ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------
NGUYỄN TÙNG DƯƠNG
“ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TIN HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP TOÀN ĐẠC
ĐIỆN TỬ TRONG THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH TỜ SỐ 102 TỶ LỆ
1:1000 XÃ NGHINH TƯỜNG, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên
: Quản lý đất đai
ngành
Khoa
: Quản lý Tài nguyên
Khóa
: 2012 – 2016
THÁI NGUYÊN - NĂM 2016
: 2012 – 2016
Giảng viên hướng dẫn
: Tiến sĩ Vũ Thị Quý
THÁI NGUYÊN - NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bài khoá luận này với đề tài “Ứng dụng công nghệ tin
học và phương pháp toàn đạc điện tử trong thành lập bản đồ địa chính tờ số 102 tỷ
lệ 1:1000 xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, bên cạnh sự nỗ lực
của chính bản thân, vận dụng những kiến thức tiếp thu được ở trường, tìm tòi học
hỏi cũng như thu thập thông tin số liệu có liên quan đến đề tài, em luôn nhận được
sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy cô cùng với những lời động viên
khuyến khích từ phía gia đình, bạn bè trong những lúc em gặp khó khăn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa
Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và
hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và rèn luyện tại
trường, đặc biệt trong thời gian vừa qua các thầy giáo, cô giáo khoa Quản lý Tài
nguyên đã tạo điều kiện cho em được trải nghiệm thực tế về công việc và ngành
nghề mà mình đang học tại Công ty Cổ phần Trắc địa địa chính và Xây dựng Thăng
Long.
Nhân đó em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – Tiến sĩ Vũ Thị Quý đã
trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành báo cáo khóa luận này. Em xin
chân thành cảm ơn cô !
Nhân đây em xin gửi lời cảm ơn đến ban Lãnh đạo Công ty Cổ phần Trắc địa
địa chính và Xây dựng Thăng Long, các chú, các anh trong Đội đo đạc xã Nghinh
Tường đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo cho em trong thời gian thực tập tại đây.
Bộ Tài nguyên & Môi trường
Cơ sở dữ liệu
Đường chuyền kinh vĩ 1
Đường chuyền kinh vĩ 2
Quyết định
Thông tư
Thái Nguyên
Uỷ ban nhân dân
Lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc
Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỤC LỤC
8
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá
của mỗi quốc gia. Đất đai là yếu tố duy nhất của sự sống, nếu không có đất sẽ
không có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của con người. Cho nên việc bảo vệ
nguồn tài nguyên đất đai là một vấn đề hết sức quan trọng.
Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
1.2. Mục đích của đề tài
- Mục tiêu chung:
Tìm hiểu, nắm rõ quy trình thành lập bản đồ bằng phương pháp toàn đạc điện
tử, thực tập ứng dụng công nghệ tin học và máy toàn đạc điện tử vào thành lập lưới
khống chế đo vẽ, đo vẽ chi tiết và biên tập một tờ bản đồ địa chính. Lồng ghép việc
hỗ trợ việc quản lý, xây dựng hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính, công tác
quản lý nhà nước của UBND xã, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất.
- Mục tiêu riêng:
Sử dụng thành thạo máy toàn đạc điện tử TOPCON, phần mềm Microstation,
FAMIS vào thành lập tờ bản đồ số 102 và lồng ghép việc hỗ trợ việc quản lý, xây
dựng hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính của xã Nghinh Tường, huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
1.3. Yêu cầu
- Bản đồ địa chính thành lập phải tuân thủ các quy trình, quy phạm hiện hành:
1. Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013;
2. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
3. Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về hồ sơ địa chính;
4. Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất;
10
5. Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về bản đồ địa chính;
Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản của hồ sơ địa chính, mang tính pháp lý
cao phục vụ chặt chẽ quản lý đất đai đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất. Bản
đồ địa chính thường xuyên được cập nhật những thay đổi hợp pháp của pháp luật
đất đai, có thể cập nhật hàng ngày hoặc cập nhật theo định kỳ. Bản đồ địa chính
khác với bản đồ chuyên ngành thông thường ở chỗ bản đồ địa chính có tỷ lệ lớn và
phạm vi rộng khắp mọi nơi trên toàn quốc.
Hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, người ta hướng tới việc xây
dựng bản đồ địa chính đa chức năng . Vì vậy, bản đồ địa chính còn có tính chất của
bản đồ địa chính cơ bản quốc gia.
