Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

CAO XUÂN QUẢNG

PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN BẰNG THƢ TÍN DỤNG Ở
VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ :

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. LÊ THỊ THU THỦY

HÀ NỘI - NĂM 2007


MỤC LỤC.
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt.
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THANH TOÁN BẰNG THƢ TÍN DỤNG TRONG BỐI
CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.
I.1
I.1.1
I.1.2
I.1.3
I.1.4
I.2
I.3

Pháp luật về thanh toán bằng L/C – cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh các quan hệ thanh
toán bằng L/C.
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và những yêu cầu đặt ra đối với quá
trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam.

Chương II : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN BẰNG THƢ TÍN DỤNG Ở
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIÊN NAY.
Các quy định quốc tế điều chỉnh quan hệ thanh toán bằng L/C.
Các UCP.
eUCP và ISBP – các phụ bản của UCP.
Các văn bản pháp lý điều chỉnh quan hệ thanh toán bằng L/C ở Việt Nam.
Các dạng tranh chấp phổ biến phát sinh từ hoạt động thanh toán bằng L/C và giải quyết
tranh chấp.
II.3.1 Các tranh chấp liên quan đến chứng từ xuất trình.
II.3.2 Tranh chấp phát sinh do cách hiểu không đúng về điều kiện phi chứng từ.
II.3.3 Các tranh chấp liên quan tới trách nhiệm của các bên tham gia vào phương thức tín dụng
chứng từ.
II.1
II.1.1
II.1.2
II.2
II.3


II.4

Các vấn đề đặt ra từ việc áp dụng pháp luật về thanh toán bằng L/C ở Việt Nam.

Chương III : HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN BẰNG TÍN DỤNG THƢ.
III.1

for Electronic presentation
The

International

Practice

(for

Documentary

Standard

the

Baniking

Examination

under

of

Documentary

ISBP

Credits)

ICC

thuộc về những người hiểu rõ luật chơi. Vì vậy, nắm được luật chơi chung là yêu cầu rất bức
thiết.
Hiện nay, chúng ta chủ trương mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, đã và đang tích cực tham
gia, gia nhập những tổ chức thương mại lớn (một trong những thành quả lớn nhất và mới nhất là
việc chúng ta vừa trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO trong năm
2006). Vì vậy, việc nắm rõ về phương thức thanh toán bằng thư tín dụng, đặc biệt trong thương
mại quốc tế là rất cần thiết, tránh những thiệt hại, yếu thế không đáng có.
Đã hơn 20 năm bước vào thời kỳ đổi mới, 15 năm bước vào kinh tế thị trường với rất
nhiều cơ hội tham gia các quan hệ thương mại quốc tế nhưng thực thế các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu của chúng ta vẫn chưa thực sự hiểu biết và vận dụng hiệu quả phương thức thanh toán
bằng thư tín dụng – một trong những phương thức thanh toán quan trọng của thương mại quốc
tế.
Hiện nay, các quy định về thanh toán bằng L/C ở Việt Nam là rất thiếu và yếu, cần được
nghiên cứu, phân tích để tìm nguyên nhân và các giải pháp hoàn thiện.
Liên quan đến việc nghiên cứu các quy định pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng,
thực tế đã có một số bài báo, báo cáo khoa học và một số nghiên cứu, giáo trình, sách…như :
Một số giáo trình của trường Đại học Ngoại thương Hà Nội1 , của các tác giả đã hoặc đang làm
Trọng tài viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam 2 , ngoài ra còn một số bài báo, tài liệu
của những người đang làm các công tác liên quan tại các Ngân hàng…Dù vậy, chưa có nhiều
công trình đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ và hoàn chỉnh cả về cơ sở lý luận và thực tiễn cho
các quy định này.
Với những lý do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài “ Pháp luật về thanh toán bằng thư tín
dụng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm luận văn tốt nghiệp cao học.
II.

Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về thanh toán bằng L/C,
đồng thời xem xét đánh giá thực trạng các quy định hiện nay ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng
các quy định này, tôi mong muốn làm sáng tỏ cơ sở lý luận, bản chất của các quy định về thanh


IV.
-

Đối tượng nghiên cứu : Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các quy định hiện
hành đang được sử dụng để điều chỉnh các phương thức thanh toán trong thương mại
quốc tế ở Việt Nam, trong đó chủ yếu là thư tín dụng. Đồng thời cũng nghiên cứu giá
trị thực tiễn của các quy định này.

