MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dệt may là một trong những ngành có truyền thống phát triển lâu đời tại Việt
Nam, các sản phẩm của ngành đặc biệt là sản phẩm may mặc trực tiếp phục vụ đời
sống dân sinh và hình thành bản sắc văn hóa riêng của người Việt. Đây cũng là một
thu nhập và việc làm của người dân trong toàn xã hội.
Ế
trong những ngành thu hút nhiều lao động, có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề ổn đinh
U
Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, ngành dệt may đã phát huy
́H
nhiều lợi thế trong nước để phát triển trở thành ngành đóng góp vào sự tăng trưởng
TÊ
GDP ấn tượng của Việt Nam trong nhiều năm qua và trở thành một trong những
ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước. Hiện nay, Dệt may là ngành có kim
H
ngạch xuất khẩu lớn nhất của nước ta.
IN
xác định được năng lực cạnh của sản phẩm của mình trên mỗi phân khúc, thị trường đó
là một việc làm hết sức quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Xác định được vị thế,
chỗ đứng của mình là một trong những yếu tố quyết định thành công của doanh nghiệp.
1
Có thể nói thị trường nội địa là "sân nhà" của các doanh nghiệp Việt Nam thì
Thừa Thiên Huế nói chung và Thành phố Huế nói riêng là một "sân nhà nhỏ" của
các doanh nghiệp Thừa Thiên Huế. Việc ra chiến lược để thắng ngay trên sân nhà là
một điều quan trọng, nó phát huy được hết lợi thế của doanh nghiệp. Và để có thể
chiếm lĩnh được toàn bộ thị trường trong nước thì các doanh nghiệp cần thiết phải
tìm hiểu, nghiên cứu để làm sao chiếm lĩnh dần từng thị trường nhỏ một.
Đối với Công ty Cổ phần Dệt may Huế nói riêng, trong những năm qua,
Ế
công ty đã có những thành công đáng kể trong hoạt động xuất khẩu các mặt hàng
U
may mặc, được đánh giá là doanh nghiệp dẫn đầu trong thời kỳ kinh tế suy thoái.
́H
Song đối với việc chiếm lĩnh thị trường nội địa của công ty còn gặp nhiều khó khăn,
cần thiết phải có những định hướng cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế của công
TÊ
A
trong nền kinh tế thị trường.
- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng khả năng cạnh tranh sản phẩm Công
ty Cổ phần Dệt may Huế trong những năm qua.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
sản phẩm của Công ty Cổ phần Dệt may Huế trong những năm tới.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề, hiện tượng liên quan đến cạnh tranh
và khả năng cạnh tranh sản phẩm may mặc của Công ty Cổ phần Dệt may Huế trên
ba đối tượng chủ yếu đó là: công ty, khách hàng và đối thủ cạnh tranh.
2
4. Phạm vi và nội dung nghiên cứu
4.1. Về không gian
Đề tài nghiên cứu khả năng cạnh tranh sản phẩm may mặc của Công ty Cổ
phần Dệt may Huế, trên cơ sở điều tra khảo sát ý kiến khách hàng tiêu thụ sản phẩm
may mặc tại Thành phố (Tp) Huế thuộc địa bàn Tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.2. Về thời gian
Đề tài được thực hiện trên cơ sở tổng hợp và phân tích số liệu phản ánh tình
Ế
hình hoạt động của công ty trong giai đoạn từ năm 2008 - 2010 và các số liệu sơ cấp
U
̣I H
năng cạnh tranh sản phẩm may mặc của công ty trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đ
A
Để tiến hành nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định
tính kết hợp với phương pháp định lượng để đo lường những đánh giá của khách
hàng đối với sản phẩm của Công ty Cổ phần Dệt may Huế. Đồng thời xem xét đến
đánh giá của cán bộ công nhân viên (CBCNV) trong công ty về các yếu tố nội bộ
ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh như thế nào.
5.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Các số liệu và thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh nói
chung và năng lực cạnh tranh của công ty được thu thập từ nguồn thứ cấp và sơ cấp.
