả khác,khi xác định khái niệm môi trƣờng lại nhấn mạnh đến mối
quan hệ giữa môi trƣờng và cơ thể sinh vật sống trong môi trƣờng đó. Theo ý
kiến này, hiểu theo nghĩa rộng thì môi trƣờng bao gồm tất cả những gì ở xung
quanh một đối tƣợng và có mối quan hệ nhất định đến nó. Nếu đối tƣợng đó là
một cơ thể sinh vật thì môi trƣờng là tất cả những gì trực tiếp hay gián tiếp ảnh
hƣởng đến sự sinh trƣởng, phát triển, tồn tại của cơ thể đó. Vì vậy cơ thể sống
10



11


tự nhiên sự tác động của con ngƣời vào giới tự nhiên là tác động có ý thức, có
quy mô rộng lớn nên hoạt động của con ngƣời có tác động làm thay đổi mạnh
mẽ môi trƣờng sinh thái, cụ thể: Nó có thể làm cho môi trƣờng sinh thái trở nên
phong phú, đa dạng, giàu có hơn, phát triển hơn, nhƣng bên cạnh đó cũng có thể
làm cho chúng bị suy thoái.
Nhƣ vậy có thể khẳng định rằng, cách thức tác động của con ngƣời vào tự
nhiên là nhân tố quyết định đế sự sinh tồn của bản thân con ngƣời nói riêng và
tất cả sự sống trên Trái Đất nói chung bởi: Chỉ có con ngƣời mới đật đƣợc đến
cái in cái dấu của mình lên giới tự nhiên, không chỉ bằng cách di chuyển các loài
động vật và thực vật từ chỗ này sang chỗ khác mà còn làm biến đổi cả diện mạo,
thậm chí còn làm biến đổi cả cây cối và các thú vật tới một mức độ mà kết quả
hoạt động của họ chỉ có thể biến mất khi nào toàn bộ Trái Đất tiêu vong
[2,tr.475]
Từ các khái niệm về môi trƣờng, sinh thái trên cơ sở kế thừa có chọn lọc
những quan niệm môi trƣờng sinh thái của các công trình công bố và dựa trên
quan điểm duy vật biện chứng, thì môi trƣờng sinh thái là một khái niệm rộng
lớn “ bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống của
sinh thể”. Đối với con ngƣời, môi trƣờng sinh thái là tất cả những điều kiện sinh
thái, là tất cả những điều kiện tự nhiên, cả vô cơ và hữu cơ có liên quan đến
cuộc sống của con ngƣời, sự tồn tại và phát triển của xã hội. Nhƣ vậy, môi
trƣờng sinh thái là môi trƣờng có liên quan trực tiếp đến sự sống của con ngƣời
và xã hội loài ngƣời.[2,tr.487]
1.2.2. Kết cấu môi trường sinh thái
Môi trƣờng tự nhiên- môi trƣờng sinh thái là một khái niệm rộng lớn, tùy
thuộc vào từng góc độ nghiên cứu mà kết cấu của môi trƣờng sinh thái có sự
phân chia riêng, song tựu chung lại cấu trúc của môi trƣờng sinh thái gồm 4
thành phần cơ bản là: Thạch quyển, sinh quyển, thủy quyển, khí quyển

nhiều hồ lớn nhỏ.
Sinh quyển
Khái niệm về sinh quyển lần đầu tiên đƣợc nhà bác học ngƣời Nga
V.T.Vernadske đề xƣớng vào năm 1926. Sinh quyển là toàn bộ các dạng vật
chất sống tồn tại bên trong, bên trên và phía trên Trái Đất hay lớp vỏ sống của
Trái Đất, trong đó các cơ thể sống và hệ sinh thái hoạt động. Đây là một hệ
13


thống động và rất phức tạp. Nhờ hoạt động của các hệ sinh thái mà năng lƣợng
ánh sáng mặt trời đã bị biến đổi cơ bản để tạo thành vật chất hữu cơ trên Trái
Đất. Sự sống trên Trái Đất đƣợc phát triển nhờ sự tổng hợp các mối liên hệ
tƣơng hỗ giữa các sinh vật với môi trƣờng tạo thành dòng liên tục trong quá
trình trao đổ vật chất và năng lƣợng.
Nơi sinh sống của sinh vật trong sinh quyển bao gồm môi trƣờng cạn ( địa
quyển ), môi trƣờng không khí (khí quyển) hoặc môi trƣờng mặt nƣớc hay nƣớc
ngọt(thủy quyển). Đại bộ phận các sinh vật không sinh sống ở các địa hình quá
cao, càng lên cao số lƣợng loài càng giảm, giống ánh sáng thủy quyển và khí
quyển, sinh quyển chứa chủ yếu các yếu tố nhẹ hơn số lƣợng các nguyên tử, sinh
quyển đƣợc cấu tạo từ 90% Hiđrô, oxy, cacbon và nitơ, bốn nguyên tố này đƣợc
tìm thấy ở trong tất cả các sinh vật sống trên Trái Đất.
Khí quyển
Khí quyển là lớp vỏ ngoài của Trái Đất, với ranh giới dƣới là bề mặt thủy
quyển, thạch quyển và ranh giới trên là khoảng không giữa các hành tinh. Khí
quyển trên Trái Đất đƣợc hình thành do sự thoát hơi nƣớc, các chất khí từ khí
quyển và thạch quyển. Khí quyển chr yếu gồm hơi nƣớc, amoniac, meetan, các
loại khí trơ, hidro. Dƣới tác dụng phân hủy của tia sáng mặt trời hơi nƣớc bị
phân hủy thành oxy và hidro. Oxy tác dụng với amoniac và mêtan tạo ra nitơ và
cacbonic. Quá trình tiếp diễn, một lƣợng hidro nhẹ mất vào khoảng không, khí
quyển còn lại chủ yếu là hơi nƣớc, nitơ, cacbonic và một ít oxy. Thực vật xuất