Bản đồ địa chính được xây dựng trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ ngày càng
hiện đại, nó đảm bảo cung cấp thông tin không gian của đất đai phục vụ công tác
quản lý đất đai như:
- Thống kê đất đai.
- Giao đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp.
- Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và sở hữu nhà ở.
- Xác nhận hiện trạng và theo dõi biến động về quyền sử dụng đất.
- Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cải tạo đất, thiết kế xây dựng các
điểm dân cư, quy hoạch giao thông, thuỷ lợi.
- Lập hồ sơ thu hồi đất khi cần thiết.
- Giải quyết tranh chấp đất đai.
Hiện nay, bản đồ địa chính được thành lập ở hai dạng cơ bản là bản đồ giấy
và bản đồ số địa chính.
12
Bản đồ giấy là loại bản đồ truyền thống, các thông tin được thể hiện toàn bộ
trên giấy nhờ hệ thống ký hiệu và ghi chú. Bản đồ giấy cho ta thông tin rõ ràng, trực
quan, dễ sử dụng.
Bản đồ số địa chính có nội dung thông tin tương tự như bản đồ giấy, xong
-
Yếu tố đường: Đó là các đoạn thẳng, đường thẳng, đường cong nối qua các
điểm thực địa. Đối với đoạn thẳng cần xác định và quản lý toạ độ hai điểm
đầu và cuối, từ toạ độ có thể tính ra chiều dài và phương vị của đoạn thẳng.
Đối với đường gấp khúc cần quản lý toạ độ các điểm đặc trưng của nó. Các
đường cong có dạng hình học cơ bản có thể quản lý các yếu tố đặc trưng.
Tuy nhiên trên thực tế đo đạc nói chung và đo đạc địa chính nói riêng thường
xác định đường cong bằng cách chia nhỏ đường cong tới mức các đoạn nhỏ
của nó có thể coi là đoạn thẳng và nó được quản lý như một đường gấp khúc.
-
Thửa đất: Là yếu tố đơn vị cơ bản của đất đai. Thửa đất là một mảnh tồn tại
ở thực địa có diện tích xác định, được giới hạn bởi một đường bao khép kín,
thuộc một chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng nhất định. Trong mỗi thửa đất có thể
có một hoặc một số loại đất. Đường ranh giới thửa đất ở thực địa có thể là
con đường, bờ ruộng, tường xây, hàng rào... hoặc đánh dấu bằng các dấu
mốc theo quy ước của các chủ sử dụng đất. Các yếu tố đặc trưng của thửa đất
là các điểm góc thửa, chiều dài các cạnh thửa và diện tích của nó.
-
Thửa đất phụ: Trên mỗi thửa đất lớn có thể tồn tại các thửa nhỏ có đường
ranh giới phân chia không ổn định, có một số phần được sử dụng vào các
mục đích khác nhau, trồng cây khác nhau, mức tính thuế khác nhau, thậm chí
thường xuyên thay đổi chủ sử dụng đất. Loại thửa này gọi là thửa đất phụ
hay đơn vị tính thuế.
-
- Cơ sở toán học của bản đồ: Theo quy định hiện nay của bản đồ địa chính
được thành lập trên cơ sở hệ quy chiếu và hệ toạ độ quốc gia VN-2000.
Bán trục lớn a = 6378137.0 m
Bán trục nhỏ b = 6356752.31 m
Độ dẹt ∝ = 1/2982572
Elipxoid WGS - 84 với các thông số định vị phù hợp lãnh thổ Việt Nam.
Điểm gốc của hệ tọa độ mặt phẳng (điểm cắt giữa kinh tuyến trục của từng tỉnh và
xích đạo) có X = 0 km, Y = 500 km. Điểm gốc đặt tại Hòn Dấu - Hải phòng
Bản đồ địa chính thường có nhiều tỷ lệ khác nhau.
- Tỷ lệ 1/1000,1/2000,1/5000,1/10.000 sử dụng múi chiếu 3o
- Tỷ lệ 1/200,1/500 sử dụng múi chiếu 1,5 o Lưới khống chế mặt bằng để
thành lập bản đồ địa chính hiện nay sử dụng lưới hạng cao và lưới tam giác hạng
I,II,III,IV và lưới đường chuyền hạng II,III,IV nhà nước tiếp đến là lưới địa chính
cấp 1, 2, dưới nữa là tam giác nhỏ, đường chuyền kinh vĩ.