- Nguồn số liệu thứ cấp: Thu thập từ sách, báo, tạp chí, các quyết định của
3
Chính Phủ, các trang tin điện tử, và các tài liệu do công ty cung cấp có liên quan
đến đề tài như: báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết, báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh, kế hoạch phát triển công ty từ năm 2010 – 2015 v.v...
- Nguồn số liệu sơ cấp: Để tiến hành phân tích đánh giá giá trị khách hàng về
tiêu thụ sản phẩm dệt may trên thị trường, đề tài sử dụng nguồn số liệu sơ cấp được
thu thập bằng bảng hỏi đối với khách hàng tại các địa bàn nghiên cứu được thực
hiện từ tháng 01/2011 đến tháng 6/2011.
ứng mục tiêu nghiên cứu đề ra.
O
̣C
6. Kết cấu của đề tài
̣I H
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề về lý luận và và thực tiễn về năng lực cạnh tranh
Đ
A
Chương 2. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc của
Công ty Cổ phần Dệt may Huế trên thị trường Thành phố Huế.
Chương 3. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc
của Công ty Cổ phần Dệt may Huế.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH
1.1. TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
Các học thuyết kinh tế thị trường, dù ở trường phái nào cũng đều thừa nhận
quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia. Việc nghiên cứu hiện tượng
̣C
cạnh tranh đã từ rất sớm với các các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh
O
cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại, có thể viện
̣I H
dẫn ra một số những quan niệm về cạnh tranh như sau:
Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các
Đ
A
nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng
hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” [17].
Cuốn từ điển rút gọn về kinh doanh đã định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh
đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại
tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”[42].
Theo cuốn Từ điển bách khoa của Việt Nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh
doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương
nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung –
cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất” [32].
5
K
trong nền kinh tế thị trường.
IN
-
H
điều kiện kinh tế thị trường hiện nay như sau:
Cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực. Cạnh
̣C
tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn
O
trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của
̣I H
mình. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến sự giành giật, khống chế lẫn
nhau… tạo nguy cơ gây rối loạn và thậm chí đổ vỡ lớn. Để phát huy được mặt tích cực
Đ
A
́H
thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa để tối đa hóa lợi nhuận.
TÊ
1.1.2. Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng và
H
trong lĩnh vực kinh tế nói chung. Cạnh tranh không những có mặt tác động tích cực
IN
mà còn có những tác động tiêu cực. Về mặt tích cực:
Ở tầm vĩ mô, cạnh tranh mang lại: Động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp
K
phần vào sự phát triển kinh tế, giúp đất nước hội nhập kinh tế toàn cầu tốt hơn.
̣C
Ở tầm vi mô, đối với 1 doanh nghiệp cạnh tranh được xem như công cụ hữu
O
Ế
những năm 1980 đến nay. Theo kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về năng
U
lực cạnh tranh của các nhà kinh tế người Anh là Buckley, Pass và Precott, đến năm
́H
1988 có rất ít định nghĩa về năng lực cạnh tranh được chấp nhận.
Còn M. E. Porter một chuyên gia hàng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh
TÊ
lại chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách
đúng đắn, đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận một cách thống
H
nhất. Cho đến năm 2004, Henricsson và các cộng sự chỉ rõ rằng khái niệm năng lực
IN
cạnh tranh vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh
K
tế, các nhà báo và các học giả ở nhiều nước.
8
tiếp cận này dẫn tới những sai lầm cố hữu do chưa chú trọng đúng mức đến sự khác
biệt về chất lượng sản phẩm, cách tiếp thị và những dịch vụ hậu mãi của doanh
nghiệp. Để khắc phục hạn chế của cách tiếp cận thương mại truyền thống, cần kết
hợp mặt cung với mặt cầu hàng hóa, dịch vụ khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh
doanh nghiệp.