nguyên nhân gây thủng tầng ôzôn, biến đổi khí hậu ảnh hƣởng nghiêm trọng đến
cuộc sống, sức khỏe ngƣời dân. Do vậy để khắc phục tình trạng này ta phải đi
tìm nguyên nhân sinh ra kết quả, nguyên nhân chính ở đây là do sự gia tăng của
các phƣơng tiện xe cơ giới, khí thải của các nhà máy, khu công nghiệp, hoạt
động nông nghiệp, đặc biệt là Trung Quốc và Mĩ, 2 nƣớc đƣợc xem là đã thải
nhiều khí thải nhất trên thế giới. Nhƣ vậy xuất phát từ việc tìm hiểu nguyên
nhân ta có thể đƣa ra các biện pháp nhƣ: giảm thiểu các phƣơng tiện tham gia
giao thông, khuyến khích ngƣời dân sử dụng các phƣơng tiện công cộng, các
nhà máy phải đầu tƣ công nghệ tiên tiến, yêu cầu các nƣớc phải kí cam kết cắt
giảm lƣợng khí thải, nhất là các nƣớc phát triển, trồng cây xanh…

15


Nhƣ vậy bằng việc đi tìm nguyên nhân của tình trạng trên ta sẽ đề ra đƣợc
biện pháp nhƣ: bắt các nhà máy phải kí cam kết đầu tƣ hệ thống xử lí nƣớc thải,
hoàn thiên hệ thống pháp luật, xử lí nghiêm minh các trƣờng hợp vi phạm…
Tóm lại, để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trƣờng sinh thái trƣớc hết
phải bắt đầu từ việc đi tìm nguyên nhân, hiểu đƣợc nguyên nhân, từ đó mới có
thể đề ra đƣợc những biện pháp mang lại kết quả tốt.
1.3.2. Thực hiện có hiệu quả đồng thời các biện pháp để bảo vệ môi
trường sinh thái trên cơ sở khắc phục tất cả những nguyên nhân sinh ra thực
trạng của môi trường
Vì một kết quả có thể được sinh ra bởi rất nhiều những nguyên nhân khác
nhau, có thể tác động cùng lúc hay riêng lẻ nên khi xem xét giải quyết vấn đề
cần tìm đầy đủ những nguyên nhân gây ra kết quả, xác định nguyên nhân trực
tiếp, nguyên nhân gián tiếp để kịp thời đưa ra biện pháp.
Việc tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trƣờng sinh thái có ý
nghĩa vô cùng quan trọng, bởi khi phát hiện ra đƣợc nguyên nhân, trên cơ sở đó
sẽ có cách thức, biện pháp tác động để khắc phục đƣợc hậu quả.

Có thể thấy hiện nay việc đẩy mạnh tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nƣớc là một xu thế tất yếu nhằm xây dựng cơ sở vật chất- kĩ thuật của
chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện phát triển lực lƣợng sản xuất, tăng năng suất lao
động xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao chất lƣợng đời sống nhân dân, thúc
đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế, tránh nguy cơ tụt hậu. Để tiến hành đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa chúng ta đã tận dụng mọi nguồn lực, biện
pháp tiến hành để phát triển, tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc ta
cũng đang phải đối mặt với không ít những vấn đề tiêu cực nảy sinh nhƣ: Đạo
đức con ngƣời đi xuống, chạy theo lợi nhuân bắt chấp thủ đoạn, một số các giá
trị truyền thống bị phai mờ, đặc biệt trong đó có vấn đề ô nhiễm môi trƣờng sinh
thái. Có thể thấy khí thải của các phƣơng tiện cơ giới cùng với hoạt động của
các khu công nghiệp…gây ra ô nhiễm không khí; chất thải chƣa qua xử lí, hóa
chất… trong các hoạt động sản xuất công nghiệp và nông nghiệp thì gây ra hiện
tƣợng ô nhiễm môi trƣờng đất, nƣớc, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sản xuất,
cuộc sống, sức khỏe con ngƣời.
Vì vậy, biện pháp để khắc phục tình trạng này không phải là dừng việc tiến
hành đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, bởi đây là một việc làm
17