- Điểm khống chế tọa độ và độ cao: Trên bản đồ cần thể hiện đầy đủ các
điểm khống chế tọa độ và độ cao nhà nước các cấp, lưới tọa độ địa chính cơ sở, lưới
tọa độ địa chính cấp 1, cấp 2 và các điểm khống chế đo vẽ có chôn mốc để sử dụng
lâu dài. Đây là yếu tố dạng điểm cần thể hiện chính xác đến 0.1mm trên bản đồ.
- Địa giới hành chính các cấp: Để thể hiện chính xác đường địa giới quốc
gia, địa giới hành chính các cấp tỉnh, huyện, xã, các mốc giới hành chính, các điểm
đặc trưng của địa giới. Khi đường địa giới hành chính cấp thấp trùng với đường địa
15
giới cấp cao hơn thì biểu diễn đường địa giới cấp cao. Các đường địa giới phải phù
hợp với hồ sơ địa giới đang được lưu trữ trong các cơ quan quản lý nhà nước.
- Ranh giới thửa đất: Thửa đất là yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính. Ranh
giới thửa đất được thể hiện trên bản đồ bằng đường viền khép kín dạng đường gấp
khúc hoặc đường cong. Để xác định vị trí thửa đất cần đo vẽ chính xác các điểm đặc
hoạch, chỉ giới quy hoạch, hành lang an toàn giao thông, hành lang bảo vệ đường
điện cao thế, bảo vệ đê điều.
- Địa vật quan trọng: Trên bản đồ địa chính thể hiện các địa vật quan trọng
có ý nghĩa định hướng như cột cờ, ăng ten...
2.1.3. Các phép chiếu phổ biến
Thực tế hiện nay có hai lưới chiếu đẳng góc có khả năng sử dụng cho bản đồ
địa chính Việt Nam đó là lưới chiếu Gauss và UTM. Sơ đồ múi chiếu và đặc điểm
biến dạng của hai phép chiếu Gauss và UTM như sau
- Phép chiếu Gauss – Kruger
Lưới này được thiết lập theo các điều kiện sau:
* Thể elipxoid quả đất Kraxovski (1946) với:
- Bán trục lớn a=6378245m
- Bán trục nhỏ b=6356863.01877m
- Độ dẹt a=1/298.3
* Hằng số lưới chiếu k=1000 tức là tỷ số chiều dài trên kinh tuyến giữa
không thay đổi (m=1)
* Bề mặt của elipxoid quả đất được chia ra các múi có kinh độ bằng nhau: 60
múi mỗi múi 60 (hoặc 120 múi mỗi múi 30). Mỗi múi được ký hiệu bằng chữ số Ả
17
rập đến 60. Biến dạng lớn nhất ở vùng gần kinh tuyến biên của hai múi chiếu và gần
xích đạo.
- Phép chiếu UTM
Lợi thế cơ bản của lưới chiếu UTM là biến dạng qua phép chiếu nhỏ và
tương đối đồng nhất. Ngày nay nhiều nước phương Tây và trong vùng Đông Nam Á
dùng múi chiếu UTM và Elipxoid WGS84. Ngoài ưu điểm cơ bản là biến dạng nhỏ,
nếu dùng múi chiếu UTM sẽ thuận lợi hơn trong công việc sử dụng một số công
10, tiếp sau là dấu gạch nối (-), 03 số tiếp là 03 số chẵn km của tọa độ X, 03 chữ số
sau là 03 số chẵn km của tọa độ Y của điểm góc trái phía trên khung trong tiêu
chuẩn của mảnh bản đồ địa chính.
- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000
Chia mảnh bản đồ địa chính tỷlệ1:10000 thành 04 ô vuông, mỗi ô vuông có
kích thước thực tế là 3 x 3 km tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ
1:5000. Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000
là 60 x 60 cm, tương ứng với diện tích là 900 ha ngoài thực địa. Số hiệu của mảnh
bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 gồm 06 chữ số: 03 số đầu là 03 số chẵn km của tọa độ
X, 03 chữ số sau là 03 số chẵn km của tọa độ Y của điểm góc trái phía trên khung
trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính.
- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000
Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 thành 09 ô vuông, mỗi ô vuông có
kích thước thực tế 1 x 1 km tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000.
Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 là
50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 100 ha ngoài thực địa.
Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 9 theo nguyên
tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Số hiệu của mảnh bản đồ địa chính tỷ
lệ1:2000 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ1:5000, gạch nối (-) và số thứ
tự ô vuông.
- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000
19
Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 thành 04 ô vuông, mỗi ô vuông có
kích thước thực tế 0,5 x 0,5 km tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ
1:1000.
Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000 là
50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 25 ha ngoài thực địa. Các ô vuông được đánh
- Đo vẽ bản đồ địa chính trực tiếp trên thực địa bằng các loại máy toàn đạc
điên tử và máy kinh vĩ thông thường
- Đo vẽ bản đồ địa chính trên cơ sở ảnh chụp máy bay (ảnh hàng không) kết
hợp với đo vẽ trực tiếp trên thực địa (phương pháp đo vẽ ảnh phối hợp với bình đồ
ảnh, ảnh đơn).
- Phương pháp biên tập, biên vẽ và đo vẽ bổ sung chi tiết trên bản đồ địa
chính cùng tỷ lệ.
Trong ba phương pháp thành lập bản đồ địa chính trên, quá trình thành lập
bản đồ địa chính thường được thực hiện qua hai bước.
Bước 1: Đo vẽ, thành lập bản đồ gốc (bản đồ địa chính cơ sở).
Bước 2: Biên tập, đo vẽ bổ sung, thành lập bản vẽ gốc theo đơn vị hành
chính cấp xã (gọi tắt là bản đồ địa chính).
2.2.2. Thành lập bản đồ địa chính bằng phương pháp biên tập, biên vẽ và bổ
sung chi tiết từ bản đồ địa hình cùng tỷ lệ
Phương pháp này thực chất là biên tập lại các yếu tố nội dung bản đồ địa
hình phù hợp với nội dung bản đồ địa chính cơ sở và hiệu chỉnh các yếu tố nội dung
bản đồ địa chính ở mỗi thời điểm đo vẽ.
Phương pháp này chỉ áp dụng để bổ sung các yếu tố ở khu vực đất nông
nghiệp, khu trồng cây công nghiệp và đất chưa sử dụng ở khu vực đồi núi, khu vực
duyên hải ở tỷ lệ nhỏ. Phương pháp này là phương án chính để kiểm tra diện tích tự
nhiên đối với các xã vùng núi, núi cao, vùng sâu, vùng xa, các đảo và khu vực chưa
có điều kiện đo vẽ bản đồ địa chính chính quy.
2.2.3. Phương pháp thành lập bản đồ địa chính bằng ảnh hàng không (phương
pháp không ảnh)
Trong phương pháp không ảnh, bản đồ được thành lập trên cơ sở ảnh chụp từ
máy bay. Phương pháp không ảnh chủ yếu dùng để thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ
1/2000 đến 1/25000 cũng có thể áp dụng cho tỷ lệ 1/1000 nếu đó là khu vực ít bị
che khuất.
Ưu điểm: Phương pháp không ảnh đã khắc phục được những khó khăn của
sản xuất trong điều kiện dã ngoại, giảm chi phí và có thời gian sản xuất. Khi đo vẽ
22
Lập sổ mục kê và các biểu tổng hợp diện tích
2.3. Thành lập lưới khống chế trắc địa
2.3.1. Khái quát về lưới tọa độ địa chính
Lưới khống chế địa chính là lưới khống chế mặt bằng được thành lập trên các
vùng lãnh thổ khác nhau nhằm mục đích để đo vẽ bản đồ địa chính tỷ lệ 1: 5000; 1:
2000; 1: 1000 ở các vùng nông thôn và tỷ lệ 1: 500; 1: 200 ở các vùng đô thị.
Lưới khống chế địa chính được tính toán trong hệ tọa độ nhà nước, dùng các
điểm tọa độ nhà nước hạng cao làm điểm khởi tính. Khi xây dựng lưới tọa độ địa
chính cần đo nối với các điểm khống chế nhà nước.