-
Lý thuyết tổ chức công nghiệp nghiên cứu năng lực cạnh tranh trên cơ sở xác
định thông số tác động tới các hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp, nhấn mạnh tới
Ế
mặt cầu của hàng hóa, dịch vụ, coi trọng yếu tố ngoài giá hơn yếu tố giá cả. Tuy
U
nhiên, cách tiếp cận này không chú trọng đúng mức tới lý luận về năng lực cạnh
́H
tranh, chưa chú ý tới các yếu tố tác động năng lực cạnh tranh như vai trò của Nhà
-
TÊ
Năng lực cạnh tranh hoạt động là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh tranh
Đ
A
chú trọng vào những chỉ tiêu cơ bản gắn với hoạt động kinh doanh trên thực tế như: thị
phần, năng suất lao động, giá cả, chi phí v.v… Theo những chỉ tiêu này, doanh nghiệp
có năng lực cạnh tranh cao là những doanh nghiệp có các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh
hiệu quả như năng suất lao động cao, thị phần lớn, chi phí sản xuất thấp…
Năng lực cạnh tranh dựa trên tài sản là xu hướng nghiên cứu nguồn hình
thành năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các nguồn lực như nhân lực, công
nghệ, lao động. Theo đó, các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những
doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực hiệu quả như nguồn nhân lực, lao động, công
nghệ, đồng thời có lợi thế hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực này.
9
Năng lực cạnh tranh theo quá trình là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh
tranh như các quá trình duy trì và phát triển năng lực năng lực cạnh tranh. Các quá
trình bao gồm: quản lý chiến lược, sử dụng nguồn nhân lực, các quá trình tác nghiệp
(sản xuất, chất lượng…).
Theo thống kê trong nghiên cứu của Momaya và các cộng sự 2005 thì
hướng nghiên cứu coi năng lực cạnh tranh như quá trình duy trì và phát triển năng
lực cạnh tranh được nhiều nhà nghiên cứu chú trọng và phát triển nhất cho đến nay.
Ế
Như vậy, cho đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp trên thế
̣C
Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng
̣I H
lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào
đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và
Đ
A
hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”
Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa được hiểu một
cách thống nhất. Theo Buckley (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần
được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị
chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp
các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình.
Điểm lại các tài liệu trong và ngoài nước, có nhiều cách quan niệm về năng
lực cạnh tranh doanh nghiệp. Dưới đây là một số cách quan niệm về năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp đáng chú ý.
10
Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến
hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với
các đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp.
K
quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc
tế. Theo M. Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực
̣C
cạnh tranh. Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu
O
và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
̣I H
Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh
tranh. Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của
Đ
A
doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế
cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự:
“Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả
năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần
lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”.
Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
với năng lực kinh doanh.
Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu
thống nhất. Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù
IN
H
Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành
giữa các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản
K
xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa, mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của
̣C
sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới.
O
Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức
̣I H
cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và các phương
thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh,
Đ
A
dựa vào quy chế.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là
công nghệ, dịch vụ sau bán hàng…, so với sản phẩm cùng loại mà đối thủ khác
TÊ
cung cấp trên thị trường, chứ không quan tâm đến việc nó có vượt trội hơn so với
mọi sản phẩm hay không.
H
Một số tác giả khác lại cho rằng: năng lực cạnh tranh của sản phẩm chính là
IN
năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm do chủ thể sản xuất và cung
K
ứng nào đó đem ra để tiêu thụ so với sản phẩm cùng loại của các chủ thể sản xuất, cung
ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường và thời gian nhất định [24].