-

Phạm vi nghiên cứu : Đề tài chỉ đi vào nghiên cứu các khía cạnh pháp lý của vấn đề
mà không đi sâu vào khía cạnh kinh tế hay các khía cạnh có tính nghiệp vụ.
Phƣơng pháp nghiên cứu

V.

Để thực hiện đề tài nay, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm
làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Đóng góp của việc nghiên cứu đề tài

VI.
-

Làm sáng tỏ bản chất và quy trình thực hiện của thư tín dụng, giúp các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu hiểu rõ giá trị và quy trình thực hiện của thư tín dụng.

-


người chuyển từ vượn sang người. Khi con người bắt đầu biết sử dụng công cụ lao động là chính
thức bước từ giai đoạn thụ động sử dụng các sản phẩm thiên nhiên mà đã chính thức khai thác
thiên nhiên một cách chủ động. Có lửa, con người bước từ ăn sống nuốt tươi sang giai đoạn ăn
chín...Và khi sản phẩm dư thừa, nhu cầu trao đổi xuất hiện, dẫn đến sự ra đời của thương mại. Có
thể nói, việc xuất hiện hoạt động thương mại đánh dấu một bước phát triển lớn trong tiến trình
lịch sử loài người.
Thương mại quốc tế gần như là xuất hiện và phát triển cùng với sự xuất hiện và phát triển
của “loài người” theo đúng nghĩa. Và như là một quá trình tất yếu, trong sự phát triển của thương
mại, con người dần dần đúc kết, xây dựng những quy tắc, tập quán, tục lệ để hoạt động này ngày
càng hoàn thiện hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của loài người.
Cùng với những thuận lợi có thể mang lại, các hoạt động thương mại quốc tế cũng chứa
đựng những rủi ro. Khả năng xảy ra rủi ro là có với cả người mua và người bán, đặc biệt là trong
những giai đoạn như vận chuyển, thanh toán...Thư tín dụng ra đời chính từ nhu cầu hạn chế
những rủi ro phát sinh trong thực tiễn . Những rủi ro này thường xảy ra khi hai bên tham gia giao
dịch ở cách xa nhau về mặt địa lý, thiếu thông tin về đối tác, và hàng hoá phải vận chuyển qua
những phương tiện chuyên chở đường dài có nhiều rủi ro như tàu biển, máy bay hay tàu hoả.
Thực tế cho thấy, mặc dù đôi khi người bán không thể đánh giá hết khả năng thanh toán của
người mua qua các thông tin mình có, hay người mua có thể phải thanh toán khi không có một
đảm bảo nào với việc hàng được xuất đi, cũng như có phù hợp với yêu cầu không, họ vẫn có nhu
cầu tham gia giao dịch. Như vậy, không thể vì những rủi ro có thể xảy ra mà không tiến hành các
hoạt động thương mại, vấn đề là phải nghĩ ra các công cụ, phương tiện, biện pháp để hạn chế nó.
Mặt khác, một lý do dẫn đến sự ra đời của thư tín dụng là nhu cầu được thanh toán nhanh
chóng của người bán. Hầu hết các hoạt động thương mại quốc tế đều được thực hiện với những
khoảng cách rất xa, chính điều này mang lại nhiều khó khăn cho vận chuyển và thanh toán.
Chẳng hạn, một tầu hàng từ Việt Nam sang đến Hoa Kỳ hay Braxin bằng đường biển có thể mất
nhiều tháng và phải qua rất nhiều quốc gia, bến cảng... Trong trường hợp này phương thức thanh


toán cổ điển “giao hàng - trả tiền”: thường khiến cho cả người bán lẫn người mua không chủ
động được về mặt vốn cũng như điều hành kinh doanh. Để bán một tầu hàng, có khi người bán