Hiện nay, lưới tọa độ địa chính hạng I, hạng II phủ trùm toàn bộ lãnh thổ
quốc gia, được đo đạc với độ chính xác cao, đã được xử lý tổng hợp với các số liệu
khác nên đảm bảo tính thống nhất và hệ thống trên phạm vi cả nước. Lưới tọa độ
hạng III và hạng IV đã được xây dựng ở một số vùng , đảm bảo độ chính xác và mật
độ điểm để đo vẽ bản đồ địa chính ở khu vực nông thôn và đất lâm nghiệp. Tuy
nhiên vai trò thực tế của lưới tọa độ này bị hạn chế vì mất mát và hư hỏng nhiều.
Lưới tọa độ địa chính được xác định nhờ 3 cấp trung gian dựa vào lưới hạng
I và lưới hạng II nhà nước đó là: Địa chính cơ sở, địa chính cấp 1, địa chính cấp 2
sau đó phát triển bằng lưới đo vẽ 1 hoặc 2 cấp.
2.3.2. Những yêu cầu kĩ thuật cơ bản của lưới đường chuyền kinh vĩ
Bảng 1.1: Các chỉ tiêu kỹ thuật của đường chuyền kinh vĩ
STT Tỷ lệ bản đồ
1
2
[S] max (m)
KV1
KV2
5
5
** Ghi chú: KV1 là đường chuyền kinh vĩ 1
fS/[S]
KV1
KV2
1:4000
1:2500
1:4000
1:4000
1:4000
1:4000
1:2000
1:2000
1:2000
1:2000
23
Với lưới đường chuyền, chiều dài lớn nhất từ điểm gốc đến điểm nút, giữa
các điểm nút giữa các điểm nút phải nhỏ hơn 2/3 chiều dài đường chuyền đã quy
định ở bảng trên.
Chiều dài cạnh đường chuyền không quá 400m và không ngắn 20m.
Chiều dài cạnh liền kề nhau của đường chuyền không chênh nhau quá 2,5
lần, số cạnh trong đường chuyền không quá 15 cạnh cho tỷ lệ từ 1/500 đến 1/5000.
25
Cấu tạo của máy toàn đạc điện tử là sự ghép nối giữa 3 khối chính là máy đo
xa điện tử EDM, máy kinh vĩ số DT với bộ vi xử lý trung tâm CPU (Central
Processing Unit- Microprocessor).
Đặc trưng cơ bản của khối EDM là xác định khoảng cách nghiêng D từ điểm
đặt máy đến điểm đặt gương phản xạ (điểm chi tiết), còn đối với kinh vĩ số DT là
các định trị số hướng ngang (hay góc bằng) và góc đứng v (hay thiên đỉnh z). Bộ vi
xử lý CPU cho phép nhập các dữ liệu như hằng số máy (K), số liệu khí tượng môi
trường đo (nhiệt độ, áp xuất), toạ độ và độ cao (X, Y, H) của trạm đặt máy và của
điểm định hướng, chiều cao máy (im), chiều cao gương (lg). Nhờ sự trợ giúp của
các phần mềm tiện ích cài đặt trong CPU mà với các dữ liệu trên sẽ cho ta số liệu
toạ độ và độ cao của điểm chi tiết. Số liệu này có thể được hiển thị trên màn hình
tinh thể, hoặc lưu trữ trong bộ nhớ trong (RAM- Random Access Memory) hoặc bộ
nhớ ngoài (gọi là field book - sổ tay điện tử) và sau đó được trút qua máy tính. Việc
biên tập bản đồ gốc được thực hiện nhờ các phần mềm chuyên dụng của các thông
tin địa lý (GIS) cài đặt trong máy tính.
2.4.2.2 Quy trình đo vẽ chi tiết và sử lý số liệu tại máy toàn đạc điện tử
- Công tác chuẩn bị máy móc
Tại một trạm đo cần có một máy toàn đạc điện tử, một bộ nhiệt kế và áp kế
(có một số máy tự cảm ứng mà không cần đo nhiệt độ, áp xuất), một thước thép 2m
để đo chiều cao máy và gương phản xạ. Tại điểm định hướng, để đảm bảo độ chính
xác phải có giá ba chân gắn bảng ngắm hoặc gương phản xạ với bộ cân bằng dọi
tâm quang học. Tại các điểm chi tiết có thể dùng gương sào. Các máy móc thiết bị
phải được kiểm nghiệm và điều chỉnh.
- Trình tự đo
Tại điểm định hướng B, tiến hành cân bằng và dọi tâm chính xác bảng ngắm
hoặc gương.