O
̣C
Như vậy mặc dù chưa thống nhất khái niệm, song có thể hiểu rằng, năng lực
̣I H
cạnh tranh của sản phẩm được cấu thành bởi nhiều yếu tố, nhưng có những yếu tố
chính như: khả năng sử dụng thay thế cho công dụng kinh tế của một loại sản phẩm
doanh nghiệp. Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đang sử dụng các chỉ tiêu thuộc 5
́H
nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp trong việc xác định năng lực cạnh tranh gồm:
năng lực quản lý (triết lý kinh doanh, sự tin tưởng vào quản lý nghiệp vụ, sự hiện
TÊ
diện chuỗi giá trị), chất lượng nhân lực (mở rộng đào tạo nhân viên), năng lực
marketing (định hướng khách hàng, đổi mới mẫu mã, tăng cường tiếp thị, mở rộng
H
thị trường quốc tế, kiểm soát hoạt động phân phối ở nước ngoài, mở rộng mạng lưới
IN
bán lẻ), khả năng đổi mới, năng lực nghiên cứu và phát triển (chỉ tiêu cho nghiên
K
cứu và phát triển).
Theo cách tiếp cận truyền thống, các yếu tố bên trong của doanh nghiệp ảnh
O
̣C
cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận.
Việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng tinh, gọn, nhẹ và
hiệu quả cao có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quả quản lý cao, ra
quyết định nhanh chóng, chính xác, mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý của
Ế
doanh nghiệp. Nhờ đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
U
- Trình độ, năng lực quản lý của doanh nghiệp còn thể hiện trong việc hoạch
́H
định chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp… Điều này có ý
nghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngắn hạn
TÊ
và dài hạn và do đó có tác động mạnh tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
H
b. Trình độ thiết bị, công nghệ
IN
Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến
15
động, nâng cao tay nghề của người lao động dưới nhiều hình thức, đầu tư kinh phí
thỏa đáng, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản lý, sáng chế,
cải tiến…
d. Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả năng
huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính… trong doanh
nghiệp. Trước hết, năng lực tài chính gắn với vốn – là một yếu tố sản xuất cơ bản và
Ế
là một đầu vào của doanh nghiệp. Do đó, sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốn
U
nhanh… có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phí vốn, giảm giá thành sản
́H
phẩm. Đồng thời, vốn còn là tiền đề đối với các yếu tố sản xuất khác.
Việc huy động vốn kịp thời nhằm đáp ứng vật tư, nguyên liệu, thuê nhân
TÊ
công, mua sắm thiết bị, công nghệ, tổ chức hệ thống bán lẻ… Như vậy, năng lực tài
chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên, bắt buộc
hoạt động marketing. Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần
tiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp. Đây là nhóm nhân tố rất quan
trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển, văn minh tiêu dùng ngày càng
cao, thì người tiêu dùng càng hướng tới tiêu dùng những hàng hóa có thương hiệu
uy tín. Vì vậy, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm là một tất yếu đối với những
doanh nghiệp muốn tồn tại trên thị trường.
16
Mặt khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều khâu như
tiêu thụ, khuyến mãi, nghiên cứu thị trường… do đó dịch vụ bán hàng và sau bán
hàng đóng vai trò quan trọng đối với doanh số tiêu thụ - vấn đề sống còn của mỗi
doanh nghiệp.
f. Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp
Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp là yếu tố tổng hợp gồm
nhiều yếu tố cấu thành như nhân lực nghiên cứu, thiết bị, tài chính cho hoạt động
Ế
nghiên cứu và phát triển (R&D), khả năng đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp.
U
Năng lực nghiên cứu và phát triển có vai trò quan trọng trong cải tiến công nghệ,
́H
môi trường độc quyền.
Đ
A
Vị thế của doanh nghiệp được thể hiện qua thị phần sản phẩm, uy tín thương
hiệu sản phẩm đối với người tiêu dùng và sự hoàn hảo của các dịch vụ.