chương II). Theo đó, UCP 500 đã đưa ra một định nghĩa như sau:
Những thuật ngữ “tín dụng chứng từ” và “thư tín dụng dự phòng” (dưới đây gọi chung là
Tín dụng) có nghĩa là bất cứ một một thoả thuận nào, dù cho được gọi hoặc mô tả như thế nào,
theo đó một Ngân hàng (Ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và chỉ thị của một khách
hàng (người yêu cầu phát hành tín dụng) hoặc nhân danh chính mình:
- phải tiến hành việc trả tiền hoặc trả tiền theo lệnh của một người thứ ba (Người thụ
hưởng lợi) hoặc phải chấp nhận và trả tiền các hối phiếu do người thụ hưởng lợi ký phát,
hoặc
- phải uỷ quyền cho một ngân hàng khác tiến hành thanh toán như thế hoặc chấp nhận và
trả tiền các hối phiếu như thế


hoặc
- uỷ quyền cho một ngân hàng khác chiết khấu
khi (các) chứng từ quy định được xuất trình với điều kiện là các điều kiện của Tín dụng được
thực hiện đúng”
Theo quy định tại Điều 16 của Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 03
năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế hoạt động
thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (“ quyết định 226” )thì :
“Thư tín dụng là một văn bản cam kết có điều kiện được Ngân hàng mở theo yêu cầu của
người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng), theo đó, Ngân hàng thực hiện yêu
cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng) để :
- Trả tiền hoặc ủy quyền cho Ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh của người thụ
hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện của thư tíndụng; hoặc
- Chấp nhận sẽ trả tiền hoặc ủy quyền cho Ngân hàng khác trả tiền theo lệnh của người
thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù
hợp với các điều kiện thanh toán của thư tín dụng”.
Như vậy, nếu theo quy định trên, về phạm vi, thư tín dụng được dùng để thanh toán giữa
người mua và người bán cả trong quan hệ thương mại trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên,
trong thực tế ở Việt Nam, thư tín dụng chủ yếu được dùng trong các quan hệ thương mại quốc tế

dụng thực hiện theo các quy tắc chung về tín dụng chứng từ do Phòng Thương mại quốc tế ICC
ban hành, do các bên tham gia thanh toán thỏa thuận áp dụng và theo quy định hiện hành của
pháp luật Việt Nam”.
Như vậy, bằng quy định này, Ngân hàng nhà nước đã thừa nhận một cách chính thức định
nghĩa cũng như các vấn đề liên quan khác theo như tập quán thương mại quốc tế được thừa nhận
rộng rãi (quy định trong các UCP).
Do đó, từ những phân tích nêu trên, trong luận văn này, thuật ngữ “thư tín dụng” sẽ được
hiểu đầy đủ và trọn vẹn theo định nghĩa về “thư tín dụng” được quy định trong các UCP do
Phòng Thương mại quốc tế (ICC) soạn thảo và ấn hành.
Các nội dung cơ bản 3 của một Thư tín dụng bao gồm :

3

-

Tên ngân hàng thông báo (Advising Bank)

-

Hình thức tín dụng chứng từ, tức L/C (form of documentary credit) (Ví dụ : không hủy
ngang, chuyển nhượng, xác nhận…).

-

Ngày phát hành (Date of issue) hay ngày mở (opening date).

-

Ngày và nơi hết hiệu lực (Date and place of expiry).


hiện không trễ hơn…(shipment must effected not later than….)

-

Mô tả hàng hóa (Description of goods) : các chứng từ cần xuất trình theo yêu cầu
(Documents required);

-

Thời hạn xuất trình chứng từ (Period of Presentation) hay việc xuất trình các chứng từ
phải được thực hiện trong vòng…..ngày sau khi vận đơn (presentation of documents
should be made within….days after B/L date).

Các nội dung nêu trên sẽ được làm rõ ở các phần sau của luận văn này.
I.1.3

Vai trò của thư tín dụng

Trong việc thanh toán tiền hàng xuất nhập khẩu, có nhiều phương thức tồn tại, đó là :
-

Phương thức ghi sổ (Open account).

-

Phương thức chuyển ngân (Remittance); hoặc bằng điện TT (Telegraphic Transfer)

-

Phương thức nhờ thu ngân chứng từ (Doccumentary collection : Encaisement




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status