tất yếu cần thiết để đƣa kinh tế đất nƣớc đi lên mà biện pháp cần thức hiện ở đây
đó là việc vẫn tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhƣng
phải đi đôi với công tác bảo vệ môi trƣờng sinh thái thông qua những việc làm
cụ thể nhƣ: Tuyên truyền nâng cao nhận thức ngƣời dân về sự cần thiết phải bảo
vệ môi trƣờng, đầu tƣ xây dựng hệ thống tiên tiến xử lí nƣớc thải và khói bụi
trƣớc khi xả thải, áp dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất, hoàn thiện hệ
thống pháp luật, xử lí nghiêm minh những trƣờng hợp vi phạm về môi trƣờng…
Nhƣ vậy ở đây rõ ràng là chỉ một nguyên nhân nhƣng lại gây ra rất nhiều
những hậu quả khác nhau, nguyên nhân ấy có thể mang lại kết quả tốt cũng có
thể mang lại kết quả xấu tùy vào hoàn cảnh, điều kiện. Do vậy biện pháp cần

Linh đƣợc chia thành 3 tiểu vùng sau:
Tiểu vùng đồng bằng chiếm 47% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, có địa
hình nhấp nhô, lƣợn sóng với độ dốc khoảng 8o, do phù sa cũ của hệ thống Sông
Hồng, Sông Cà Lồ bồi đắp bao gồm các xã Tự Lập, Tiến Thắng, Thanh Lâm,
Đại Thịnh, Kim Hoa, Quang Minh, Mê Linh, Tiền Phong. Thích hợp cho trồng
cây rau màu.
Tiểu vùng ven đê Sông Hồng chiếm 23% diện tích đất tự nhiên của huyện,
có địa hình tƣơng đối bằng phẳng, bao gồm các xã Tiến Thịnh, Chu Phan, Thạch
Đà, Hoàng Kim, Văn Khê, Tráng Việt. Tiểu vùng địa hình này có diện tích đất
đất phù sa giàu hàm lƣợng dinh dƣỡng, đƣợc Sông Hồng bồi đắp hàng năm, do
vậy thích hợp cho phát triển sản xuất nông nghiệp. Với phân bố ven Sông Hồng
một ố xã có thể phát triển du lịch sinh thái nhƣ Chu Phan, Tráng Việt.

19


Tiểu vùng trũng chiếm 30% diện tích đất toàn huyện bao gồm các xã Tam
Đồng, Liên Mạc và một phần còn lại của các xã ven Sông Hồng. Tiểu vùng
trũng là đất bãi ngoài đê phù hợp cho phát triển nông nghiệp kĩ thuật cao.
Hệ thống sông, hồ, kênh và đầm trên địa bàn huyện có tác động lớn về thủy
lợi, ngoài ra chế độ thủy văn của cả huyện phụ thuộc vào chế độ thủy văn của
Sông Hồng.
Huyện Mê Linh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với 4 mùa
trong năm,trong đó có 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 4- tháng 11, mùa lạnh từ
tháng 12- tháng 3.
Nhìn chung khí hậu của huyện tƣơng đối thuận lợi cho phát triển sản xuất
nông nghiệp, tuy nhiên hàng năm do xuất hiện mƣa bão nên rửa trôi đất đất canh
tác vùng phía Bắc, ngập úng cục bộ vùng phía Nam ảnh hƣởng nhiều đến sản
xuất nông nghiệp.
2.1.2. Điều kiện kinh tế- xã hội huyện Mê Linh

với tổng diện tích là 83,49ha. Tuy nhiên cơ sở vật chất còn gặp nhiều khó khăn,
thiếu phòng chức năng ở hầu hết các cấp, trạng thiết bị mới chỉ đáp ứng tối thiểu
nhu cầu giảng dạy đổi mới, đội ngũ giáo viên và các cán bộ quản lí ở các cấp
học đƣợc đào tạo tƣơng đối cơ bản.
Các phong trào xây dựng đời sống văn hoá mới đƣợc triển khai tích cực và
sôi động, đạt kết quả tốt và bƣớc đầu đi vào nề nếp. Các hoạt động văn hoá, thể
dục thể thao đƣợc tổ chức sâu rộng, thiết thực góp phần khơi dậy và phát triển
nhiều nét văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Nhiều cơ sở vật chất đƣợc
xây dựng. Một số lĩnh vực có bƣớc phát triển tốt và chuyển biến rõ nét.
Về phong trào xây dựng nếp sống văn minh gia đình văn hóa. Tính đến nay
toàn huyện có 75% số hộ đạt gia đình văn hóa, 65% số làng đạt lằng văn hóa. Số
Câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ là 52
Các công trình văn hóa: Đến nay toàn huyện có 18 nhà văn hóa, thị trấn, 92
nhà văn hóa thôn, làng, tổ dân số. Song, hầu hết nhà văn hóa chủ yếu là cải tạo,
tận dụng từ hội trƣờng của các xã, thị trấn, các công trình có sẵn của địa phƣơng.
Số câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao là 52, toàn huyện mói có 6/18
xã xây dựng quy hoạch cho các công trình văn hóa – thể dục thể thao. Có 1 thƣ
viện (nằm ở xã Thạch Đà); có 1 nhà truyền thống (nằm ở xã Tiền Phong).

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status