Ngoài ra, một số yếu tố khác nhau như lợi thế về vị trí địa lý, ngành nghề
kinh doanh của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp… có ảnh hưởng tới năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.6.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Có rất nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) dựa trên mô hình Kim cương của M.Porter
để đưa ra các yếu tố bên ngoài tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
17
dưới tiêu đề môi trường kinh doanh của doanh nghiệp” với 56 chỉ tiêu cụ thể (các
chỉ tiêu này được lượng hóa để xếp hạng cho các quốc gia) thuộc 4 nhóm yếu tố
như sau: các điều kiện yếu tố đầu vào (kết cấu hạ tầng vật chất – kỹ thuật; hạ tầng
hành chính, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, thị trường tài chính); các điều kiện
về cầu (sở thích của người mua, tình hình pháp luật về tiêu dùng, về công nghệ
thông tin…); các ngành cung ứng và ngành liên quan (trình độ phát triển của các
ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ, liên quan); bối cảnh đối với chiến lược và cạnh
Ế
tranh của doanh nghiệp (động lực và cạnh tranh: các rào cản vô hình, sự cạnh tranh
̣C
định của thị trường có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp
̣I H
nói chung và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng. Để phát huy vai
trò của các yếu tố thị trường đối với doanh nghiệp, cần có sự can thiệp của nhà nước
Đ
A
vào thị trường nhằm ổn định thị trường, thông qua việc xây dựng và thực hiện tốt,
nghiêm pháp luật thương mại, tạo lập môi trường thị trường cạnh tranh tích cực và
hiệu quả, chống gian lận thương mại, hạn chế độc quyền kinh doanh,…
Điều quan trọng là tạo lập môi trường thị trường cạnh tranh tích cực, tăng
sức ép đổi mới quản lý, cải tiến quy trình sản xuất, ứng dụng thành tựu khoa học –
công nghệ, đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm,… tạo động lực cho doanh nghiệp để
vươn lên.
Trong điều kiện thị trường lành mạnh và ổn định thì doanh nghiệp mới có
điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Ngoài ra, cần tạo
18
điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị trường, tạo ra nhiều nhà cung cấp cũng như
nhiều đối tác kinh doanh, nhiều khách hàng cho doanh nghiệp.
b. Thể chế, chính sách
Thể chế, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp.
K
Kết cấu hạ tầng bao gồm hạ tầng vật chất – kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bao gồm
hệ thống giao thông, mạng lưới điện, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục – đào tạo…
O
̣C
Đây là tiền đề quan trọng, tác động mạnh đến hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng
̣I H
đến chất lượng và giá cả của sản phẩm. Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã sử dụng tới
tiêu chí phản ánh kết cấu hạ tầng trong tổng số 56 tiêu chí đánh giá về môi trường kinh
Đ
A
doanh được sử dụng để tính năng lực cạnh tranh quốc gia.
Để bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và nâng cao năng lực
cạnh tranh, cần có hệ thống kết cấu hạ tầng đa dạng, có chất lượng tốt. Điều đó đòi
hỏi có sự đầu tư đúng mức để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
d. Các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ
Hoạt động sản xuất kinh doanh với mỗi doanh nghiệp sẽ liên quan tới một
chuỗi các ngành khác và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như: những ngành cung cấp
nguyên liệu đầu vào, dịch vụ vận tải, cung cấp điện, cung cấp nước… Nếu sử dụng
các dịch vụ với chi phí thấp, chất lượng phục vụ tốt sẽ tạo ra lợi thế cho doanh
1.1.7. Các mô hình và phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
IN
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực
K
của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ
được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị
̣C
doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh
O
tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Trên cơ sở các
̣I H
so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập
được lợi thế so sánh với đối thủ của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể
Đ
A
thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách
hàng của đối thủ cạnh tranh.
một giải pháp mang tính khả thi cao. Sau đây, xin giới thiệu một số các mô hình:
TÊ
Mô hình “Kim cương”, một lý thuyết về cạnh tranh nổi tiếng của M. Porter,
được ông nêu trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (1990), đã nêu lên các yếu
H
tố quyết định sự cạnh tranh của một quốc gia trong thương mại quốc tế. Theo ông, khả
IN
năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự
năng động của ngành, của quốc gia đó. Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu
K
hoá thì nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh
̣C
mà tự nhiên ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị
O
thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế.
̣I H
quan điểm, triết lý kinh doanh của chủ sở hữu, quản trị viên, các nhân viên trong
doanh nghiệp,… đều có thể “cộng hưởng” thúc đẩy các doanh nghiệp trong một
TÊ
ngành phải hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới nhanh
hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Vai trò của Nhà nước là thông qua
H
các chính sách vĩ mô tác động vào cả bốn “mặt” của “viên kim cương” sao cho
IN
chúng cùng phát triển tương xứng, đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau tạo thuận lợi cho các
1.1.7.2. Ma trận SWOT
K
doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc tế
O
̣C
SWOT là viết tắt của 4 chữ: Strength - điểm mạnh, Weaknesses - điểm yếu,
Bảng 1.1: Ma trận SWOT
chiến lược sau để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình:
TÊ
- Các chiến lược điểm mạnh – cơ hội (S – O): Sử dụng những điểm mạnh
bên trong để tận dụng cơ hội bên ngoài.
IN
trong để tận dụng cơ hội bên ngoài.
H
- Các chiến lược điểm yếu – cơ hội (W – O): Cải thiện những điểm yếu bên
- Các chiến lược điểm mạnh – đe dọa (S – T): Sử dụng các điểm mạnh để
K
tránh khỏi hay giảm bớt ảnh hưởng của mối đe dọa bên ngoài.
̣C
- Các chiến lược điểm yếu – nguy cơ (W – T): Cải thiện điểm yếu bên
O
trong để tránh hay giảm bớt ảnh hưởng của mối đe dọa bên ngoài.
Thị phần
0,05
2
Tăng trưởng thị phần và lợi nhuận
0,1
3
Vị thế tài chính
0,1
4
Quản lý và lãnh đạo
0,1
5
Chất lượng và giá cả
0,1
6
Ế
1
U
0,05
TÊ
́H
0,05
0,05
0,1
0,1
H
Để có được năng lực cạnh tranh bền vững, các doanh nghiệp cần phát triển
IN
hài hòa các năng lực quan trọng như: năng lực tài chính, năng lực quản trị, năng lực
của nguồn nhân lực, đặc biệt nhấn mạnh năng lực công nghệ, bởi lẽ nhìn từ góc độ
K
của nền kinh tế tri thức thì năng lực công nghệ đóng vai trò quan trọng nhất và
Tính riêng trong năm 2009, trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu, kim ngạch
xuất khẩu giảm hơn 10%, FDI giảm hơn 70% nhưng mức bán lẻ trong nước vẫn
tăng lên 18,6% so với năm 2008 và đưa tổng mức bán lẻ và doanh thu hàng hóa
dịch vụ chiếm 77% tổng GDP của cả nước.
- Góp phần đẩy mạnh sản xuất, giải quyết việc làm, đảm bảo an ninh xã hội
Thị trường nội địa trên 89 triệu dân, trong đó 60% dân số trẻ trong độ tuổi
dưới 35 và 72% dân số sống ở vùng nông thôn, thị trường tiêu dùng nội địa Việt
Ế
Nam là giá đỡ thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, qua đó giải quyết hàng chục
U
triệu công ăn việc làm cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội.
xuất khẩu gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ
́H
- Hỗ trợ đắc lực tạo nguồn hàng cho xuất khẩu và là chỗ dựa vững chắc khi
TÊ
Thị trường nội địa Việt Nam lớn mạnh sẽ là tiền đề để hàng hóa Việt nam
vươn ra thị trường thế giới. Bên cạnh đó, trong trường hợp bối cảnh kinh tế toàn cầu
H
suy giảm hay thị trường bên ngoài có nhiều biến động bất lợi ảnh hưởng đến xuất
Tiềm năng về nhu cầu tiêu dùng, tiềm năng về nguồn lao động.
- Thu nhập người dân ngày càng tăng nhanh: GDP của Việt Nam liên tục
tăng trong những năm vừa qua. Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình
quân trên đầu người của nước ta ngày càng được cải thiện (năm 2009:
25